GIỚI THIỆU VỀ ĐẠO PHẬT

Thứ hai - 06/05/2019 15:43
Sổ tay Tình nguyện viên

GIỚI THIỆU VỀ ĐẠO PHẬT

 
  1. ĐẠO LÝ CĂN BẢN CỦA PHẬT GIÁO
-      Giới thiệu về vị giáo chủ khai sáng ra đạo Phât: Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
-      Những giáo lý căn bản của đạo Phật: Luật Nhân Quả, Tứ Thánh Đế
-      Những đạo đức căn bản của đạo Phật: tôn kính Phật, từ bi, khiêm cung, vị tha, vô ngã
Trên thế giới có nhiều vị giáo chủ khai sáng ra các tôn giáo khác nhau, nhưng duy nhất chỉ có một vị mà Liên Hiệp quốc đã lấy ngày sinh của Người làm ngày biểu tượng của văn hóa và tôn giáo của thế giới, gọi là ngày VESAK (có nghĩa là kỷ niệm ngày Tam Hợp: Đản sanh- Thành đạo và Niết Bàn). Đó là Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.
Nhân dịp Đại Lễ Vesak 2014 được tổ chức tại Việt Nam, đây là cơ hội để chúng ta tìm hiểu thêm về lịch sử của Đức Phật Thích Ca cũng như những giáo lý căn bản, những đạo đức căn bản của Phật giáo.
    1. Đức Phật là ai?
Đức Phật là một nhân vật có thật trong lịch sử.
Vào ngày tròn tháng Vesak (tương đương khoảng tháng 4 âm lịch của Việt Nam) năm 624 trước công nguyện, đức Phật Đản sanh tại vườn Lumbini thuộc Trung Ấn Độ, nay là nước Nepal. Ngài là Thái tử tên Siddhartha (Sĩ Đạt Đa), con vua Sudhodana (Tịnh Phạn), thuộc dòng tộc Gotama, nước Ca Tỳ La Vệ.
Từ nhỏ Ngài đã biểu hiện một trí tuệ phi thường, lòng từ bi bao la và luôn trăn trở đi tìm sự giác ngộ giải thoát tuyệt đối cho chúng sinh. Năm 12 tuổi, Ngài ngồi thiền dưới bóng cây da trong lễ hạ điền và chứng được Sơ thiền.
Để ràng buộc Ngài, Vua cha đã cưới công nương Baddakaccana (Gia Du Đà La) cho Ngài vào đâu năm 29 tuổi và sinh ra một người con trai tên là Rahula (La Hầu La). Sau đó, Ngài từ bỏ kinh thành, từ giã vợ con vượt thành xuất gia trong đêm 8/2. 
Sau 6 năm tầm sư học đạo, Ngài nhận thấy việc tu học theo lối khổ hạnh không mang lại sự an tịnh nội tâm và giải thoát nên đã chọn con đường Trung đạo qua việc tu tập thiền định. Trong suốt 49 ngày đêm ngồi thiền định dưới cội cây Tất Bát La (nay gọi là cây Bồ Đề), tại Bodh Gaya (Bồ Đề Đạo Tràng) và chứng đắc Phật quả với đầy đủ tam minh vào lúc 35 tuổi.
Đức Phật đạt được sự giải thoát tuyệt đối, biểu lộ tâm từ bi trọn vẹn trong tư cách, trong đời sống. Qua nhiều kiếp sống, Ngài đã làm mọi điều lợi ích cho chúng sinh với lòng thương yêu vô hạn. Và ngày nay, chúng ta vẫn đang được tình thương yêu của Người chở che, bao bọc.
Sau khi đắc đạo, Đức Phật đã giảng về lý Trung Đạo, Tứ Diệu Đế, Vô Ngã Tướng tại Vườn Nai cho 5 anh em ngài Kiều Trần Như và chứng đắc Thánh quả, trở thành5 vị đệ tử đầu tiên của đức Phật.
Ngài đi khắp nơi truyền dạy giáo lý giác ngộ cao siêu này cho nhân loại trong suốt 45 năm, rất nhiều đệ tử của đức Phật cũng đạt được sự đắc đạo phi thường.
Ngày 15/2 năm 544 trước Công nguyên, đức Phật nhập Niết Bàn tại rừng Sala Song Thọ.”
Trải qua hơn 2500 năm lịch sử, những bài pháp vô giá, những lời dạy thiêng liêng cao quý của Ngài vẫn còn nguyên giá trị. Càng về sau thì các nhà trí thức trên thế giới càng ca ngợi đạo Phật, khoa học càng tiến bộ thì người ta càng khâm phục đức Phật khi thấy rằng hơn 2000 năm trước mà có một người trên hành tinh này đã nói được những điều chuẩn xác cao siêu như thế. Nhà bác học Einstein: “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ… có khả năng bao trùm cả tự nhiên lẫn tâm linh… và đạo Phật đáp ứng được sự mô tả này… Nếu như tồn tại một tôn giáo có thể đồng thuận với những đòi hỏi cấp bách của khoa học hiện đại thì đó chính là Phật giáo”
Chúng ta tôn kính Ngài vì Ngài vượt lên tất cả về trí tuệ và đức hạnh, là bậc Đạo sư sáng suốt trên cuộc đời. Chúng ta đã khẳng định đạo Phật là chân lý, mang lợi ích vô lượng cho chúng sinh thì chúng ta phải bằng mọi cách nỗ lực làm cho mọi người biết đến Phật Pháp và đem Phật Pháp đến với mọi người.
    1. Giáo lý căn bản của Đạo Phật:
a. Luật Nhân Quả
Luật Nhân Quả là giáo lý căn bản nhất của đạo Phật. Toàn bộ giáo lý sâu sắc của đạo Phật từ thấp đến cao đều đặt trên nền tảng của luật Nhân Quả. Khi chúng ta đến với Phật pháp, dù là để tìm hiểu, tham khảo hay đến với quyết tâm tu tập thì trước hết phải hiểu đúng về luật Nhân Quả.
Luật Nhân Quả là một nguyên lý tự nhiên của vũ trụ, không do ai sáng tạo ra, tồn tại khách quan và công bằng tuyệt đối. Tất cả mọi sự việc xảy ra trong vũ trụ, trong cuộc đời, trên thế giới hoặc trong kiếp sống của mỗi con người đều có nguyên nhân, không hề là chuyện ngẫu nhiên xuất hiện. Những việc chúng ta làm ở hiện tại sẽ phát sinh kết quả ở thời gian sau, trong kiếp này hay kiếp khác.
Nếu ta đã lỡ làm cho ai phải đau khổ thì quả báo đau khổ sẽ quay trở lại với chính ta. Ngược lại, khi ta mang đến cho ai niềm vui thì cũng sẽ nhận lại được niềm vui rất lâu. Nhân Quả luôn luôn là như vậy, một hạt lúa giống gieo xuống thành một cây lúa ra rất nhiều hạt lúa. Một hạt xoài ươm xuống qua năm hay mười năm sau ta thu hoạch được hàng nghìn quả xoài ăn mãi không hết. Đó là sự công bằng của Nhân Quả. Nếu chúng ta hiểu và tin luật Nhân Quả một cách đúng đắn, chúng ta sẽ tránh được mê tín và làm cho cuộc đời mình tốt đẹp hơn.
Khi chúng ta hiểu về Nhân Quả sâu sắc, ta sẽ biết tránh làm những việc ác, không sống hời hợt, ích kỷ, chỉ biết lo cho riêng mình. Ta biết kiểm soát từng việc làm, từng ý nghĩ, từng lời nói của mình trong cuộc sống hàng ngày, luôn mong muốn đem niềm vui đến cho mọi người . Đó cũng là nhân lành cho những kiếp mai sau.
Nếu có thật nhiều người tin hiểu Luật Nhân Quả thì chắc chắn xã hội này sẽ rất an vui vì không ai nỡ làm khổ ai. Thiên đường không ở đâu xa mà chính là ở nơi có những con người tin hiểu Nhân Quả, biết sống đẹp, sống tử tế với nhau.
    1. Đạo đức căn bản của Đạo Phật
a. Tâm từ
Tâm từ hay thường được gọi chung là từ bi, là tình thương không điều kiện, không đòi hỏi phải được đáp trả trở lại, tình thương này không giới hạn trong một số ít người mà luôn có khuynh hướng trải rộng vô tận.
Người có tâm từ luôn muốn giúp đỡ quên mình, xót xa trước những nỗi khổ của tha nhân, vui mừng trước hạnh phúc của người, biết tha thứ trước những lỗi lầm của người khác. Đến với người có tình thương lớn, chúng ta luôn cảm thấy tươi mát, dễ chịu. Nhà thơ Goethe có câu nói nổi tiếng: “ Đứng trước một bộ óc vĩ đại, tôi cúi đầu; đứng trước một trái tim vĩ đại, tôi quỳ xuống”. Goethe đã đại diện cho cả nhân loại để bày tỏ một nguyên lý: đối với tài năng lớn, người ta sẽ rất nể phục; nhưng người ta chỉ thật sự tôn kính, ngưỡng mộ, thương quý đối với người có tấm lòng thương yêu rộng lớn.
b. Khiêm hạ
 Luôn có thái độ tôn trọng người khác qua lời nói và cử chỉ một cách chân thành và tự nhiên: ăn nói nhẹ nhàng, ân cần, kính cẩn, có nhiều tiếng dạ thưa đi kèm. Biết cúi chào, đưa và nhận bằng hai tay, khẽ cúi đầu khi buộc phải đi qua trước mặt người khác…
Xưng hô cẩn trọng với những đại từ thích hợp
Biết lắng nghe ý kiến của người khác một cách chăm chú.
Người khiêm hạ dễ nhìn thấy ưu điểm của người để học hỏi
Luôn thấy mình nhỏ bé,  không quan trọng.
Biết vui mừng, khen ngợi trước thành công của người khác
  1. GIÁ TRỊ CỦA ĐẠO PHẬT
Thế giới ngày nay đang chứng kiến sự phát triển với tốc độ chóng mặt của khoa học kỹ thuật, con nguời có nhiều thứ để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Bên cạnh đó, những giá trị đạo đức bị mai một, chiến tranh xung đột giữa các quốc gia chưa ngày nào lắng xuống, con người sống trong sự bất an lo sợ, sự tham lam ích kỉ là nguồn gốc của binh đao. Đạo Phật với tinh thần từ bi và bình đẳng đã và sẽ đóng góp 2 lĩnh vực mà thế giới đang rất cần là đạo đức và sự bình an của nội tâm.
  1. Giá trị của Đạo Phật với con người
    1. Đối với cá nhân:
  1. Hóa giải những phiền muộn bế tắc trong cuộc sống, con người sống yêu đời hơn, sống có ý nghĩa hơn và hướng đến lý tưởng sống cao đẹp:
Giáo lý nhân quả của đạo phật cho ta hiểu được rằng sự giàu sang, hạnh phúc, khổ đau của mỗi người là kết quả của Nghiệp trong quá khứ, không ai ban phước giáng họa cho ai, mà chính ta phải chịu trách nhiệm về cuộc đời mình. Do vậy, ta không còn muộn phiền, biết hướng đến tương lai, sống có ý nghĩa trong hiện tại, và xác định cho mình một lý tưởng sống tốt đẹp, từ bỏ những ham muốn tầm thường.
  1. Biết yêu thương và tôn trọng, yêu thiên nhiên, có ý thức bảo vệ môi trường.
Tinh thần từ bi bao la của Đạo Phật hướng con người đến lối sống vị tha, sống vì người khác, trân trọng mạng sống của tất cả muôn loài, từ bỏ lối sống ích kỉ chỉ biết lo cho mình. Khi ta yêu thương và tôn trọng người khác thì quả báo trở lại ta cũng được yêu  thương và trân trọng.
  1.  Có bản lĩnh vượt qua những cám dỗ trong cuộc sống
Trước những cám dỗ, những trò vui, sự hưởng thụ, nếu không có bản lĩnh con người dễ đánh mất mình mà dấn sâu vào tội lỗi. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi còn là một Thái tử, Ngài đã từ bỏ tất cả danh vọng thế gian, xem danh vọng chỉ như bụi qua kẽ hở để tìm đến sự bình lặng trong tâm hồn. Đó mới là giá trị trường tồn vĩnh cửu. Giáo lý vô thường giúp chúng ta hiểu được rằng tình cảm, tài sản, danh vọng, địa vị... là tạm bợ, mong manh nên không chạy theo  những điều hư ảo đó và không đau khổ khi mất nó. Đến với giáo lý Đạo Phật ta tự biết làm hòn đảo nương tựa cho chính mình, nỗ lực tự thân để tránh xa những ham muốn thấp hèn. Cũng nhờ sức định của nội tâm mà trí tuệ phát sinh, ta dễ dàng phân biệt thiện ác đúng sai mà  không có những hành động sai lầm, tội lỗi.
  1. Giá trị bản thân được tăng lên
Khi hiểu rõ nhân quả ta sẽ nỗ lực làm phước, chính phước sẽ làm nên giá trị của mỗi người và nó sẽ theo ta trong vô lượng kiếp luân hồi.
  1.  Con người sống có trách nhiệm hơn với chính mình, gia đình, bạn bè.
Thói thường con người ta chỉ quan tâm đến mình, làm mọi việc để tìm vui và hạnh phúc cho riêng mình mà thờ ơ với mọi người xung quanh. Đức Thích Ca Mâu Ni đã từ bỏ hạnh phúc riêng mà đi tìm niềm vui cho nhân loại, giúp con người thoát khổ. Ngày nay chúng ta hướng đến giáo lý Đạo Phật là học theo lối sống của người.
  1. Hướng đến giá trị Chân- Thiện- Mỹ,
Biết nhận ra lỗi lầm quá  khứ và tránh được lầm lỗi trong hiện tại, thanh lọc nội tâm, trí tuệ tăng trưởng nhờ nhiếp tâm trong thiền định. Khi tâm vắng lặng thì trí tuệ phát sinh. Lý nhân duyên của đạo Phật giúp con người dễ dàng thích ứng với những biến động của cuộc đời.
  1. Với những ai yêu thích khoa học thì Đạo Phật là chìa khóa giải mã những điều bí ẩn.
Như lời nhà khoa học Einstein đã nói “Nếu có tôn giáo nào đáp ứng được nhu cầu của khoa học thì đó chỉ có thể là Phật Giáo”. Có những điều bí ẩn trong cuộc sống mà khoa học chưa khám phá được. Ví dụ từ hơn 2000 năm trước, Đức Phật đã quán chiếu và nhìn thấy rằng có những chúng sinh rất nhỏ, mắt thường không nhìn thấy được, thì sau này khoa học nghiên cứu và đã tìm ra những sinh vật nhỏ bé và gọi tên là vi khuẩn. Đức Phật đã từng nói “hằng sa số cõi”- nghĩa là ngoài sự sống của hành tinh này, còn có rất nhiều sự sống ở những hành tinh khác mà ngày nay khoa học mới dần khám phá ra.
2.3. Đối với xã hội
Nếu đạo Phật chỉ đem lại lợi ích cho cá nhân mỗi người thì nó không có được sức sống trường tồn. đạo Phật đem lại lợi ích cho toàn thể nhân loại.
Mỗi cá nhân là một tế bào của xã hội, khi một người được an vui thì gia đình, xã hội cũng được an vui.
Khi con người biết sống từ bi, đạo đức tăng trưởng thì các tệ nạn xã hội như trộm cắp, lừa đảo,...được giảm dần
Hóa giải những xung đột hận thù, giảm nguy cơ chiến tranh
Đạo Phật là nền tảng tạo nên nguồn sức mạnh, tinh thần đoàn kết để xây dựng đất nước vững mạnh về kinh tế, ổn định về chính trị
Đạo Phật là đạo bình đẳng, không còn sự phân biệt giai cấp, giàu nghèo, con người sống gần gũi với nhau hơn
Đạo Phật góp phần tạo nên hòa bình thế giới bởi giáo lý kêu gọi sự sống vị tha, vô ngã, và biết thương yêu hết mọi loài chúng sinh.
Thiền định của đạo Phật giúp con người tăng trưởng trí tuệ, hoàn thiện nhân cách, giảm stress
2.4. Giá trị của Đạo Phật đối với môi trường
Một trong những nội dung của đạo Phật là khuyến khích ăn chay. Nhờ ăn chay mà lòng từ bi được nuôi dưỡng, không sát sanh hại vật. Nhân quả từ việc không sát sanh là không còn hận thù, không còn chiến tranh. Do đó sẽ không phải mất chi phí cho việc sản xuất vũ khí, chi phí đó sẽ được đầu tư cho giáo dục, y tế và các hoạt động nhân đạo khác. Cuộc sống cũng từ đó mà yên vui, hạnh phúc.
Nhờ bài học nhân quả, con người biết sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên: điện, nước, gas ...để dự trữ lâu dài. Con người sống hòa hợp với thiên nhiên.
Người theo đạo Phật biết tôn trọng sự sống của mọi loài như cỏ cây chim thú nên sự cân bằng sinh thái được ổn định, giảm thiểu thiên tai.
Một điều bí ẩn được giải mã là khi con người sống đạo đức, yêu thương nhau, vị tha, biết phụng sự cuộc đời....thì những điều bất an từ thiên tai, sóng thần sẽ không còn nữa.
  1. Ý NGHĨA ĐẠI LỄ VESAK ĐỐI VỚI THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
    1. Giới thiệu sơ lược về Vesak:
Ngày 15 tháng 12 năm 1999, để tôn vinh giá trị đạo đức, văn hóa, tư tưởng hòa bình, đoàn kết hữu nghị của đức Phật, Đại Hội đồng Liên Hiệp quốc tại phiên hợp thứ 54, mục 174 của chương trình nghị sự đã chính thức công nhận Đại lễ Vesak là một lễ hội văn hóa, tôn giáo quốc tế của Liên Hiệp Quốc.
Việt Nam được chọn làm điểm tổ chức Vesak 2019 vì:
- Việt Nam là đất nước hòa bình, có nền chính trị ổn định.
- Hiện tại, Phật giáo ở Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, gần như trở thành một quốc giáo. Phật giáo đã đồng hành cùng dân tộc Việt Nam từ lâu đời. (Văn hóa Phật giáo đã in sâu vào tiềm thức của người dân Việt Nam từ xa xưa cho đến ngày nay).
- Việt Nam đã tổ chức thành công Vesak lần đầu tiên vào năm 2008 và lần thứ hai vào năm 2014.
- Về mặt tâm linh lịch sử: Hơn 1000 năm về trước, tại Ninh Bình đã có ba triều đại Vua nối tiếp nhau: nhà Đinh, nhà Tiền Lê và nhà Lý đều coi đạo Phật là Quốc giáo và hết sức tạo điều kiện cho đạo Phật phát triển, nên tại Ninh Bình có rất nhiều chùa cổ, trong đó có chùa Bái Đính. Tại đây cũng đã từng diễn ra 2 buổi lễ có ý nghĩa rất lớn đối với lịch sử dân tộc: lễ đăng đàn xã tắc của Đinh Tiên Hoàng Đế và lễ tế cờ của Vua Quang Trung trên núi Đính trước giờ xung trận.
3.2. Ý NGHĨA VESAK ĐỐI VỚI THẾ GIỚI:
Đối với những người đệ tử Phật: lòng tôn kính Phật và đạo tâm tăng trưởng.
Đối với du khách đến dự lễ: có niềm tin vào các giá trị tốt đẹp của Phật giáo.
Là cơ hội để Phật giáo khắp thế giới cùng nhau xây dựng cuộc sống hữu nghị, hoà bình vì hạnh phúc của con người.
Khẳng định giá trị của đạo Phật đối với tâm linh và hòa bình của nhân loại.
Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hoá thế giới, di sản văn hoá Phật giáo cấp thế giới và quốc gia. (giới thiệu hình ảnh Bái Đính).
Phát huy tinh thần phụng sự, vị tha của đạo Phật
3.3. Ý NGHĨA VESAK ĐỐI VỚI VIỆT NAM
a. Ý nghĩa đối với Phật giáo Việt Nam
Cầu nối giữa Phật giáo Việt Nam với Phật giáo thế giới.
Thể hiện đạo Phật đồng hành dân tộc (nhà nước hỗ trợ tổ chức).
Khẳng định với thế giới về tinh thần đoàn kết các tông phái trong đạo Phật.
b. Ý nghĩa đối với kinh tế văn hóa xã hội
Tạo ấn tượng về hình ảnh đất nước và con người Việt Nam hiền lành, mến khách, thân thiện, yêu chuộng hòa bình. (Mỗi người về phục vụ Vesak cũng góp phần làm đẹp thêm hình ảnh của đất nước mình. Chúng ta làm vì danh dự của đất nước và của đạo pháp.)
Tạo mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp đối với các nước.
Giới thiệu chùa Bái Đính với thế giới và vận động UNESCO công nhận quần thể danh thắng Tràng An (Ninh Bình) là Di sản thiên nhiên thế giới.
Góp phần tích cực phát triển du lịch và đầu tư kinh tế vào Việt Nam.
  1. CÔNG ĐỨC CỦA NGƯỜI PHỤC VỤ ĐẠI LỄ VESAK
Đại lễ Vesak là một lễ lớn trong Đạo Phật. Năm nay, Việt Nam vinh dự đăng cai tổ chức, do đó sự thành công của đại lễ có một ý nghĩa vô cùng to lớn đối với đất nước Việt Nam,  Phật giáo nói chung và đối với từng cá nhân mỗi người nói riêng.
4.1. Đối với đất nước:
Mỗi người khi đến phục vụ lễ Vesak đều phải có thái độ phục vụ ân cần, chu đáo, nhẹ nhàng, điềm tĩnh, vui vẻ, thân thiện,…Điều đó được thể hiện như: khi khách đi đường xá xa xôi khi đến chùa đều mong muốn sự ân cần, quan tâm của người phục vụ, nên khi họ đến chùa, mỗi người phục vụ phải nhiệt tình giúp đỡ họ, chỉ cho họ đường đi những nơi cần thiết ( đối với tri khách), chỗ để đồ ăn, nước uống, hay chỗ đi vệ sinh, v.v…trả lời một cách nhẹ nhàng, ân cần chứ không phải trả lời chung chung, hời hợt sơ sài,..hay có thái độ nhăn nhó, khó chịu gây phản cảm cho khách.
Nếu thái độ phục vụ tốt của mỗi người sẽ tạo được ấn tượng rất đẹp đối với mỗi người nước ngoài khi đến với Việt Nam. Như ở Việt Nam có slogan “ Việt Nam - vẻ đẹp tiềm ẩn”. Vẻ đẹp ở đây không phải là sự hào nhoáng phô trương bên ngoài mà chính là vẻ đẹp trong tâm hồn, trong từng ánh mắt, cử chỉ, lời nói của mỗi con người Việt Nam khi đối xử một cách tử tế với nước ngoài.
Thông qua thái độ hình ảnh, phục vụ tốt của người phục vụ lễ VESAK chính là một sự quảng bá tốt đẹp về đất nước và con người Việt Nam.
Mỗi người phục vụ đại lễ Vesak có tấm lòng và trái tim phục vụ tốt như thế thì sẽ có được phước lớn.
4.2. Đối với tôn giáo:
Khi tham gia phục vụ lễ Vesak thì không chỉ riêng cá nhân một người mà phải có nhiều người cùng tham gia mới làm nên sự thành công của đại lễ. Và đây cũng là cơ hội để những người tham gia phục vụ được làm việc nhóm với nhau, thể hiện được tinh thần đoàn kết trong đạo Phật, tinh thần lục hòa, hòa hợp với nhau, nhu thuận với nhau, thể hiện tinh thần tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau trong tình thương yêu thật sự . Chính những tinh thần đó tạo nên sự thành công rất lớn cho buổi lễ, và mỗi người nước ngoài khi đến với Việt Nam, họ sẽ được khơi dậy lại đạo lý của Phật.
Với mỗi người phục vụ tốt như vậy thì sẽ để lại một ấn tượng và cảm xúc lớn cho mỗi người tham gia đại lễ. Đạo Phật ngày càng vững mạnh và phát triển.
4.3. Đối với bản thân cá nhân người phục vụ sẽ được những lợi ích:
Mang lại sự thoải mái, dễ chịu, vui vẻ, yên tâm cho khách=> sau này cũng sẽ được như vậy.
Làm một cách tự nguyện, hi sinh tận tụy, sau này sẽ có được sức khỏe tốt, gặp được nhiều may mắn trong cuộc sống, dễ thành công trong cuộc sống.
Là cơ hội để được phụng sự nhiều người, trau dồi kiến thức, học được nhiều văn hóa, tập quán  của nhiều nước trên thế giới.

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây