9. TRIẾT LÝ NHẬP THẾ CỦA PHẬT GIÁO TRONG VIỆC NUÔI DẠY TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN TẠI CHÙA ĐỨC SƠN, THÀNH PHỐ HUẾ

Thứ sáu - 03/05/2019 05:21
Hoàng Thị Anh Đào
-TS., Giảng viên, Khoa Lịch Sử, Đại học Khoa học Huế, Việt Nam.
131

 
TRIT LÝ NHẬP THẾ CA PHT GIÁO TRONG VIỆC NUÔI DY TRẺ EM
CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN TI CHÙA ĐỨC SƠN, TNH PHỐ HUẾ

Hoàng Thị Anh Đào*


M TẮT
Phật giáo một trong ba tôn giáo thế giới. Ra đời vào thế kỷ VI TCN ở vùng Bắc Ấn Đ (Nepal ngày nay). Trải qua mấy ngàn năm, Phật go ngày ng được truyền bá rộng rãi sang c nước trên thế giới và kng ngng phát trin. Triết lý Pht giáo có nhiu ni dung giàu tính nhân văn, khoa học, trong đó, triết lý nhập thế giúp Phật giáo ngày càng đóng góp rất lớn vào sự phát triển của hội. Bởi lẽ, Phật giáo khuyên con người sống hướng thiện, lấy đức độ, lòng nhân từ để đối nhân xử thế, để cảm hóa cái ác. Đây biều hiệntưởng bác ái, nhân từ của Phật giáo. Chính điều này, màthành phố Huế, chùa Đức Sơn, đã trở thành nơi cứu vớt cho hàng trăm sinh linh những em nhỏ mồ côi, khuyết tật, không nơi nương tựa. Với tấm lòng bao la của mình, các ni trong chùa đã giúp cho các em vơi bớt đi sự thiệt thòi, mặc cảm của bản thân, để từ đó các em trở thành những công dân sống ích cho hội.
Bng phương pháp sử học thực tiễn trong công c hội, bài luận nhằm phân tích triết lý nhập thế của Phật giáo ứng dụng của triết lý này trong việc giúp đỡ hội của những ni trong chùa Đức Sơn. T đó, thấy được sự nhân văn những đóng góp lớn lao của Phật go cho hội trong giai đon hiện nay.


*. TS., Giảng viên, Khoa Lịch Sử, Đại học Khoa học Huế, Việt Nam
.
 


1. KHÁI QUÁT VÀI NÉT VÀ PHÂN TÍCH TRIẾT NHẬP THẾ CỦA PHT GIÁO
Phật giáo được Phật tổ Sidhartha (Thích Đạt Đa), họ Gautama, thái tử vua nước Tịnh Phn, sinh ở Kinh thành Kapilavastumiền Nam Nepal năm 563 TCN. Sau khi thành Phật, được học trò tôn xưng Sakymuni (Thích ca Mâu ni). Cuộc đời của Đức Phật được nhiều u chuyện truyền thuyết kể lại với nhiều chi tiết khác nhau. Rằng Ngài sinh ra trong một gia đình thuộc đẳng cấp Ksatya (đẳng cấp thứ hai trong bốn đẳng cấp của hội Ấn Đ), thuộc một công quốc biên giới giáp với dãy núi cao ẩn Himalaya. Nhờ thuộc đẳng cấp này, nên Ngài được học đủ môn nghệ hiểu biết nhiu triết thuyết đương thời. Truyn thuyết cho rng, khi mới sinh ra, Ngài đã biết đi biết nhảy bước theo bốn hướng, dưới mỗi bước chân Ngài mọc lên một bông sen. Quá trình tu thành Phật của Ngài trải qua thời gian dài, sau đó truyền trong vòng 40 năm (từ lúc Ngài 40 tuổi đến 80 tuổi).
Phật giáo ra đời tuy không tuyên bố tiêu diệt chế độ đẳng cấp Bàlamôn, nhưng trong thực tế phủ nhận chế độ đó. Phật chỉ ra rằng: Không đẳng cấp trong ng máu cùng đỏ, không đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn. Tình thương là sợi y kết nối liền người với người”. Vì đo Phật tuyên truyền về sự bình đẳng giữa c chúng sinh nên đã thu hút nhiều tầng lớp đc biệt tầng lớp dân nghèo đi theo rất đông.
V thế giới quan, quan điểm luân hồi của Phật không phải một vòng luẩn quẩn thoát khỏi vòng luẩn quẩn đó, trở thành giác ngộ cõi Niết bàn. Đặc biệt chú trọng đến tính nhân quá tương dục, nhân quả một chuỗi liên tục không gián đoạn, không hỗn loạn, nghĩa nhân nào quả y, mọi hậu quả đều nguyên nhân, kết quả của một nguyên nhân nào đó sẽ nguyên nhân của một kết quả khác. Phật giáo quan điểm: Vô tạo giả: tất cả mọi sự vật đều tồn tại lâu dài, không nguyên nhân đầu tiên không kết quả cuối cùng, nghĩa không đấng tối cao nào tạo ra trụ. Vô ngã: cái tôi do một số yếu tố vật chất, yếu tố tinh thần cấu tạo nên một cách tạm thời, các yếu tố này gồm ngũ uẩn: sắc (vật chất), thụ (cảm giác), tượng (ấn tượng), hành (phi ), thứcthức) hoặc lục đại (hỏa, thủy, thổ, phong, không, thức. Vô thường không vĩnh hằng, luôn biến đổi, mất đi (sinh, trụ, dị, diệt), tồn tại trong khong thời gian vô tận cũng chỉ chốc
t.
 


V nhân sinh quan, điểm xuất phát của thế giới quan nhân sinh quan hạ thấp thế giới cảm tính trần tục, đem đối lập với thế giới khác trong đó con người phải tìm sự cứu vớt. Khổ đế: chính cuộc sống con người toàn bể khổ nước mt chúng sinh nhiều hơn nước biển, khổ là bn cht của tồn ti. Có ít nht m ni khổ: sinh, lão, bệnh, tử, thụ biệt li, oán tăng hội, sở cầu bất đắc, ngũ thụ uẩn. Tp đế: mọi nỗi khổ đều nguyên nhân của . Diệt đế: mọi cái khổ đều thể diệt được, nếu nguyên nhân của đau khổ dục vọng thì diệt trừ dục vọng, diệt trừ cái tham, sân, si diệt trừ đau khổ, nói các khác tiêu diệt phần khổ đau của cuộc đời. Lúc đó, con người được giải thoát, hoàn toàn tự do, không còn nô lệ nữa. Đạo đế: để diệt trừ dục vọng, đạt tới cõi niết bàn, con người cần một đường lối, một phương pháp. Phương pháp ấy chính đạo đế, con đường diệt khổ. Con đường đó chính hoàn thiện đo đức cá nhân.
V hội, Phật giáo khuyên con người nên sống hướng thiện,đức báo oán, lấy đức độ, lòng nhân từ để đối nhân xử thế, cảm hóa cái ác, giác ngộ những người lầm lạc. Đây chính biểu hiện của tưởng bác ái, nhân từ của Phật giáo. Phật giáo nêu cao tam học: giới, định, tuệ. Giới chính ngăn giữ giới luật, không làm những điều được coi cấm kỵ. Định thiền định, những phương thức tu luyện. Tuệ trí tuệ sáng suốt, chống minh, sự thông tuệ
- kết quả của sự thực hiện giới thiền định. Phật giáo quan niệm rằng, mỗi người đều Phật tính bất kỳ ai cũng thể đến với Phật.
Đánh giá về giáoPhật giáo, H C Minh từng viết: Tôn chỉ mục đích của đạo Phật nhm y dựng cuộc đời thuần m, chí thiện, bình đẳng, yên vui và no m. Nietzch cũng nhận xét: Pht go không kích thích người ta làm chiến tranh chng các tôn giáo khác. Điều cảm động nhất, chính ch giáo nhà Phật chống lạitưởng phục thù hằn học oán ghét1.
Chính quan điểm hướng thiện, lấy lòng nhân từ làm gốc nên Phật giáo luôn quan tâm đến làm việc thiện. Người đến với Phật kng chỉ tu trên sách vhay chỉ tụng kinh nim Pht, mà ngày nay Phật go chú trọng đến triết lý nhp thế, giúp đời.



1. Đặng Văn Chương, 2016, Bài giảng Lịch sử tôn giáo thế giới, Trường Đại học Sư phạm Huế, tr.
33.
 


Điều này xuất phát từ những mối quan hệ vừa nhựa sống, vừa mắt xích kết nối giữa tôn giáo thế tục. Nhu cầu vận dụngtưởng tôn giáo vào giải quyết các vấn đề hội thế tục được coi nhập thế. Mặt khác, tôn giáo nói chung hay Phật giáo không tự sinh ra mà kết quả của chính nhu cầu tinh thn hội thế tục, hình thái ý thức của hội, không tôn giáo nào thể tồn tại phát triển ch rời khỏi hội thế tục.
Với Phật giáo nói chung, tư tưởng nhập thế đã rất sớm, ngay từ thời đức Phật. Riêng Phật giáo Việt Nam thời Lý - Trần biểu hiện của một đỉnh cao trong việc áp dụng thành công triết lý này thông qua hành trạng của các vị vua, quan các vị thiền sư. Nhập thế của Phật go hành động đem đo o đời, truyền trao chân đức Phật đã chứng ngộ tuyên thuyết cho những ai mong cầu hnh phúc hướng đến lộ trình giải thoát m linh trong đời sống hiện thực. Chính lẽ đó, Phật giáo ngày càng phát triển mặt nhiều quốc gia, châu lục trên thế giới. Đ được điều đó, thế hệ nối tiếp thế hệ, những người Phật tử đã tích cực thực hiện tinh thần nhập thế một cách hợp thời hợp lý hiệu quả. Nói cách khác, thành quả này xuất phát từ triết lý nhập thế tích cực của Phật giáo. Trong thời đại ngày nay, xu thế toàn cu hóa, đa phương hóa trên mọi linh vực khoa học, chính trị nền kinh tế tri thức, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ đang từng bước xóa nhòa đi ranh giới văn hóa giữa các cộng đồng, các quốc gia vùng lãnh thổ. Với lịch sử gắn bó hơn 2000 năm với dân tộc Việt Nam, Phật giáo luôn gắn những tinh túy nhất cho đất nước trong mọi lĩnh vực như chính trị, giáo dục, nghệ thuật, y học, tâm linh với nền văn hóa dân tộc. Nối tiếp truyền thống hộ quốc an dân, Phật giáo đóng góp giải quyết nhiều vấn nạn hội Việt Nam đang phải đối mặt như sự xuống cấp về đạo đức lối sống tha hóa của một bộ phận không nhỏ các thành phần hội, sự lạm dụng thái quá vật chất để thõa mãn nhu cầu nhân, đề cao chủ nghĩa tiêu thụ, sự lãng phí phá hủy trong khai thác tài nguyên thiên nhiên, sự vị kỷ, mất đoàn kết dẫn tới sự tâm với quyền lợi cộng đồng… Bằng triết lý nhập thế tích cực góp phn o công cuộc phát triển đất nước bền vững. Phật giáo chú trọng xây dựng con người thông qua những nguyên tắc đạo đức căn bản như không sát sinh, không trộm cắp, không dâm, không nói dối, không uống
rượu
 


Với những nguyên tắc đạo đức vị trí văn hóa của mình, Phật go thể hoàn toàn góp phn o việc định hướng tư duy điều chỉnh hành vi của cộng đồng hội nếu vận dụng những phương thức phù hợp theo tinh thần nhập thế. Trên thực tế, Phật giáo Việt Nam đã đang bền bỉ, dấn thân vào nhiệm vụ xây dựng giá trị đạo đức con người thông qua các hoạt động nổi bật như các khóa tu mùa dành cho thanh thiếu niên, những lớp học đạo đức, những chương trình từ thiện hội, nuôi dạy trẻ em khuyết tật, mồ côitrên khắp mọi miền tổ quốc. 2
Như vậy, tinh thn nhp thế của Phật go đã được thể hiện ngay từ đầu mới du nhập vào Việt Nam. Trải qua dòng lịch sử, triết lý này càng đậm nét hơn, thực tiễn hơn hòa nhập vào hội Việt Nam như một phần không thể thiếu của văn hóa dân tộc Việt Nam.
2. TỪ TRIẾT LÝ ĐẾN HOT ĐỘNG THỰC TIỄN - QUA NGHIÊN CỨU QUÁ TNH NUÔI DY CÁC TRẺ EM M I, KHUYẾT TT CỦA CÁC NI CÔ CHÙA ĐỨC SƠN, THÀNH PHỐ HUẾ
Trên tinh thần triết lý nhập thế của Phật giáo, những nữchùa Đức Sơn (thành phố Huế) đã dành cả cuộc đời của mình để nuôi dạy những trẻ em hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, góp phần giúp đỡ giải quyết những vấn đề khó khăn của hội biểu tượng cao đẹp của những con người trong giới nhà Pht.
Chùa Đức Sơn tọa lạc Thủy Bằng, huyện Hương Thủy, gần lăng vua Thiu Tr, cách tnh phố Huế khoảng 7km, được xây lp o năm 1964. T năm 1988, nơi đây t m của những con người số phận đặc biệt, với sự rộng lượng bao dung của những vị vừa m cha, vừa m mẹ hàng trăm s phn tưởng như bị cuộc đời chối bỏ đã lớn lên trưởng thành. Có thể nói, biết bao trẻ em đã lớn lên từ ngôi nhà này, em thể hòa nhập cộng đồng, vững vàng trong cuộc sống, nhưng em vẫn còn thơ dại bản thân mang khuyết tật.
Hiện tại, chùa đã nhận nuôi gần 300 trẻ em mồ côi, khuyết tật nhờ từ nguồn kinh phí đóng góp của những người ho mtrong ngoài nước. Dưới sự dẫn dắt của Ni trưởng Thích N Minh Tú,


2. Tham khảo của Đ Ngây, 2012, Triết nhập thế của Phật giáo Việt Nam thời Lý Trần, Luận án Tiến Tôn giáo học, Viện Khoa học hội Việt Nam, Hà Nội, tr
. 1.
 


các Ni đây đã cống hiến tâm huyết cả tuổi thanh xuân để nuôi dạy các em hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Đồng hành với Ni Minh Tú hơn 20 trong chùa, đây những người mẹ người cha trực tiếp chăm sóc, dạy bo c em một cách ân cn, chu đáo. Trong nhiu sư nlàm công vic cao quý ở chùa như Thích N Liên An làm vai trò đảm nhiệm cùng một lúc 2 lớp mẫu giáo 29 em 40 em đang học cấp một nhưng vẫn luôn nở nụ cười thân thiện ánh mắt trìu mến. Ngay từ nhỏ, Liên An đã thích được đi tu nhưng gia đình không cho phép. Mãi sau này, khi ba mẹ mất đi, Liên An đã xin vào chùa đi tu theo đúng ý nguyện. Dun trời đưa đến m người mẹ của những đứa trẻ mồ côi, từ đó gắnvới những đứa trẻ như chính con đẻ của mình. Khi hỏi về việc chăm sóc các cháu nhỏ Liên An không giấu nổi niềm tự o: Ai trong chúng tôi cũng đều nghĩ rằng đây nhân duyên, việc thiện cần m giữa đời sống vốn bộn bề này. Là người xut gia không quay lưng với nỗi đau thế thái nhân tình mà phải san sẻ tình thương cho những ai thiếu thn tình cảm, vật chất.


Hình ảnh chùa Đức Sơn, Thành ph Huế
Hàng ngày, những đây dậy từ 4 giờ sáng để lo việc Phật sự. Sau đó vào bếp cùng mọi người làm bữa ăn sáng rồi tắm rửa, thay tã, cho cácăn, chơi, ngủ…. Việc chăm sóc nuôi lớn một đứa con đã khó đối với bậc làm cha mẹ, thế nhưng các chùa Đức Sơn chăm sóc hàng trăm đứa trẻ một điều
phi thường, đó
 


kng chỉ là tch nhim mà là cả syêu thương vô bờ bến. Trong khi các con còn đang chìm sâu trong giấc ngủ thì những người mẹ áo nâu sồng nơi cửa Phật lại phải lo lắng, dọn dẹp hết những bọn trẻ bày ra để sáng mai chúnglại một chỗ chơi sạch sẽ.


Thích N Liên An cùng các con của mình  Thích N Minh Tú cùng các em nhỏ tại
chùa Đức Sơn
Không chỉ lo chuyện ăn, ngủ, học hành, các đây còn hướng các cháu đến những suy nghĩ việc làm thiện, dạy dỗ các cháu những điều hay lẽ phải, nhất tình đoàn kết, thương yêu lẫn nhau. Điều làm các vui nhất các cháu đều ngoan ngoãn, biết vâng lời. Có cháu nói chuyện chưa rành, gọi các “mẹ” rất dễ thương. Cũng lúc các cháu nghịch ngợm, phá phách, nhưng bằng sự nhẹ nhàng các cháu răm rắp nghe theo. Có lẽ chỉ tấm lòng tình thương một cách không điều kiện mới thể giúp các đây làm được điều không phải bậc làm cha làm mẹ cũng thể thể làm được.
Chia sẻ về những tâm sự của mình, Ni trưởng Thích N Minh Tú nói: Mong muốn duy nht của tôi mong các cháu trưởng thành, khỏe mạnh. Nhưng sâu xa hơn, vẫn muốn những bậc sinh thành hãy nghĩ tới cuộc đời các cháu để các cháu đỡ đi phần nào sự thiệt thòi trong cuộc sống, để chúng lớn lên có ích chohội không cảm thấy mặc cm vthân phn của mình”.
Việc nuôi dạy c em bình thường đã khó khăn, thế mà, trong s các em, còn 10 em sinh, 10 em khuyết tật, thì việc nuôi dạy lại ng khó khăn gấp nhiều lần. Ký ức tuổi thơ cuộc đời những đứa trẻ tưởng như đã bị bỏ quên ấy được nuôi lớn dưới tiếng chuông chùa, n những lời kinh kệ ở chốn thiền môn.
Kể với chúng tôi về nghiệp duyên này, Thích N Minh Tú
không
 


khỏi bùi ngùi: Chùa Đức Sơn được y dựng m 1964, trước đây vốn ch mt Niệm Phật đường. Thời ấy ch có 4 ni Minh Đức, Minh Tú, Minh Nhật Minh Hằng đã cùng đến đây tu tập. Sư cô Minh Tú cho biết, ngày chùa Đức Sơn trở thành ch nương nh của những mảnh đời cơ nhỡ, các gặp phải muôn vàn những khó khăn. Các phải ăn sắn trộn cơm chằm nón để có tiền mua sữa cho các em nhỏ. Tuy nhiên, qua thời gian, với sự giúp đỡ của các nhà hảo tâm t thiện sự nỗ lực không ngừng của các trong chùa, hiện nay chùa Đức Sơn đã tr thành đa ch đáng tin cy về nuôi dạy tr m côi trong vùng. Chùacăncvào độ tuổi vàbnh tật để sắp xếp chchophùhợp. ccu nam, ntrên 10 tui, trkhuyết tt, trsơ sinh... được btrí ở rng”.
Theo sự chỉ dẫn của nhà chúng tôi tới khu dành cho những đứa trẻ dưới 5 tuổi. Nơi ấy khiến chúng tôi cảm giác như vào khoa nhi của một bệnh viện. Ngoại trừ những đứa trẻ khoẻ mạnh nô đùa, chạy nhảy, thì những đứa trẻ nhỏ tuổi mang bệnh tật, ốm đau phải nằm trên giường thiêm thiếp đầy tội nghiệp. Chỉ vào mấy đứa trẻ đang tíu tít nô đùa, nói: Đứa trẻ áo vàng hay cười ấy Thiện Hoa, bởi nhà chùa nhặt được cháu trong vườn hoa rồi đem cháu về nuôi khi chỉ còn mong manh hơi thở nên đặt tên Hoa. Còn cháu gái mặc quần áo trắng nằm trên giường kia là Kiều Thiện Ngọc, tên thường gọi là Bu. Cu bbnh nng lắm nhưng nhà chùa vn cgng điều tr”.
Cúi xuống bế bé Bầu đang nằm trên giường mắt nhìn định, trụ trì Thích N Minh Tú không giấu được nỗi buồn, hai hàng nước mắt từ từ lăn trên . Càng thương cảm những số phận hẩm hiu chúng tôi càng thấu hiểu nỗi vất vả tấm lòng từ bi, nhân ái của các ng, ni chùa Đức Sơn. Trong khi kng ít ông b, bà mẹ nhẫn tâm vứt bỏ con ruột của mình thì những nhà nơi đây đã dang rộng vòng tay ngày đêm chăm lo nuôi dưỡng c em.
Các cháu nhỏ ở đây đa phần không biết họ tên, cha mẹ các em ai nên khi nhận vào chùa nếu trai thì mang họ Cù Thiện,gái thì mang họ Kiều Thiện. Sư Minh Tú kể với chúng tôi: “Hơn 28 năm qua đã hơn 140 cháu rời khỏi chùa, nhiều cháu đã gia đình công việc ổn định, một số cháu vượt qua nghịch cảnh hiện nay đã thành đạt trở thành bác sĩ, kỹ sư…đã lớn, đã rời xa mái m tình thương để tự lập thân kiếm sống nhưng c em vẫn luôn trách nhiệm đùm bọc những thế hệ sau như người trong một nhà
.
 


Sư Minh Tú kể tiếp với niềm tự hào hiện lên trong ánh mắt về các trường hợp đặc biệt sinh sống đây: Trong một lần đi m t thiện, tôi tình cờ bắt gặp mt cháu đỏ hỏn, bị bỏ rơi. Hồi ấy, cháu chỉ nặng hơn 900 gram. Tôi đưa cháu về chùa nuôi dưỡng đặt tên cháu Thiện Sanh. T ngày Thiện Sanh về chùa, các nữ chắt chiu từng đồng để mua sữa, mua thuốc chăm sóc cho cháu. Hiện tại,Thiện Sanh rất khỏe mạnh học giỏi như các bạn cùng trang lứa”.
Một trường hợp đặc biệt nữa các đây hay kể cho các em nhỏ để làm gương noi theo đó câu chuyện của anh Đào Duy Long, sinh ra trong một gia đình khó khănhuyện A Lưới, bố mất sớm, một mình mẹ bệnh tật nuôi 3 anh em ăn học. Quá cực khổ nên mẹ gửi Long vào chùa Đức Sơn khi em lên 10 tuổi. Được các cô cm sóc, dy bảo nên Long học rt giỏi. Em đỗ vào Trường Đại học Kinh tế Huế với s điểm khá cao. Ra trường được nhn o m tại một ngân hàng trụ sởthành phố Huế, hiện nay Long vẫn giành nhiều thời gian công sức vận động ủng hộ cho chùa để điều kiện chăm lo cho các cháukhác.
Mỗi các em đây một mảnh đời bất hạnh khác nhau, cùng chung trong mái ấm này để lớn lên dưới vòng tay của những ni sư. Tác giả được nghe kể, o một buổi ng bầu trời giá lạnh bởi sương đêm, ni tình cờ bắt gặp một emcòn đỏ hỏn, quấn trong tấm khăn mỏng, nằm bên góc cổng chùa. Tiếng khóc của bé không còn đủ sức để phát lên tiếng lẽ khát sữa, em đã bị bỏ rơi. Có thể do một mối tình vụng trộm, thể mẹ em đã không thừa nhận em, hay thể do em bị khuyết tật…, hẳn ẩn số cuộc đời em về xuất phát ban đầu khó ai đoán biết được, cũng không ai biết thêm để làm . Bằng tất cả sự bao dung, nhân hậu, Ni Minh Tú cùng các ni chùa bồng bế em lên tay, tất cả đều biết rằng họ phải bắt đầu một hành trình mới cho một số phận. L ra, các ni sư, chỉ tập trung việc tu dưỡng, tụng kinh, niệm Phật, nhưng với triết nhập thế, họ đã làm một việc, hẳn hội ít ai đủ tự tin, rộng lòng làm được. Nuôi một đứa trẻ, với một mẹ bình thường đã còn khó, thì với hoàn cảnh các ni chưa từng một lần được làm mẹ theo đúng nghĩa tự nhiên lại càng khó khăn gấp bội phần. S khó khăn y, chưa đáng bao, khi hằng ngày các Ni phải trông ngóng, em lớn n, được an nh, trọn vẹn hay một đứa trẻ khu
yết
 


tật, bị , bị động kinh, không biết nói, không thể tự đi, bi ba í ới không một ai thể đổi thay sự thật này.
Ngoài những ni trực tiếp với c em hng ngày, còn những giáo tình nguyện viênHuế đến đây để giúp dạy các em. Tt cả những giáo này đều chung một tấm lòng, hạnh nguyện sẻ chia, luôn đồng hành cùng Ni trưởng Thích N Minh Tú để nuôi dạy các em. Nhóm 11 thành viên, trong đó giáo viên đến với c em mới vài ba năm, go viên đã gắnvới trung m từ thuở mới khai thiên, lp đa. Đin hình, cô giáo Hồ Thị Hoài, sinh 1952, đã “bén duyên” với trẻ mồ côiđây hơn 30 năm. Cô giáo Trần Thị Quế Phương, hàng ngày vẫn ung dung trên chiếc xe đạpkỹ, dong duổi trên các cung đường đến trung tâm để trao truyền kiến thức cho các em bất hạnh ở nơi này.
Cô giáo Hoài - người gắnlâu nhất với trung tâm, trong nhiều năm nay Hoài đã vận động một người bạn của mình tài trợ kinh phí, hiện vật như sách vở, cặp học sinh, áo quần, giày dép cho các cháu. Quý không chỉ tham gia giảng dạy, truyền thụ kiến thức, còn giúp nhà chùa quản lí, hướng dẫn, chăm sóc các em trong mỗi lần tham gia hoạt động ngoài trời. Các không những chắt chiu, gom góp tài trợ cho các em của cải vật chất, quan trọng hơn tình yêu thương bờ, sự cảm thông, sẻ chia sâu sắc hoàn cảnh của từng em. Những ánh mắt non nớt, tiếng cười nói thơ ngây của các em đã tht slàm lay động trái tim các ksư m hồn, là động lực thôi thúc nhóm càng nỗ lực nhiều hơn, tranh thủ nội lực, phát huy ngoại lực mạnh hơn nguồn tài chính trong điều kiện tốt nhất để dành cho các em. giáo Hoài chia sẻ: Cách đây 35 m, sở vật chất của chùa còn k khăn, thiếu thốn mọi bề, tôi phải dạy mt lúc 5 lớp. Tuy cuộc sống vất vả nhưng tình thương con trẻ, để đắp mt phần thiệt thòi, mt mát của các em nên tôi mi gắn bó vi trung tâm cho đến ngày nay. Nhiu cô giáo trong nhóm, mặc bn bề việc trường, việc nhà nhưng vẫn sắp xếp thời gian đến với các em, xem các em như một phần máu thịt của mình. Mặc cho cuộc sống nổi trôi theo quy luật thăng trầm của lịch sử, các vẫn đêm ngày âm thầm trao truyền cho các em tình thương kiến thức, tiếp cho c cháu niềm tin mãnh liệt về sự chiến thắng chính bn thân
mình.
 


3. THAY LỜI KẾT
T việc nuôi dạy những trẻ em mồ côi, khuyết tật của những nữ chùa Đức Sơn, thành phố Huế, cho thấy các ni đã nhập thế làm những việc vượt quá sức của một người đời. T một người chưa bao giờ làm mẹ theo đúng nghĩa bình thường, đã trở thành những người mẹ của hơn mấy trăm con nhỏ. H phải chăm chút, lo toan cho các em từ khi các cháu còn đỏ hỏn, hay các cháu khuyết tật không thể tự chăm sóc bản thân, hay các cháu gia đình quá bần hàn. Vậy là, chính cha mẹ các cháu đã chối bỏ nhưng bằng tấm lòng bác ái nơi cửa Phật, các Ni đã lay động hàng triệu trái tim con người. Công việc này, đã thể hiện sự nhp thế tích cực trong triết lý nhân ái mà hàng bao thế kỷ, Phật go xây dựng n.
Các Ni không chỉ lo chuyện Phật sự như những suy nghĩ chúng ta thường biêt, đó vào chùa chỉ tu tập thiền định, họ đã m công việc phi thường mà những người bình thường khó ai m được, ngay chính cha mẹ của những số phận bất hạnh. Tất cả điều đó, cho chúng ta thấy, chỉ tính nhân ái, từ bi đức Phật dạy mới giúp con người thể bao dung được như thế.
T một mô hình nhỏ ở Huế để thấy ngày nay, Phật giáo đã vận dụng triết lý nhập thế một cách mạnh mẽ để giúp đỡ con người, giải quyết nhiều vấn đề khó khăn của hội. Biết bao nhà sư, Ni sư, từ chốn Phật môn đã tham gia giảng dạyc trường học, đồng hành cùng những chuyến từ thiện tới những vùng xa xôi, hay cứu chữa biết bao bệnh tật cho bệnh nhân nghèo. Hình ảnh Phật tử không đơn thuần hình ảnh tụng kinh nơi cửa Phật, chính họ những con người nhập thế tích cực. H xây dựng một hình ảnh rất chân thực trong cuộc sống đời thường.
Phải chăng, lẽ đó, Phật giáo ngày càng phát triển mặt nhiều quốc gia châu lục trên thế giới. RiêngViệt Nam, nhờ đức Phật, giúp con người hướng thiện, làm việc tốt, bảo vệ trật tự hội. những con người trần tục nhất thì đều hướng thiện khi đứng trước đức Phật. Hình ảnh đức Phật đã thấm vào máu thịt người Việt như một phần không thể thiếu trong văn a ứng xử giữa người với người. Điều này càng quan trọng hơn, khi hội ngày nay, quá nhiều vấn đề phức tạp, khi đạo con người ngày càng đổi thay, xói mòn, thì chính
sự
 


nhập thế của triết Phật học, nền tảng đạo đức hội để mỗi người có thể thiện tâm chính mình.
Như vậy, ngoài việc phát triển như một tôn giáo của thế giới, Phật giáo không chỉ đóng góp về mặt văn hóa, triết học đã vận dụng triết lý nhp thế để đóng vai trò ngày ng lớn trong giải quyết những vấn đề về y học, kinh tế, chính trị, hội… T đó, xây dựng một hình ảnh đẹp, sinh động về những người ở chốn Phật môn nói riêng, Phật tử nói chung Phật go trở thành một phn không thể thiếu trong go dục con người hướng thiện trong bối cảnh toàn cầu a ngày nay.






***



 

Tài liệu tham khảo

Bowker, J, 2002, Các tôn giáo trên thế giới, Dịch giả Nguyễn Đức Tư, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin giới thiệu.
Đng Văn Chương, 2016, Bài ging Lch stôn giáo thế giới, Trường Đại học Sư phạm Huế.
Đ Ngây, 2012, Triết nhập thế của Phật giáo Việt Nam thời Trần, Luận án Tiến Tôn giáo học, Viện Khoa học hội Việt Nam, Hà Nội.
https://ganday.net/item/chua-duc-son-h-huong-thuy-thua-thien- hue/, truy cập 11/12/2018.
Chùa Đức Sơn - Ấm áp mái m gia đình cho trẻ m côi, https://vtv. vn/tam-long-viet/chua-duc-son-am-ap-mai-am-gia-dinh-cho- tre-mo-coi-20160628090815035.htm, truy cập 27/1/2019.
 
143



















HỘI B
ỀN VỮNG

144

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây