9 TÍNH GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NHÂN SINH TOÀN CẦU TRONG KINH ĐẠI PHƯỚC ĐỨC

Thứ tư - 08/05/2019 23:08
Thích Bổn Huân
147






 
TÍNH GIÁO DỤC ĐO ĐỨC NN SINH TOÀN CU TRONG KINH ĐI PHƯC ĐỨC

 
Thích Bn Huân



TÓM TẮT

Lịch sử tiến hóa của nhân loại qua các thời đại xưa nay kng thể tách rời với giáo dục đo đức và tín ngưỡng tâm linh. Giáo dục là sự truyền thọ kiến thc, đạo đức và kỹ năng cho người ta, khiến người ta thích nghi với cuc sng, với thiên nhiên và xã hi. Về sau, go dục còn có nghĩa là khiến cho người ta có được khnăng sáng tạo, tự nhn biết mình và phát huy i tt vốn có của mình.1 Cách nay hơn 2600 năm trước, tại đt nước n Đ, có một nhà giáo dục đo đức vĩ đại ra đời, đó chính là đức Pht Thích Ca. Trong suốt gn 50 năm kể từ khi khai sáng đo Pht cho đến khi Ngài nhp Niết-bàn, đức Pht đã du hóa khp nơi, từ Bắc đến Nam, từ Đông sang Tây của đt nước n Đrng lớn để làm một công vic duy nht là giáo dục đo đức và cm hóa người dân trở nên tốt đp hơn mỗi ngày. Timh thn giáo dục tuyt vời đó, ngày nay đã được lan ta khp nơi trên thế giới qua vic phổ biến ba tạng “Kinh; Lut; Lun” của đo Pht trong dòng chy mạng mch suốt my nghìn năm của một tôn giáo lớn trên thế giới. Trong rt nhiu bài kinh ngày xưa đức Pht thuyết giảng để giáo hóa và dn dt hàng đệ tử xut gia và tại gia hướng đến đời sng thin lành giải thoát. Có một bài kinh hay tuyt, hàm xúc tính nhân quả hin sinh, được nhiu người biết đến và đọc tụng mỗi ngày trong các thời khóa tu tp, để bồi dưỡng ht giống tốt lành cho đời sng tinh thn của mình. Đó chính là bài



* Đại đức, Tiến sĩ Văn học Pht go tại Trường ĐHSP Thượng Hi, Ging viên Học vin Pht go Vit Nam tại Tp. HCM.
  1. Hòa thượng Thích Thin Siêu (2001), Giáo dục Pht giáo trong thời hin đi, (Bàn v mục tiêu của Giáo dục Pht giáo), tr 24, Nxb TP. HCM.
 


kinh “Maha Mangala Sutta” (Kinh Đi Phước Đức).
    1. KINH “ĐẠI PHƯỚC ĐỨC” TRONG KINH VĂN PHẬT GIÁO XƯA VÀ NAY

Cho đến ngày nay, trong nghi lễ tụng nim tại các chùa ở các nước có nim tin Pht giáo, nht là các nước có hệ truyn thừa từ Pht giáo Nam truyn, thì kinh “Maha mangala Sutta(Kinh Đi Phước Đức) được truyền tng trong các khóa lễ như là một kinh có sự nhim mu vi diu. Tu sĩ và Pht tử thun tnh có nim tin nn quả sâu sc, khi nghe hay đc tụng và thực nh theo nội dung kinh ny thì sẽ được nhiu phước nh, nhiu may mắn và tránh được nhiu điu xu ác xy ra trong cuc đời. Bất cứ người nào nếu chí tnh trì tụng và m theo đúng như lời Pht dy, đu được tnh tựu và an lc trong cuộc đời, dù sinh sng hay m ăn ở bt cứ quốc gia nào.

Kinh Đi Phước Đứcy có tên trong Tạng kinh Pali là Maha mangala Sutta, là mt trong nhng bài kinh rt quan trng mà Pht Thích Ca đã thuyết pháp đsanh. Mahacó nghĩa là to; lớn. Mangalanghĩa là phước đức; điu thin; điềm lành; smay mắn; phước lành. Suttacó nghĩa là “Kinh. Mahamangala Sutta có th dch sang Vit ngữ là Kinh Đi Phước Đứchay Kinh Phước Đức Lớn”.

Thin sư Thích Nht Hnh đã m thấy bài kinh y trong Kinh Pháp Cú Thí dHán tng, và đem giảng gii cho đtkhắp i, Ngài nói: Trong Kinh Pháp Cú nguyên bn bng tiếng Pali không có Kinh Phước Đức’, nhưng trong Kinh Pháp Cú Hán Tng’ thì có Kinh y……, trong bn chHán có tên là Kinh t Tường, cát tường có nghĩa là điềm nh. Thí d thấy y năm sc là mt điềm nh. Kinh y chúng ta thdch ra tiếng Việt là Kinh Điềm Lành. Ch cát tường tiếng Pali là mangala, du hiệu ca smay mn. Maha mangala là điềm nh lớn, maha-mangala-sutta là Kinh Điều May Mắn Lớn Nht’.”2

Theo Tng kinh Pali và các tài liu cho biết: Bài kinh ny được đức Pht nói cho chư Thiên ti vườn Cp Cô Đc, trong rng Thái tử KĐà, thuc nước Xá V. Bởi trong sut nhiều năm, ‘Trời’ và Người’ đã bt đng ý kiến và tranh cãi với nhau vnhng vic làm và ý ng- a ca Phước Đc. Thế nên Vua Phm Thiên đã theo lời khuyên ca


2.    https://langmai.org/phapduong/phap-thoai-phien-ta/giang-kinh/giang-kinh-phuoc- duc-phan1.
 


Sakka, đại diện đến hi đức Pht về ý nghĩa chân tht ca Phước Đức và may mn trong cuc đời.”3

Nội dung bài kinh là lời đức Pht Thích Ca giải thích tường tn về các điu tốt lành, và qua đó đã khuyên Trivà ‘Người’ nên khéo ứng dụng văn; tư; tu” thực hành nhng điu Pht dy để trau dồi đo đức cho bản thân có được đời sng an nh hạnh phúc, và góp phn giúp cho tt cả mọi người trong cng đồng xã hội được an lc và cát tường. Tuy nhiên Thin sư Nht Hnh cho rằng vTriđược nói đến trong kinh khi đi đến đnh lễ đức Pht kng phải là một nhân vt từ trên cung trời xuống trần gian, mà là một đo sĩ Bà La Môn, Ngài giảng: “Hôm y có mt vđạo sĩ tới hi Bt: Điềm lành nào là điềm lành lớn nht trong tất cc điềm lành? Vđạo sĩ Bà La n này là mt vị Phm chí (brahmana). Kinh Pp Cú Thí Dnói rt rõ: vị Phm chí này là mt Ni kiền. Ni kiền là tiếng gi tắt của nirgrantha, mt go phái có mặt từ thời đức Thế Tôn.” Thin sư Nht hnh cho biết thêm trong Kinh Pp cú Thí dbản Hán tạng có tt cả 16 bài k, nhưng trong bản Pali chỉ có 12 bài k. Người viết đã tìm thy bài kinh “Maha Mangala Suttanày trong Đi chánh Tân tu Đi Tng kinhvới 12 bài k, tính luôn bài kđu tiên mà vTriđã tham vn đức Pht. Cho thy bản dịch này rt sát nghĩa và đúng theo cu trúc 1/1 với bản kinh trong Tạng Pali.
    1. TÁC GIẢ, DỊCH GIẢ VÀ TÁC PHẨM

Người viết hn tn kng có chút nghi nggì vbài kinh Đi Phước Đức này là một bản ngụy kinh, bởi nó có mt trong kinh tạng Pali theo hệ truyn thừa từ Pht giáo Nam truyn, kinh tạng Pali được các hc givà nhà nghiên cứu đánh giá rt cao vtính nguyên thủy thun cht của nó được chính đức Pht thuyết giảng khi còn tại thế, và đã được c Thánh đệ tử kết tp nhiều lần qua nhiều thời kỳ để lưu truyền mãi đến ngày nay. Bài kinh này hội đủ “Lục chng thành tựu hay còn gi là Lc trùng chng tín4. Theo bản dịch của thy
 
  1. https://thuvienhoasen.org/kinh-phuoc-duc.
  2. Gồm 6 yếu tố quan trng xác minh một bài kinh ra đời, theo Từ đin Pht học Hoa Linh Thoi:
Văn thành tựu : Tôi nghelà chỉ cho tôn giả A Nan, người đã nghe và thut lại Kinh này, đó gọi là văn thành tựu.
  • Tín tnh tựu : “Như thế này là lời của Ngài A Nan thut lại khi kết tp kinh đin lần thứ nht.
 


Thích Huyn Diu như sau:

Chính i được nghe như vầy: Mt thunkhi Đức Thế Tôn cư ngti thành Xá Vệ, ti Tu Viện Cp Cô Đc trong vườn KĐà. Hôm đó, trời đã vkhuya, có mt vị Thiên gihiện xuống thăm Ngài, hào quang và vẻ đẹp ca Thiên gilàm sáng cả vườn cây. Sau khi đảnh lễ đức Thế Tôn, vị Thiên giđng sang mt bên và cung kính tham vn Ngài bng mt bài kệ:

Nhiều Thiên Nhân thao thc, mun biết về Phước Đc, Để sống được an nh, xin đức Thế Tôn chdy.
Lời dy của đức Thế Tôn:

Nên tránh kẻ xu ác, hãy gn bc hiền lành, Tôn kính bc đáng kính, là Phước Đức lớn nht.

Sng trong môi trường tt, đã to tác nhân lành, Được đi trên đường chánh, là Phước Đức lớn nht.

hc, có nghhay, biết hành trì giới luật, Biết nói lời ái ngữ, là Phước Đức lớn nht.

Được phng dưỡng mcha, yêu thương gia đình mình, Được hành nghan lc, là Phước Đức lớn nht.

Sng ngay thng, bthí, gp quyến thuc thân bng, Hành xử không tvết, là Phước Đức lớn nht.
Tránh không làm điều ác, nên xa các ti li,
Không say sưa nghiện ngp, tinh cn m vic nh, là Phước Đức lớn nht.

Biết khiêm cung, lễ đ, tri túc và biết ơn, Không bvic hc đạo, là Phước Đức lớn nht.

Biết kiên trì, phc thiện, thân cn bc Thánh Hiền, Dpp đàm hc hi, là Phước Đức lớn nht.
Sng tinh cn, tnh thc, hc chân lý nhiệm mầu,

 
    • Thời tnh tựu : “Một thuở nlà thời gian nói Kinh.
    • Chủ tnh tựu : “Đức Phtlà chỉ cho vị chta trong buổi thuyết pp.
    • Xứ tnh tựu : Vườn Kỳ Thọ Cp Cô Đc” nơi Pht thuyết Kinh Đại Phước Đức.
    • Chúng tnh tựu : Chúng trong Kinh Maha Mangala là một Thiên gi, đối tượng nghe đức Pht thuyết pháp.
 


Thực chng được Niết-bàn, là Phước Đức lớn nht. Sng chung đụng nhân gian, Tâm không hlay chuyn,
Phiền não hết, an nhn, sống hoàn toàn an tịnh, là Phước Đức lớn nht.

Cứ sống được như thế, đi đâu cũng an nh. Tới đâu cũng hạnh phúc, tht Phước Đức vô biên.5

Bài kinh này được Hoà thượng Thích Thin Châu (dịch) với tênKinh Chân Hạnh Phúc”:

Như vy tôi nghe, mt thời Thế Tôn ở ti Savatthi, trong rng Jeta, vườn Anathapindika. Có mt thiên nhân, khi đêm gn tàn, với dung sc thù thng chiếu khắp rng Jeta, đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, kính lễ Thế Tôn, ri đng mt bên, thiên nhân y nói lên bài kệ trước Đức Thế Tôn như sau:
Chư thiên và loài người, suy nghĩ vhạnh phúc, Ước mong được hạnh phúc, Chân hạnh phúc là gì?
Thế Tôn đáp kệ rng:

Kẻ si mê nên tránh, bc hiền đức phi gn. Cung kính người đáng kính, y là chân hạnh phúc.

Chn nơi lành mà ở, đời trước đã to phúc. Nay giữ lòng thng ngay, y là chân hạnh phúc.

Hiểu rộng và khéo tay, giữ tròn các giới luật. Nói nhng lời hòa ái, y là chân hạnh phúc.

Cung dưỡng cha mgià, yêu mến vợ/chồng và con. Không vương vn phiền hà, y là chân hạnh phúc.

Cho và sống đúng cách, nên giúp đỡ bà con. Hành đng không chê trách, y là chân hạnh phúc.

Ngăn trđiều ác xu, dứt bthói rượu chè. Chuyên cn trong Chánh đạo, y là chân hạnh phúc.

Kính nhường và khiêm tốn, biết đvà nhớ ơn. Tuthời hc đạo lý, y là chân hạnh phúc.
Nhn nhc vâng ý lành, viếng thăm bc tu hành.

 
  1. Thích Huyn Diu (dịch), https://www.budsas.org/uni/u-vbud/vbkin020.htm.
 


Tuthời bàn luận đạo, y là chân hạnh phúc. Trong sch và siêng năng, sut thông các chân lý.
Thực hiện vui Niết-bàn, y là chân hạnh phúc.

Tiếp xúc với thế gian, giữ lòng không sa ngã. Bình an, không su nhiểm, y là chân hạnh phúc.

Như thế mà tu hành, vic gì cũng thành tựu. Ở đâu cũng an lành, y là chân hạnh phúc.6

Bài kinh này được cHòa thượng Thích Minh Châu đã dịch bài kinh này sang Vit ngvới tựa đề Kinh Điềm Lành Ti Thượng”:

Như vy tôi nghe, mt thời Thế Tôn ở ti Savatthi, trong rng Jeta, vườn Anathapindika. Có mt thiên nhân, khi đêm gn tàn, với dung sc thù thng chiếu khắp rng Jeta, đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, kính lễ Thế Tôn, ri đng mt bên, thiên nhân y nói lên bài kệ trước đức Thế Tôn như sau:
Nhiều Thiên tử và người, suy nghĩ đến điềm lành.
Mong ước và đợi chờ, mt nếp sống an toàn. Xin Ngài hãy nói lên, vđiềm lành tối thượng! (Lời đức Pht giảng)
Không thân cn kẻ ngu, nhưng gn gũi bc trí, Đảnh lễ người đáng lễ, là điềm lành tối thượng.
Ở trú xứ thích hp, ng đức trước đã làm.  Chơn chánh hướng tự tâm, là điềm lành tối thượng. Hc nhiều, nghnghiệp gii, khéo huấn luyn, hc tập.
Nói nhng lời khéo nói, là điềm lành tối thượng. Hiếu dưỡng mvà cha, ni nng vvà con. Làm nghkhông rc ri, là điềm lành tối thượng. Bố thí, hành đúng pp, săn sóc các bà con.
Làm nghiệp không li lm, là điềm lành tối thượng.

 
  1. Hòa thượng Thích Thin Châu (dịch). https://www.budsas.org/uni/u-vbud/vb- kin020.htm.
 


Chm dứt, từ bác, chế ngđam mê rượu.  Trong pp, không phóng dật, là điềm lành tối thượng.
Kính lễ và hmình, biết đvà biết ơn.
Đúng thời nghe chánh pp, là điềm lành ti thượng.
Nhn nhc lời hòa nhã, yết kiến các Sa-môn. Đúng thời đàm luận pp, là điềm lành ti thượng. Khc khvà phm hạnh, thy được lý Thánh đế. Giác ngộ quNiết-bàn, là điềm lành ti thượng.  Khi xúc chm vic đời, Tâm không đng, không su.
Không uế nhiễm, an n, là điềm lành tối thượng. Làm sự vic như vầy, không chnào tht bi. Khắp nơi được an toàn, là điềm lành tối thượng.7
Thượng ta Thích Nht Tđã dịch bài kinh này với tựa Kinh Phước Đc, do nhà xut bn Hng Đức in n, sau đó được tái bn nhiu lần trong quyn “Kinh Pht cho người ti gia”:

Tôi nghe như vầy. Có một hôm n, đức Pht ở tại Tịnh xá KViên do Cp Cô Độc, thái tử K-đà phát tâm hiến cúng. Vào khuya hôm y, có một vị thiên, thân thể phát quang, cung kính đnh l, ngồi xuống một bên, rồi thưa Pht rằng:
Xin Thế Tôn chdy, cách thức to phước đc, Giúp trời người thực tập, để sống đời hạnh phúc.
Sau khi khen ngợi, đức Pht tuần tự giảng dy đại ý mười cách to phước, để trời và người sống trong hạnh phúc, gm nhng điều sau:
Phương pháp thứ nht là:
Tránh người, cảnh xu ác, đkhông bị vlây, Thân cn bc hiền đc, tôn trng, học điều hay.
Phương pháp thhai là:

 
  1. Thích Minh Châu (dịch)(2015), Kinh Đim Lành Tối Thượng (Mangala Sutta), nằm trong Kinh Tiu Bộ từ nguồn Tam tạng kinh đin Nam truyn Pali, được nhà Xut bản Tôn giáo cho phép xut bản lần đu tiên vào m 2015.
 


Xây dng môi trường tốt, để y to nhân lành, Quyết tâm theo đạo đc, để cuc sống thanh bình.
Phương pháp thba là:
Siêng hc, tay nghhay, có lương m, đo đức,
Luôn nói lời chân thc, từ ái với tha nhân.
Phương pháp thứ tư là:
Luôn hiếu dưỡng song thân, thương, chăm sóc gia đình, Chn, làm nghthích hp, snghiệp phát triển nhanh.
Phương pháp thnăm là:
Sng chân tht, bthí, giúp xã hi, người thân, Nhân cách ln cao thượng, hành xử như chân nhân.
Phương pháp thsáu là:
Quyết không làm điều ác, không ma túy, rượu say. Thích vic lành, đạo đc, theo đuổi, sống thng ngay.
Phương pháp thby là:
Sng lễ đ, khiêm cung, biết ơn và đền đáp, Không tham và biết đủ, siêng hc pp cao sâu.
Phương pháp thtám là:
Sng kiên nhn, phc thiện, thân cn các bc thy, Hc hi và cầu tiến, nghe pp, hc điều hay.
Phương pháp thứ chín là:
Sng chánh niệm, tnh thc, hành Pht pp nhiệm mầu, Quyết tâm theo chân lý, đạt Niết-bàn an vui.
Phương pháp thmười là:
Đến đi trong nhân gian, tùy duyên nhưng bt biến, Tâm không hlay chuyn, chuyển hóa hết não phiền.
Sau khi giải thích mười cách to phước, đức Pht khích lệ bng bài kệ sau:
 


Ai tu to phước đc, được an lc ln khi, đâu cũng hạnh phúc, tới đâu cũng bình an.
Nghe Pht dy xong, vị thiên nhân y vô cùng hoan h, làm theo lời Pht, đng thời phát nguyện truyền bá khắp nơi các cách làm phước, đem li lợi lc cho khắp mi người.8

Người viết đã tìm được bản tiếng Hán ca phẨm kinh này trong Đi Chánh Tạnghay còn gi là Đi Chánh Tân Tu Đi Tạng Kinh
do Pháp sư Pháp Phảng (法舫法師) dịch tnguồn kinh đin Pali
Tiu bvi tựa đKinh Kiết Tường吉祥(出巴利三藏中之
小部阿含), tuy nhiên bản dịch này không giống vi bản kinh ch
Hán mà Thin sư Nht Hnh đã nói đến trong Kinh Pp cú Thí d
đphân tích giảng gii cho hi chúng đtử, điu đó cho thy kinh
Maha Mangala Suttang có nhiu bản dịch sang Hán ngữ.
如是我聞.一時.教在舍衛國祇樹給孤獨園.爾時 有一天人.於後夜分.身諸光明徧照祇樹園林.來詣佛 所.到已頂禮世尊.却住一面.而以偈白佛言.9

諸天與世人.思維吉祥事.希求.於幸福.何謂勝吉 祥.

一、遠離愚癡人.親近智慧者.供養於應供.此事勝 吉祥.

二、靜住安適處.由曾作福業.而自修善德.此事勝 吉祥.

三、凡學諸律儀.真實與工巧.及善說語言.此事勝 吉祥.

四、侍奉於父母.攝受妻與子.所作無繫累.此事勝 吉祥.

五、布施與修持.攝受親眷屬.諸業無過咎.此事勝 吉祥.
六、遠離諸惡業.亦不飲諸酒.於法不放逸.此事勝


 
  1. Thích Nht Từ (2014), Kinh Pht cho người tại gia, tr 259-262, Nxb Hng Đức, TP. HCM.
9. CBETA 電子佛典集成, 補編 (B), 7 , No.0013, 1 , [015a03]. (Đin tử
Pht đin tp tnh, bổ biên ‘B, tp 7, số 0013, quyn 1, ký hiu đin tử [015a03]).
 


吉祥.

七、尊敬與謙讓.知足常感恩.依時聽正法.此事勝 吉祥.

八、忍辱與謙卑.具足正知見.談論於正法.此事勝 吉祥.

九、苦行與梵行.而得見聖諦.證悟於涅槃.此事勝 吉祥.

十、接觸世間法.心寂不為動.無憂離貪欲.此事勝 吉祥.

十一、如是修諸行.而能無墮失.隨處得安隱.此諸 事吉祥.10

Người viết dựa theo bản kinh tiếng Hán này dịch sang Vit ng với tựa đề Kinh Điu Tt Lành”:

Tôi nghe như vy, một thưở n, đức Pht trú trong vườn K Thọ Cp Cô Độc, tại nước Xá V. Lúc này, khi đêm đã gn tàn, có một vTri, với thân sc quang minh chiếu sáng rng Kỳ Th, bèn đi đến trước đức Pht. Sau khi thành kính đảnh lễ đức Thế Tôn, rồi đứng qua một bên, vTrời y nói lên bài kệ thưa đc Pht rằng:
Chư Thiên và loài người, nghĩ vđiều tốt lành, Mong được sống hạnh phúc, điều tốt lành là gì?
Đức Pht giảng giải:
Tránh xa kẻ ngu si, nên gn người trí tuệ, Cúng dường bc đáng cúng, là điều tt lành nht. Sng an tnh thích hp, bởi đã to phước lành,
Biết tô bồi đức thiện, là điều tốt lành nht. Hc rng biết giới luật, chân tht và khéo tay, Biết nói lời hòa ái, là điều tốt lành nht.
Được phng dưỡng mcha, yêu thương vợ/chng và con,



10. 民國法舫法師譯 (Pháp sư Pháp Phảng dịch vào thời Dân quốc).
 


Không làm chuyện ly phiền, là điều tt lành nht.
Bố thí và tu trì, giúp quyến thuc bà con, Không làm điều sai quy, là điều tốt lành nht. Xa rời chuyện xu ác, không say sưa rượu chè, Sng tỉnh thức trong đời, là điều tốt lành nht. Khiêm cung và lễ đ, biết đthường cm ơn,  Theo thời nghe chánh pp, là điều tốt lành nht.
Nhn nhc với khiêm nhường, đy đhiểu biết đúng, Luận đàm trong chánh pp, là điều tt lành nht . Sng đơn gin phm hạnh, mà thy được Thánh đế, Chng ngộ được Niết-bàn, là điều tt lành nht.
Sng tiếp xúc thế gian, tâm an tnh bt đng, Rời tham dục, ưu su, là điều tt lành nht. Ai sống được như vy, không bao giờ đa lc, Nơi nào cũng yên n, đy nhng điều tt lành.
Qua vic kho sát nguồn gốc và xut xbản kinh này, chúng ta biết được đây là một bài kinh chính thống, ra đời từ khi đức Pht còn tại thế, và được các đệ tử truyn ming đọc tụng thuộc lòng, sau khi đức Pht nhp Niết-bàn một thời gian thì được các Tnh đệ tử kết tp ghi chép lại đy đủ. Bn kinh này ở Vit Nam ít nht đã có năm vHòa thượng và Thượng ta đã dịch sang Vit ngvới các tựa đề khác nhau. CHòa thượng Thích Minh Châu đã dịch và xut bản trong kinh Tiu Bộ với tên “Kinh Điềm Lành Ti Thượng”. Hòa thượng Thích Thin Châu đã dịch với tựa đề “Kinh Chân Hạnh Phúc. Hòa thượng Thích Huyn Diu đã dịch với tựa đề Kinh Đi Phước Đc. Hòa thượng Thích Nht Hnh đã dịch với tựa đề Kinh Hạnh Phúc. Thượng ta Thích Nht Tđã dịch và giảng giải kinh này với tựa đề Kinh Phước Đức. Trong bài viết này, người viết dịch bài kinh này với tên Kinh Điều Tt Lành. Qua nhiu bản dịch như vy, chúng ta thy được sức nh hưởng đc bit về tính giáo dục đo đức cao quý cùng với sphổ biến rng lớn của bản kinh này xưa nay.
 


3. TÍNH GIÁO DỤC NHÂN SINH TOÀN CẦU CỦA KINH ĐẠI PHÚC ĐỨC

Từ nhân duyên phát khởi để đức Pht thuyết bài kinh này là do sự tham vn của một vTri], thế nên nội dung Pht nói hàm xúc tính giáo dục dành cho Trivà ‘Người, đối tượng được nghe kinh này chính là dành cho Pht tử tại gia, thế nên bài kinh này rt có giá trị trong lòng người Pht tử. Tuy nhiên có đoạn cuối nói đến Niết-bàn giải thoát là nội dung dành cho tt các hành gixut gia và tại gia đu có thể tu tp và chng quả được. Trong tt cả các bản dịch Vit ngữ, người viết cho rằng bản dịch của Hòa thượng Thích Huyn Diu là bản hay nht, giàu tính nghệ thut thẨm mvà đm cht văn học thơ ca nht, thế nên người viết nương theo bản dịch này để tiến hành phân tích về tính giáo dục nhân sinh tn cu của bản kinh này.

Nhiều thiên nhân thao thc, mun biết vphước đc, Để sống được an lành, xin đức Thế Tôn chdy.

Thiên và nn tức là trời và người, tuy nhiên Thin sư Nht Hnh giảng giải theo như trong kinh “Pháp cú Thí d”, thì vTrinày mt v đạo sĩ Bà La n đến tham vn đức Pht, xin Ngài ch dy v nhng điều tt lành, nhng điều phước đức trong thế gian, để trời và người theo đó mà nh trì tu tập, để được đời sống an lành hạnh phúc chân tht. Theo kinh n Pali và cả Hán tạng đu nói đây là một Thiên giả đến tham vấn đức Pht, Thiên gilà một chúng sanh vẫn còn trong tam giới, vẫn phải chịu stác động của định lut nn quả và vô thường chi phối.
Lời dy của đức Thế Tôn:

Nên tránh kẻ xu ác, hãy gn bc hiền lành, Tôn kính bc đáng kính, là Phước Đức lớn nht.

Trong bài kđu tiên, đức Pht nói đến nhn thức cơ bản trong tâm lý chung của chúng sinh luôn tồn tại hai khái niệm: Xu và tt, độc ác và hin lành, bc đáng kính và thứ đê tin v.v…, qua đó hãy chọn lựa và hành động vì nhng điu tốt lành nht để có được phước đức lớn nht, điu đó chính là vic đi cơ thuyết ppmang tính giáo dục đo đức và li sng tuyt vời của đức Pht.
Sng trong môi trường tt, đã to tác nhân lành,
 


Được đi trên đường chánh, là Phước Đức lớn nht.

Thời đức Pht còn tại thế cách nay đã my nghìn m, mà Ngài đã khuyên chúng sinh phải nên quý trng môi trường sng tt, và hãy chọn môi trường tốt mà sng. Tht ra, chúng ta muốn sng trong một môi trường tốt kng phải d, mà bn tn người đó trước kia và hin tại đã từng to tác nhân lành, đã từng được đi trên đường chính11 để có được phước đức và điều kiện tốt để có thể chọn cho bn tn và gia đình một nơi sng tốt. Lời dy của đức Pht khuyên chúng ta phải biết bảo vệ môi trường sng cho tt, để cho mình và người được hưởng trọn vn phước đức đó trong đời.

hc, có nghhay, biết hành trì giới luật, Biết nói lời ái ngữ, là Phước Đức lớn nht.

Trong bài kệ thứ 3, đức Pht khuyên chúng sinh hãy chú trng đến vic học và nh, chú trng đến nghề nghip và rèn luyn tay nghề cho tht giỏi, phải biết rõ về “giới luậtvà lut pp để sng cho đúng, đừng rơi vào nhng trường hợp vi phạm pp lut hay giới luậtmà m khổ bn tn, gia đình và xã hội. Ngoài ra, trong cuộc sng phải biết nói lời thương yêu, nói lời xây dựng, nói lời thông cm, nói lời hòa hợp..., đừng nói lời đc ác, lời chia rẽ, lời th phi, lời dối trá, lời cm biếm..., nếu thực nh và sng được như vy thì chính là phước đức lớn đã đến và sẽ đến với chúng ta.

Được phng dưỡng mcha, yêu thương gia đình mình, Được hành nghan lc, là Phước Đức lớn nht.

Ngày nay, đo đức về lòng tri ơn và báo ơn trong giới trxuống cp trầm trng, một phn kng nhỏ nhng người trẻ tuổi có li sng lạnh nht, ích kvà bc đãi cha mcủa mình, đy là nhng điều tht đức nghiêm trng không thtạo ra phước đc, “trong tất cđiều thiện không gì bng hiếu kính cha mẹ, trong tất cc điều ác không gì bng bt hiếu. Thế nên đức Pht khuyên chúng sinh ngoài vic yêu thương chăm sóc gia đình mình, còn phải biết tri ơn và nhớ ơn sâu sc về công lao sinh thành dưỡng dục to lớn như trời bin của cha m, phải thực hin vic báo đáp và phng dưỡng cha mẹ với nhiu phương cách tùy theo hn cnh và điều kiện của mi gia đình, âm

 
  1. Còn gọi là “con đường Bát chánh đovi: Chánh kiến; cnh tư duy; cnh ngữ; cnh nghip; cnh mạng; cnh tinh tn; cnh nim và cnh định.
 


đức ca vic hiếu kính cha mẹ sẽ chiêu cm phước báo cho người con có đời sống an lc trong tâm hn và thuận lợi trong nghnghiệp để tiến thân và được cộng đng quý mến.

Sng ngay thng, bthí, gp quyến thuc thân bng, Hành xử không tvết, là Phước Đức lớn nht.

Người xưa thường nói chân tht bt hư, thế nên người có li sng chân tht và ngay thẳng, chính là người thông minh, người sng giả dối, thủ đoạn, gian trá thì trước sau gì cũng bị người khác phát hin và xa lánh, kng nhng kng muốn kết bạn với người đó mà còn kng thể hợp tác làm ăn để đôi bên cùng có lợi, dn đến mt nim tin với tha nhân và tự cô lp bản thân với cng đồng xã hội, hu quả là cuộc đời người đó càng ngày càng trở nên bi đát. Ngoài ra Pht còn dy trivà ngườiphải biết sng vị tha, bao dung và rng lượng, phải biết ‘bthíng dường và giúp đỡ bà con quyến thuc, đy là nhng việc làm hn thin nhân cách cao thượng chiêu cm phước đức, hnh phúc trong cuộc đời.
Tránh không làm điều ác, nên xa các ti li,
Không say sưa nghiện ngp, tinh cn m vic nh, là Phước Đức lớn nht.

Sở dĩ đời sng con người khổ nhiu vui ít là bởi quá khđã làm nhiu điu tội lỗi, xu ác. Thế nên, theo quy lut nhân quả phải chiêu cm quả báo xu ác đến với bản thân, phải đón nhn và chịu đựng nhng điu bt hnh kng may xy đến với mình, người muốn thoát khỏi khổ đau và sng an lành hnh phúc, phải tránh m điều ác, xa c ti livà tinh cần m vic lành, có đời sng tỉnh thức không say sưarượu chè, kng nghiện ngậpMa-túy và c cht kích thích làm băng hoại cuộc đời. Lời đức Thế Tôn trong bài k này tuy đơn sơ gin dị nhưng lại bao hàm tính go dục đo đức nhân sinh tn din cho trivà người’ theo đó sng hướng thượng và hướng thin.

Biết khiêm cung, lễ đ, tri túc và biết ơn, Không bvic hc đạo, là Phước Đức lớn nht.

Sng “khiêm cung”; “lễ độ”; “tri túc”; “biết ơn…, đu là nhng đức tính cơ bản hình thành nên nhân cách đo đức một người có giáo dục, có văn hóa. Nếu một người thiếu hn các đức tính cao quý này, chc chn người đó kng được hp thụ một nn giáo dục tốt
 


thông qua gia đình, nhà trường hay xã hội, chính vì thế họ kng phải là hạng người cao qúy được người đời kính mến, mà còn rt dễ bị tht bại trong công cuộc làm ăn, gy dựng snghp, ng như trong vic xây dựng hnh phúc gia đình. Đức Pht dy người có được các đức tính tốt đó còn phải luôn có tinh thn cu học đo lý và bồi dưỡng tri thức cả Đạo ln Đi, nhm kng ngng nâng cao nhn thức và cách sng để đối nhân xử thế một cách tốt đp nht, đy chính là nhng điu tốt lành nht mang phước đức đến cho cuộc đời chúng ta.

Biết kiên trì, phc thiện, thân cn bc Thánh Hiền, Dpp đàm hc hi, là Phước Đức lớn nht.

Tục ngVit Nam u tht bi là mthành công, vì vy trong snghip của nhng người tnh công trong đời, kng thể thiếu tính “kiên trìvà “phc thiện. Chính cuộc đời xut gia tu nh khổ hạnh của đức Pht, đến khi tìm ra cn lý khai sáng đo Pht và giáo dục nn sinh của đức Thế Tôn đã luôn thấm đm hai đức tính cao quý này, suốt 6 m tu khổ hạnh trên đồi rng già nhịn đói nhịn khát, mà Ngài vẫn chưa thể tìm ra cn lý, đến nổi tn thể chỉ còn da bọc xương và xuýt mt mạng bên bờ sông Ni Liên, đức Pht đã kiên trì” và nổ lực “phc thiệnthực nh pp tu “Trung đạo. “Sau sáu năm tự bn thân kinh nghiệm, Đo sĩ Gotama đã nhn thức chc chn rng li tu khhạnh không thể đem li lợi ích, mc dù các triết gia và các tu sĩ thời by giờ ququyết rng đó là nếp sống ti cn thiết để đạt đến cứu cánh. Thy rng khhạnh chlàm gim suy trí thức và mệt mi tinh thn, Ngài liền dứt khoát từ bỏ li tu y12. Chính nhờ hai đức tính cao quý này mà đức Pht mới có cơ hội đạt thành đo quả giải thoát sau bốn mươi chín ngày thin định đưới cội Bồ Đ, từ đó ánh sáng cn lý giác ngộ mới lan ta khắp nơi và được các thế hệ đệ tử phổ truyn cho đến ngày nay.

Sng tinh cn, tnh thc, hc chân lý nhiệm mầu, Thực chng được Niết-bàn, là Phước Đức lớn nht.

Trong cuộc sng chúng ta, ai cũng biết muốn thành tựu s nghip, đu phải tinh tn, cn cù học tp và làm vic, thế nên nhà văn LTn đã câu nói bt hrằng: trên đường thành công không

 
  1. Phạm Kim Knh (dịch)(2003), Đức Pht và Pht pp, tr 47, Nxb Tôn Giáo, Hà Ni.
 


du chân ca kẻ lười biếng. Với bài kệ trên, đức Pht dy chúng ta ngoài vic tinh tấn và cn mẫn lao động, học tập và m vic, chúng ta còn phải luôn “tnh táo nhn thcvà tham vn kinh nghiệm ca nhng người đi trước về nhng vic mình đang làm có chính xác hay không, có phù hợp với thực tiễn và nhu cầu ca xã hi hay không, hay chúng ta chỉ học và m theo sở thích, theo cm tính của riêng mình, bởi vy rt nhiều người hhc cố gng hc tập và làm vic như điên, nhưng nếu thiếu sự tỉnh táo để thy rõ được nhng điều kiện khách quan dẫn đến thành công, thì sẽ khó thành tựu trong cuc đời.

Niết-bàn là một khái nim để chỉ trạng thái tâm giải thoát khỏi khổ đau su muộn và đt được sự thanh tịnh an lc tuyt đối trong tâm hồn của nhng người tu theo đo Pht. Người tu đc đo, đang khi vn còn sng trên đời được cho là đt được Hữu dư y Niết-bàn”, đến khi qua đời xả bỏ xác thân, được cho là đt được Vô dư y Niết- bàn. Ngoài ra trong tư tưởng Pht giáo phát trin còn có hai loại Niết-bàn, đó là Vô trụ xứ Niết-bànvà Bn lai tự tại thanh tịnh Niết- bàn. Theo lời Pht dy, người nào tu hành đt đến sthực chng Niết-bàn, quả tht là người đó có phước đức vô cùng to lớn, kng thể đem tài sn của cải vt cht để so sánh được với Niết-bàn vì đây là phước đức vô lu.

Sng chung đụng nhân gian, Tâm không hlay chuyn,  Phiền não hết, an nhn, sống hoàn toàn an tịnh, là Phước Đức lớn nht.

Pht giáo phát trin thuộc tư tưởng Thin tông có khái nim thng tay vào ch, trong “thập mục ngưu đồcó n đến trạng thái bản tâm của người tu tp đt đến cnh giới cao siêu ri, thì dù cho sng chung đụng nhân gian” nhưng Tâm không hlay chuyn, kng bị stác động tiêu cực từ cuộc đời làm cho thân và tâm phải chìm đm trong tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến…hay bị trói buộc bởi lục dục tht tìnhthế gian làm cho rung động.

Ai có đời sng kng phin não, sng tự ti, an nhiên và thanh tịnh giữa cuộc đời đy dy skhổ đau, bt tịnh, bt an, vô thường và phn trc này, thì người đó quả tht là phước đc vô ng to lớn.

Cứ sống được như thế, đi đâu cũng an lành. Tới đâu cũng hạnh phúc, tht Phước Đức vô biên.13

 
  1. Thích Huyn Diu (dịch), https://www.budsas.org/uni/u-vbud/vbkin020.htm.
 


Đức pht nhn mnh trong bài kệ cuối, nếu ai sng và thực hành đúng như nội dung mười bài kệ nêu trên mà đức Pht đã dy, thì người đó hội đủ tt cả nhng đức tính tốt đp cao thượng của một bc chân nhân, chính nhng điu đạo đức cao quý này đã chiêu cm và hình thành nên đời sng kng phin não, sng an nhiên tự tại mà thhưởng nim vui Niết-bàn, người này đi đến bt cứ nơi đâu cũng đu được “an lànhvà “hạnh phúc. Đây chính là người có phước đức vô lượng vô biên “không thnghĩ bàn”.

KẾT LUẬN

Qua pn tích bài kinh “Maha Mangala Sutta(Đại Phước Đức), chúng ta thy rng đức Pht là một nhà giáo dục lớn, một nhà mô phạm lớn, một nhà đo đức lớn…, các giá trgiáo dục đo đức mà đức Pht hướng đến là sphát trin toàn din đo đức con người qua các mt của đời sng xã hội hin thực, đc bit là hoàn thin đo đức m người để phát trin lên bậc tnh hin, nhằm xây dựng một đời sng an lc và hạnh phúc tht sngay tại thế gian này vi. Lời dy của đức Pht trong mười một bài kệ tht xúc tích và sinh động, phong phú các vấn đề liên quan với cuộc đời và hoàn toàn cn tht, m xúc tính nn quả hin sinh trong cuộc sng hin thực từ thưở xa xưa cho đến ngày nay.

Tóm li, bài kinh Maha Mangala Sutta(Đi Phước Đức) xưa củ này, mãi cho đến ngày vn còn nguyên tính giá trđo đức nhân sinh tuyt vời của nó, và vn thể hin trọn vn tính giáo dục nhân sinh tn cu của bài kinh này trong thời đại hôm nay.





TÀI LIỆU THAM KHẢO

http://tripitaka.cbeta.org
http://www.quangduc.com

https://langmai.org/phapduong/phap-thoai-phien-ta/gi- ang-kinh/giang-kinh-phuoc-duc.
https://thuvienhoasen.org
https://www.budsas.org

Phm Kim Khánh (dịch)(2003), Đức Pht và Pht pháp, Nxb Tôn Giáo, Hà Ni.

Thích Minh Châu (dịch) (2015), Kinh Tiểu Bộ (quyn 1), Nxb Tôn giáo, Tp. HCM.

Thích Nht Từ (2014), Kinh Pht cho người tại gia, tr 259-262, Nxb Hng Đức, TP. HCM.

Thích Thin Châu (dịch), Kinh Chân Hạnh Phúc (Maha Man- gala Sutta), xem trên Trang nhà Qung Đức. http://www.quang- duc.com/kinhdien/kinhchanhanhphuc.html, tải xuống ngày 20/12/2018.

Vin nghiên cứu Pht học Vit Nam (nhiu tác gi) (2001), Giáo dục Pht go trong thời hiện đại, Nxb Tp. HCMinh.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây