7. GIÁO DỤC PHẬT GIÁO CÙNG THIẾU NIÊN VƯỢT QUA KHỦNG HOẢNG TUỔI DẬY THÌ

Thứ sáu - 03/05/2019 05:10
Nguyễn Thị Liên
- ThS., Giảng viên Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Việt Nam.
99
 
GIÁODCPHT  GIÁONGTHIẾUNIÊN VƯỢT QUA KHỦNG HONG TUỔI DY THÌ

Nguyễn Thị Liên*


M TẮT
Không phải ngẫu nhiên ngày nay, Phật giáo được nhân loại tôn vinh một trong những tôn giáo một triết lý sống nhân văn thiết thực nhất. Đạo Phật tôn giáo xuất phát từ hiện thực con người con người, nhm hướng con người đi đến hnh phúc an lạc. S dĩ được tôn vinh như vậy do toàn bộ giáo lý của Đức Phật thể hiện một nếp sống đạo đức với những đặc trưng riêng biệt, nổi bật khi chúng ta trải nghiệm sẽ nhận được các giá trhạnh phúc. Trong quá trình phát trin tại Vit Nam, đo Pht không chỉ đơn thuần truyền tải niềm tin của con người còn vai trò góp phần duy trì đạo đức hội thế thể xemnhư một phần tài sản văn hóa dân tộc. Ngoài những điểm phù hợp với tình cảm đạo đức của con người, giáo dục Phật giáo còn thực hiện thông qua tình cảm, tín ngưỡng, niềm tin vào giáo . Do đó, giáo dục Phật giáo được người Việt tiếp thu, tạo thành đức tin thiêng liêng n trong chi phối hành vi ứng xử của quần chúng trong c quan hệ cộng đồng.
Tuổi mới lớn giai đoạn trẻ em trải qua nhiều thay đổi về tâm , những điều không đáng lo bởi thuận theo sự phát triển tự nhiên của con người, nhưng cũng những dấu hiệu khủng hong trầm trọng cần sự đồng hành của gia đình hội. Giáo dục Phật giáo với triết lý từ bi, hỷ xả, cứu khổ, cứu nạn…, Phật giáo đã dễ dàng đi vào lòng người, hướng con người đến lối sống vị tha, bình



*. ThS., Giảng viên Trường Đại học Tài nguyên Môi trường Hà Nội, Việt Nam.
 


đẳng, khoan dung hoàn toàn phù hợp để giúp trẻ vị thành niên vượt qua khủng hoảng tuổi dậy thì hướng trẻ đến lối sống an lành, hạnh phúc.
  1. TUỔI DY THÌ GIAI ĐON ĐỐI DIỆN VỚI NHỮNG BIẾN ĐỔI KHÓ KHĂN VÀ PHỨC TẠP NHT TRONG CÁC LỨA TUỔI
Tuổi dậy thì thời kỳ chuyển tiếp từ giai đoạn trẻ thơ sang giai đoạn trưởng thành, thời kỳ trẻ không còn trẻ con nhưng vẫn chưa người lớn. Đây thời kỳ mà bất cứ một thiếu niên nào cũng phải trải qua những biến đổi quan trọng về thể cũng như về tâm hồn. Vì vậy, tuổi dậy thì cùng nhạy cảm bởi trẻ phải thích ứng với sự thay đổi đồng loạt từ thể chất đến m sinh .
Theo sự phát triển bình thường của con người, giai đon độ tuổi từ 13 - 18 thể nói một trong những giai đoạn nhiều biến động nhất, lý do trẻ nhiều sự biến động về tâm sinh . S thay đổi lớn về cơ thể ở giai đon trước (13 -16) cũng như hoàn thiện về mặt tâm sinh lý ở giai đoạn sau này (16 - 18) cũng góp phần biến đổi mnhiu hơn ở giai đon dậy thì của trẻ vị thành niên.

Hình thành những cảm xúc mới lạ

Khi còn nhỏ, các trẻ đã biết phân biệt bạn trai bạn gái dựa vào các đặc điểm phổ biến bên ngoài theo như thầy , ba mẹ dạy. Thời gian này, tâm sinh lý của bé trai gái như nhau, không sự khác biệt rõ rệt.
Bước qua giai đon từ 6 - 10 tuổi, trẻ đã sự phân biệt rõ hơn về giới. Tr gái khi chơi cùng bạn trai sẽ nảy sinh cảm giác xấu hổ, bất an. Tuy nhiên, những cảm xúc bị thu hút hay hấp dẫn của hai phái vẫn chưa hình thành. Sau 10 tuổi, bước vào giai đoạn dậy thì, trẻ hiểu hơn về sự khác biệt cũng như sự hấp dn giới tính, bắt đầu thấy thích thú đối với sự khác biệt mối quan hệ gữa hai giới.
T 14 - 15 tuổi trở đi, sự gia tăng nhanh chóng của các hooc - môn sinh dục cùng với nhận thức hơn về giới tính đã thôi thúc trẻ nảy sinh tình cảm với bạn khác giới. Ở giai đoạn phát triển tâm trẻ dậy thì, đặc điểm sinh học của hai giới đã sự khác biệt nét. trai đã đủ đường nét của người đàn ông trưởng thành, râu, lông chân, lông nách, thân hình cao lớn, vai rộng bắp. Còn thể bé gái thì trở nên mềm mại hơn, ngực mông to lên
 


tạo thành những đường cong quyến . Giai đoạn này, trẻ đã bắt đu nhận thức được các khái nim thích, yêu, kết, cp đôi. Đặc biệt, cảm xúc của trẻ lúc này rất dễ hình thành cũng nhanh chóng thay đổi. Chỉ cần một bạn trai học giỏi, một bạn gái mái tóc dài, một anh chàn nhặt hộ đồ đánh rơi trẻ đã thể rung động dễ dàng đánh đồng những rung động đầu đời của mình thành tình yêu. Tuy nhiên, cảm xúc nhận thức trong tâmtrẻ dậy thì chưa chín chn, chưa ổn định n những tình cảm mới mẻ ở trẻ cũng thoắt n thoắt hiện.
Cùng với sự phát triển tâm lý giai đoạn dậy thì, nhu cầu tình dục trẻ cũng hình thành. Tr luôn thích khám phá về quan sinh dục các hành vi liên quan đến tính dục. Với bản tính , ham khám phá cùng với sự nhầm tưởng tình yêu tuổi teen chưa ý thức được hậu quả, các em dễ hành động theo bản năng dẫn đến những hậu quả đáng tiếc.

Những diễn biến tâmbất thường

Một số trẻ đi qua tuổi dậy thì rất nhẹ nhàng, nhưng nhiều trẻ khác lại dễ bị tổn thương, dễ những hành vi quá khích, điều đó phụ thuộc o tính ch từng em.
Thông thường ở giai đoạn tiền dậy thì, trẻ đã ý thức về bản thân, bộc lộ cá tính, sở thích, qua đó ta thể nhận biết trẻ thuộc tính cách nào. Chẳng hạn trẻ rất năng động, cởi mở, nhiều bạn , thích được ra ngoài vui chơi, điều đó thể hiện trẻ tính cách hướng ngoại. Ngược lại, trẻ chỉ thích ở nhà, không thích những chỗ đông người, nhút nhát, ít nói thụ động cho thấy trẻ tính cách hướng nội. Ngoài ra, còn những trẻ thiếu tính quyết đoán, thường tra do dự theo kiu sao cũng được.
Một số yếu tố tác động đến tính cách trẻ trong giai đoạn này, việc ăn uống sinh hoạt thất thường cũng dễ khiến trẻ áp lực căng thẳng tăng cao. Các biểu hiện dễ thấy nhất đó biếng ăn, mất ngủ, mệt mỏi, dễ cáu gắt, lo âu, học tập giảm sút… Nặng hơn, một vài trường hợp c biểu hiện như nói năng lung tung, khóc cười cớ, dễ hoảng sợ, ngại tiếp xúc với người khác,…thậm chí còn ý định tự tử.
Trầm cảm cũng dễ xảy ra trong giai đoạn phát triển tâmtrẻ dậy thì. Những triệu chứng của trầm cảm bao gồm hay buồn bã,
 


không quan tâm tới mọi thứ xảy ra xung quanh cả với bản thân, dễ mệt mỏi, mất hy vọng vào tương lai,… Khi rơi vào trầm cảm, trẻ thường tự lập mình với thế giới bên ngoài. Thậm chí, rất nhiều trẻ chỉ quan tâm tới thế giới o” liên tục sống trong “cõi mộng mơ” ấy. Điều này khiến cho cuộc sống của trẻ trở nên nhàm chán, u ám, thiếu niềm tin, xa rời thực tại. Những triệu chứng của trầm cảm xuất hiện do áp lực từ sự thay đổi n trong m sinh lý mỗi trẻ, áp lực học tập, căng thẳng quá mức từ kỳ vọng của ba mẹ, thầy , bạn ,...những biểu hiện trên không được điều chỉnh kịp thời sẽ dẫn đến tình trạng nghiêm trọng hơn.

Những mong muốn bản ngã

Trcần kng gian riêng
Tâm lý của những bạn trẻ tại thời điểm này muốn khẳng định bản thân, trẻ đang trong giai đoạn tìm ra cái tôi riêng của bản thân mình. S kiểm soát của cha mẹ như liên tục gọi điện thoại, nhắn tin hỏi thăm liệu con đangđâu, mấy giờ về nhà, đang đi cùng ai, đã học xong chưa?... so sánh con với người này, người kia, bảo vệ con quá so với mức cần thiết như đèo con đi học trong khi nhà gần mặc con mong muốn tự đi học, sợ con gặp nguy hiểm nên dắt con sang đường, quản lý bữa ăn hàng ngày của con còn một số việc khác,… khiến trẻ cảm thấy chúng không không gian riêng tư, bị thấy bó buộc quá về gia đình. Nếu điều này liên tục xảy ra trong thời gian quá dài, với tần suất lặp đi lặp lại nhiều lần khiến trẻ cảm thấy không được tôn trọng cảm xúcnhân xảy ra một số hành vi chống đối hoặc bộc lộ cảm xúc bực bội, khó chịu.

Trmong muốn được khám phá kng gian, thế giới bên ngoài

Đ tuổi này, trẻ luôn khao khát được khám phá tìm hiểu sâu hơn về thế giới bên ngoài, những kiến thức bên ngoài còn quá nhiều thứ mới lạ hấp dẫn. Nhưng cũng như đã nói phía trên, giai đoạn này, trẻ lại rất muốn khẳng định tìm cái tôi riêng của bn thân mình cho n đối với một s trường hợp nhất định, trẻ lại muốn tự tìm tòi khám phá điều mới mẻ ấy bng chính sức mnh của bản thân mình. Điều này kích thích sự hiếu kỳ của trẻ cũng một điều trợ giúp trẻ trong giai đoạn tìm ra nét đặc trưng riêng trong cái tôi.
Vì thế, đối với một số hành động của cha mẹ như quá quan tâm
 


hay chỉ dn đường, hướng cho trẻ thì trong trường hợp định hướng đó trùng hợp với ý nghĩ mong muốn của trẻ thì không vấn đề đáng ngại, nhưng nếu như ý nghĩ mong muốn của cha mẹ lại trái ngược với những trẻ mong muốn cha mẹ lại bắt buộc trẻ theo hướng đó với suy nghĩ rằng điều ấy điều tốt nhất cho trẻ thì thể xảy ra những bất đồng. Tr thể coi hành động ấy của cha mẹ sự kiểm soát quá đáng không cam chịu trước sự sắp đặt ấy không hiểu rằng cha mẹ chỉ muốn quan tâm mong muốn sự tốt nhất cho con thôi. Điều này thể gây ra sự căng thẳng trong gia đình khi trẻ luôn cố gắng chứng tỏ rằng hướng suy nghĩ của mình đúng đắn. Việc cha mẹ lắng nghe coi trọng suy nghĩ nhân của riêng trẻ thể khiến cho trẻ cm thấy cm kích biết ơn cha mẹ hơn. Lúc này những sự phân tích từ phía cha mẹ thể khiến trẻ dễ tiếp nhận lắng nghe hơn sự ép buộc ban đầu. Điều này mang lại sự lợi cho cả đôi bên.

Trmuốn thể hin bản sắc cá nhân vmong muốn được thừa nhận

Giai đoạn này, trẻ đang khao khát tìm kiếm bản sắcnhân, nét đc trưng của bn thân mình, điều mà m mình khác biệt với nhng người khác. Bn sắc nhân được hiu trả lời nhng u hỏi liên quan như sau: Tôi l ai? Tôi làm gì trong cuộc ́ng này? Tôi muốn gì? Chính trong giai đoạn này, trẻ luôn băn khoăn suy nghĩ tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi đó, nên sự thay đổi hành vi của trẻ điều thể hiểu được. Có một số trường hợp muốn tìm tòi bản sắc nhân của mình mà trẻ tham gia o nhng hội nhóm xấu hay nhng hành vi bất thường dụ như đánh nhau, t thuốc, uống rượu bia,… Cha mẹ nên từ từ khuyên giải thật nhẹ nhàng giải thích cho trẻ hiểu, không nên quá gay gắt chỉ trích trẻ thể khiến trẻ ng hành vi trái ngược lại với lời cha mẹ nói.
Tuổi dậy thì độ tuổi “không còn trẻ con chưa người lớn những diến biến m khá bất thường. Điều này quy luật m lý học, sinh học của một giai đon nhất định mỗi đời người, tuy nhiên mỗi gia đình trẻ vị thành niên thường gặp phải những khó khăn, những rào cản tâm lý” trong giai đoạn này. Vì thế, chúng ta cần một giải pháp để sự quan m của gia đình, hội định hướng đúng đn, phù hợp với suy nghĩ m lý học lứa tuổi của trẻ nhm mang đến sự phát triển hoàn thiện về tâm, trí, thể, mỹ giúp trẻ vượt qua thời kỳ khủng hong này một ch nhẹ nhàng.
 
 
  1. GIÁO DỤC PHT GIÁO NHNG GIÁ TRỊ NHÂN N SÂU SẮC
Giáo dục quá trình được tổ chức ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy người học theo hướng tích cực, nghĩa góp phn hoàn thiện nhân cách người học bằng những tác động ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại phát triển của con người trong hội đương đại. Giáo dục bao gồm việc dạy học, giáo dục nền tảng cho việc truyền thụ, phổ biến văn hóa từ thế hệ này đến thế hệ khác. Giáo dục phương tiện để đánh thức nhận ra khả năng, năng lực tiềm ẩn của chính mỗi cá nhân, đánh thức trí tuệ của mỗi người
Giáo dục Phật giáo được hiểu dạy cho con người biết hiểu giáo Phật giáo. Qua đó, bồi dưỡng, phát triển con người hoàn thiện hơn về mặt trí thức m thức, để trở thành những con người tốt hơn, phẩm hạnh đạo đức, trở thành những người tốt, chân thật, từ bi biết kính trọng người khác, trở thành những con người trí tuệ, sống tưởng, suy nghĩ hợp , thích ứng được với bối cảnh hội. Giáo dục Phật giáo để phát triển trí tuệ, thấu hiểu bn chất thật sự của c pháp, hiểu được những điều chân thực giá trị. Học Phật đi theo con đường đức Phật đã dạy để nhn sự chân thật, qua đó loại bỏ những quan điểm sai lầm, trái đo đức.
Giáo dục của Phật giáo rất giàu nhân bản, bởi nó giúp cho mọi người niềm tin chân chính, quyết tâm thực hành chánh pháp để trở thành những con người hoàn thiện, những con người đời sống thanh cao, với hai phẩm chất nổi bật từ bi trí tuệ.
Ngay từ khi mới du nhập vào Việt Nam, Phật giáo đã được quần chúng nhân dân đón nhận một cách nồng nhiệt bởi tư tưởng của Phật go rất gần gũi với n hóa, tín ngưỡng của dân tộc ta. Cùng với chiều dài lịch sử dân tộc,tưởng T bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn” của nhà Phật đã hòa quyện vớitưởng yêu nước, nhân nghĩa của Vit Nam. Trong suốt quá trình tồn ti, đo Pht đã kng ngng truyền bá c gotưởng đo đức của mình. S truyền bá đó không chỉ nh hưởng đến c Phật tử, mà còn nh hưởng rộng rãi đến quần chúng nhân dân. Giáo dục Phật giáo để tạo nên một con người tự do, đạo đức, trí tuệ, sống tưởng, suy nghĩ hợp , thích ứng được với bối cảnh hội, điều này còn ý nghĩa đặc biệt đối với giới trẻ Việt Nam hiện nay. Giáo dục Phật giáo -
 


những giá trị nhân văn sâu sắc, từ góc độ giáo dục Phật giáo, giáo dục không chỉ việc dạy việc học còn quá trình chuyển hóa nội tâm, cải tạo cái xấu, thay thế, bồi dưỡng phát huy cái tốt, trang bị cho mỗi cá nhân những nhn thức chính kiến, đức tin chân chính những phm chất m linh cao thượng để mỗi người thể làm hành tranglượng cho đời sống an lạc, hạnh phúc của mỗi cá nhân, gia đình, học đường cộng đồng hội.
Ngoài việc đào tạo ra đội ngũ trí thức tôn giáo các chức sắc cho Phật giáo Việt Nam, giáo dục Phật giáo còn vai trò rất lớn trong việc phát triển đời sống văn hóa tinh thần tâm linh của nhân dân nói chung giới trẻ nói riêng, góp phần giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực đối với trẻ vị thành niên thông qua hoạt động của c chùa, ka tu, c giờ giảng đo, chương trình từ thiện....
Phật go đã đi o m thức của hầu hết người dân Việt Nam, lấy chùa làm nơi tu tập, tìm chốn bình yên cho tâm hồn. Mục đích của Phật giáo không phải chỉ đem lại cho Phật tử cảm giác yên ổn, nơi hiện thế xa hơn đem lại sự an lạc miên viễn. S an lạc của tâm hồn chan hòa với một hội phồn vinh, thực hiện phương châm tốt đời, đẹp đạo. Đạo Phật còn chỉ ra phương pháp, con đường để đạt tới hạnh phúc, con đường để tạo ra một con người hoàn chỉnh. Thượng tọa Thích Chơn Thiện khi nói về mục tiêu giáo dục Phật giáo cũng nhận định: Một đường hướng giáo dục ́t luôn luôn nhắm đến hai mục tiêu đó l đào tạo con người xã ̣i v con người chính nó. Nếu thiếu đi ̣t trong hai mục tiêu ấy l ̣t nền giáo dục không hoàn chỉnh [7, tr.60].
H thống giáo dục Phật giáo Việt Nam đã từng bước hiện thực hóa mục đích này bằng con đường hội hóa, lý tưởng của Phật Pháp làm cho chúng sinh đều được giác ngộ, tức đưa đạo Phật vào đời, thực hiện thông điệp cứu khổ của đức Phật đến với từng nhân, từng nhóm người, từng tập thể, tiến đến việc phổ biến cho quảng đại quần chúng.
  1. GIÁO DỤC PHẬT GIÁO GÓP PHẦN BỒI DƯỠNG LỐI SỐNG NH MẠNH, TÍCH CỰC, VƯỢT QUA NHỮNG DIỄN BIẾN TÂM LÝ BẤT THƯỜNG CỦA LƯA TUỔI
Ngày nay, trước những biến đổi trong đời sống hội trong nhân mỗi người… giới trẻ cần phải giữ cho mình một bản lĩnh
 


vững vàng, lối sống lành mạnh, nhân ái, biết đoàn kết, yêu thương con người, biết vươn n m chủ bn thân. GoPhật go hướng con người hành thiện, nhân ái, bao dung dần đi vào tâm thức con người Việt Nam nói chung, giới trẻ Việt Nam nói riêng, góp phần xây dựng cuộc sống phồn vinh, tốt đời đẹp đo.
Giáo dục Phật giáo với rất nhiều giáokhuyên răn con người, xây dựng cho họ lối sống lành mạnh. Phật giáo khuyên con người sống ở đời phải nhớ T ân” bốn ơn lớn: ơn cha mẹ, ơn thầy bạn, ơn quốc gia, ơn Tam bảo. Công lao sinh thành, nuôi nấng, dạy bảo của cha mẹ cả đời mỗi người cũng không thể đền đáp hết. Giáo dục Phật giáo hướng lớp trẻ phải hiếu hạnh, luôn biết cung kính cha mẹ, vâng lời hết lòng phụng dưỡng cha mẹ, ơn thầy, ơn bạn, đó những người đem đến cho ta những tri thức để ta trưởng thành, khôn lớn, đạo đức. Ơn T quốc, nhờ đó ta được cuộc sống bình an. Ơn Tam bảo, ơn đức Phật đã xây dựng nên một học thuyết đạo đức. Những điều Giới luật trên đã góp phần hướng quảng đại quần chúng nói chung, trẻ vị thành niên nói riêng sống lòng từ bi, bình đẳng, luôn tu dưỡng rèn luyện đạo đức hoàn thiện nhân ch bn thân.
Có thể nói, quan niệm về từ, bi, hỷ, xả làm việc thiện một trong những quan niệm giá trị nhất của Phật giáo không chỉ giúp con người sống cuộc đời đạo đức, lành mạnh còn giúp ngăn ngừa vượt qua các tệ nạn hội, đồng thời nó kích thích con người yêu thương lẫn nhau làm nhiều việc thiện. Nghiêm túc thực hành các điều hướng thiện như trong kinh Phật răn dạy thì chúng ta sẽ xây dựng được một cộng đồng chia sẻ, đùm bọc nhau trong tình thân ái. Vì thế, H Chủ tịch đã nhận xét: Tôn chỉ mục đích của đạo Phật nhằm y dựng cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui v no ấm [2, tr. 290].
Ngoài ra, hệ thống Giới luật chặt chẽ, phong phú với nội dung được thể hiện chủ yếu trong ngũ giới, Giới luật Phật giáo vừa chỉ ra con đường tu tập để thoát khỏi mọi khổ đau trên thế gian này, vừa chỉ ra những lời khuyên răn, khuôn khổ của hành động, phạm vi đo đức con đường tu dưỡng, n luyện của mỗi người. Bng tinh thn tự gc, tự nguyện giữ gìn Giới luật, trước những biến động của đời sống, của tâm sinh , giới trẻ sẽ được lối sống lành mạnh, nhân n, an lạc.
 


Phật go khun con người giữ ngũ giới, nếu bất cứ ai thực hành các chỉ dẫn này sẽ gặt hái được ích lợi. Thực hành ngũ giới, lớp trẻ sẽ hạn chế sát sinh, ý thức tôn trọng bảo vệ quyền sống, sự sống của muôn loài, trong đó con người, con vật, thực vật... Tôn trọng bảo vệ đời sống của mọi loài động lực hữu ích nhất thiết thực nhất để tôn trọng bảo vệ đời sống của chính bản thân. Giữ giới không trộm cắp không tàng trữ những của cải phi pháp, không buôn lậu, không tham nhũng, không khai khác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi, giới trẻ dưỡng mình phải sống trung thực, sống lương thiện, sống vị tha, sống đo đức, không tham n si, sống biết đủ với của cải của mình tạo ra, không xâm phạm tài sản của người. Giữ được giới không dâm cuộc sống sẽ luôn bình thản, không sợ tình cảm gia đình sứt mẻ, không sợ hội chê bai, thăng tiến trên đường đời, đường đạo. Phật tử hay không phải Phật tử, nếu giữ được giới này thì bản thân luôn được an lành, gia đình an lạc, đoàn kết, hòa hợp, không bị tan vỡ. Không nói dối sẽ giữ được niềm tin ở tất cả mọi nơi, nó đem lại hòa bình, hòa hợp, đoàn kết cho mọi người. Giới không uống rượu bởi c th ấy dễ khiến cho con người ta mất minh mẫn, hành động lời nói thường dẫn đến những điều sai trái, không kiểm soát được. Việc giữ gìn giới không uống rượu c chất kích thích khác để bo vệ an ninh trật tự hạnh phúc cho cá nhân, gia đình hội. Điều này đặc biệt quan trọng trong go dục trẻ mới lớn vượt qua những m dỗ của hội, hướng mình sống thiện, sống lành mạnh phù hợp với lứa tuổi, với đo đức với xu thế của thời đại.
Thuở xa xưa Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã rời bỏ hoàng cung, từ chối giàu sang quyền lực vàoẩn trong núi Tuyết Sơn để tu tập thiền định. Qua thực tế tu hành, Tất Đạt Đa hiểu ra rằng, từ cuộc sống giàu sang tràn đầy vật chất, thỏa mãn dục vọng lẫn cuộc sống khổ hạnh ép xác đều đi chệch khỏi con đường đúng đắn. Con đường đúng đắn con đường tự mình đào sâu suy nghĩ để nhận thức chân , con đường dẫn tới yên tĩnh sự bừng sáng của tâm hồn trí tuệ, đó con đường đạt được cuộc sống hạnh phúc của quảng đại quần chúng nhân dân. Điều này được hiểu rộng ra ́t đời đẹp đạo luôn l biểu hiện bên trong v bên ngoài của ́i ́ng tích cực, an lành, l ́i quan h hữutrong đời ́nghội của đồng bào đạo v cả đồng bào khôngđạo, sự đồng thuận trong suy nghĩ của
 


Phật tử v các tầng lớp nhân dân với đạo đức Phật giáo nhằm y dựng ̣thội văn minh, lành mạnh [6, tr.164].
KẾT LUN
Có thể khẳng định, giống như văn hóa Phật giáo, giáo dục Phật giáo hiện nay đã một trí, vai trò rất lớn trong nền giáo dục nước nhà. Trong các bài ging đo của Pht giáo, các bui ta đàm, khóa tu, hầu hết giảng viên tu sĩ, những người tại gia tin tưởng, thực hành trải nghiệm những giá trị chân , triết lý đạo đức của Phật giáo, trở thành những con người truyền đạt giáoPhật giáo, lấy thân giáo làm nền tảng. Khóa sinh các độ tuổi thanh thiếu niên chiếm một số lượng đáng kể, điều này cho thấy, những giáo Phật giáo được biên soạn phù hợp với thực tiễn đời sống hội đã được quần chúng ủng hộ rộng rãi, từ đó ảnh hưởng nhất định đến việc định hướng cho giới trẻ lối sống tích cực, nhân ái, an lạc, vượt qua những diễn biến mbất thường, những c động tiêu cực từ n ngoài.
Theo quan niệm của Phật giáo, con người phải biết quay về với đời sống tinh thần tu tập, diệt trừ mọi phiền não để tâm hồn thanh tịnh, an lạc ngay trong kiếp sống hiện tại, con người biết quay về với đời sống m linh cao cả, đó phn tinh túy nhất của con người, được sống quay về với chính mình hiện tại. Có thể nói, đến với giáo dục Phật giáo đến với con đường phương pháp đạt được cuộc sống hạnh phúc trong đời này đời sau. Đây không những chỉ một trong những mục tiêu giáo dục còn góp phần ngăn chặn sự thóai hóa, xuống cấp về đạo đức, lối sống của một bộ phận thanh thiếu niên Việt Nam trước sự tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường những mặt tiêu cực của văn hóa ngoại lai hiện nay. Xây dựng một nếp sống đo đức, một nếp sống từ, bi, hỷ, xả từ trong tâm, nền tảng để xây dựng một gia đình hòa hợp, hạnh phúc, hội an bình thịnh vượng.
Hy vọng những ý nghĩa sâu sắc trên, Giáo dục Phật giáo góp phn cùng gia đình, nhà trường, hội đưa ra những giải pháp bồi dưỡng tinh thn an lạc, tự tin, biết lắng nghe, chia sẻ cùng thiếu niên vượt qua thời kỳ dậy thì một cách tích cực, xây dựng một gia đình a hợp, một hội thái bình, phát triển bền vững dựa trên c giá trị phương pháp của Phật giáo.
 

 

Tài liệu tham khảo

Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Văn kiện Đại ̣i Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VIII - Nhiệm kỳ 2017-2022, Hà Nội, 2017.
Lý Kim Hoa, Giáo dục học Phật giáo, Nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội, 2009.
Lý Minh TiênNguyễn Thị T (Chủ biên), Tâm học lứa tuổi v tâm học phạm, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm thành phố H C Minh, 2016.
Ngô Hữu Thảo, ng tác tôn giáo từ quan điểm MácLênin đến thực tiễn Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2012.
Những lời kêu gọi của H Chủ tịch (tập 4), Nhà xuất bản S thật, Hà Nội, 1958, tr.39.
Tăng Bình, Thu Huyền, Ái Phương, Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo lịch sử văn hóa trong ̣ng đồng các dân ̣c Việt Nam, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội, 2012.
Thích Chân Quang, Tâm đạo đức, Nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội, 2006.
Thích Chơn Thiện, Phật học khái luận, Nhà xuất bn Phương Đông, Cà Mau, 1997. Hồng Đức, 2018.

110

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây