6 CHÁNH NIỆM: TƯ TƯỞNG TRUNG TÂM TRONG VIỆC XÂY DỰNG CON NGƯỜI PHẬT GIÁO TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU

Thứ tư - 08/05/2019 19:58
Châu Văn Ninh - ĐĐ. Thích Minh Mẫn
59
 






 
CNH NIM: TƯ TƯỞNG TRUNG TÂM TRONG VIC XÂY DNG CON NGƯỜI PHT GIÁO TRONG BỐI CNH TOÀN CU

Cu Văn Ninh & ĐĐ. Thích Minh Mn*







ĐT VN Đ

Trong bối cnh tn cu hin nay, sxung đột giữa các tôn giáo, giữa các quốc gia luôn luôn là đim nóng trên thế giới, tàn phá bản thân con người và giá trị của con người. Chúng ta sn sàng tàn sát đồng loại của mình chỉ nhm mục đích tha mãn cái lợi cho mình, tình trạng con người hin nay đúng như Thomas Hobble (1588 – 1679) trong quyn Leviathan nổi tiếng (1651) của mình, ông nói: “Người là chó sói với người!. Chúng ta nhìn thy sự lon lc trin min với các cuộc chiến tranh đm máu, nhng cuộc xung đột với các nguy cơ hủy dit con người hàng lot, mà đúng ra trong thời đại văn minh này chúng ta cn phải sng an lành và hnh phúc, chkng phải là trong lo sợ, trong cuộc sng bt định, một tương lai vô vng như vy.

Trong khong vài chục m trlại đây, để bảo vệ lợi ích của cng đồng hay quốc gia, dân tộc mình đã hình tnh nhng liên minh với nhau “các n tc và các quc gia có các nền văn hóa tương đng thì nhóm li với nhau. c n tc và các quc gia có nền văn hóa khác nhau thì tách nhau ra. Nhng mi liên kết được xác lập theo hệ tư tưởng và các mi quan hệ siêu cường quc đang nhường chcho nhng mi liên kết dựa trên cơ sở văn hóa và văn minh1. Như vy, dù dưới


*. Th.S., Giảng viên Khoa Triết học, Đại học Khoa học Xã hội và Nn n TP.HCM, Vit Nam.
1. Samuel Hungtington, 2003, Sự va chm của các nền văn minh, Nxb. Lao động, tr. 153.
 


hình thức nào, thì nhìn chung con người vn tto ra spn bit, to ra những sxung đột vi nhau, nhằm loi trnhau bng chiến tranh hay khng b, mà không cgng tìm một đim chung đcó hòa thun vi nhau, sng bình an và hạnh phúc trong thế giới này. Chúng ta lo âu trước tương lai đy bt trc, chúng ta vi tư cách là con người, luôn mong muốn sng bình an, nh mạnh, chúng ta có quyn như vy.

Vn đề con người luôn là vn đề trung tâm trong lịch sxã hội loài người, nhà triết học thời danh I. Kant luôn bận tâm với câu hỏi: CON NGƯỜI LÀ GÌ? Và vn đề con người càng ngày chiếm vị trí càng quan trng bối cnh tn cu hin nay. Con người bị ném vào một thế giới xa lvới mình, một thế giới dửng dưng với hy vng và trơ ì với khao khát của con người. Trong thế giới y, con người phải đối mt với một môi trường sng cam go kng chỉ đe da đến nhng ham muốn của mình mà kì cùng còn muốn hủy dit chính bản thân con người. Ta phn ứng lại sự dửng dưng, sự thù địch, nhng đe da này bằng sshãi và lo âu. Thế giới khiến ta phải lo âu vô cùng vô tn, cho nên có thể nói lo âu là đc tính của đời người: Ta là loài hữu tình duy nht tra shãi vtương lai. Và shãi vtương lai chính là điu mà tlo âumuốn nói đến, chúng ta có thxây dựng một thế giới mà ở đó con người hướng đến toàn m, i cn lý toàn vn, một xã hi mà ở đó con người sng tht slà con người vi những giá trnn n vĩnh hằng, chúng ta không còn bcác lợi ích chia ct nhau, coi nhau như kthù, tìm cách hi nhau kthù.

Con người kng chỉ là con vt lo âu, mà còn là con vt duy nht biết cách làm vơi nỗi lo âu y. Con người phải đối mt với một thế giới đy him ha, với một môi trường đy him nguy, với nhng thế lực đy sức mnh. Khi đó con người chỉ có sshãi và kinh hoàng. Ở thời hin đi, con người còn to ra vt để thờ bái nỗi s của mình, để tự an ủi mình. Con người đi đến chỗ sùng bái nhng đồ vt y để gim nhẹ nỗi bt an, đó chính là con người chúng ta bị sa đa trong chính bản thân mình, mà kng có cách nào thoát ra được. Chúng ta có cách nào để cùng nhau nhìn về một tương lai mà ở đó có sn các con đường, các lý tưởng dn dt chúng ta đến một thế giới hòa bìnhvĩnh cửu kng?
  1. VN ĐCON NGƯỜI THEO QUAN ĐIM PHT GIÁO
Giai đoạn xut hin đo Pht trong lịch sn Đ, ở thời knày
 


chế độ phân bit đẳng cp rt khc nghit. Với 4 chế độ đẳng cp chính làm cho xã hội n Đrt bt công, nhng giai cp dưới luôn bị các đẳng cp trên chi phối và phục tùng xã hội. Thời knày xut hin rt nhiu các trường phái triết học, nhiu tư tưởng gia nổi tiếng, song kng có nhà tư tưởng xây dựng một hình nh con người bình đẳng với nhau, kng phân bit đẳng cp, mọi người đu bình đẳng và có thể cùng nhau tìm hnh phúc vĩnh hằng. Trong quan nim của Đức Pht, con người ai cũng có pht tính giống nhau, ai cũng có kh năng giải thoát mà kng klà nam hay nữ, đẳng cp cao hay thp, nên con người chúng ta hn tn có thể xây dựng một xã hội bình đẳng và hnh phúc cùng nhau, thoát khỏi nhng thù n và ham muốn vt cht, Vvn đề này, Đạo Pht nhìn ở my góc độ sau:
    1. Về cu to con người và nguồn gc xut hiện của con người thì Pht giáo có 3 thuyết sau: Thuyết danh sc: theo đó thì danh chỉ yếu tố tinh thn, còn sc chỉ yếu tvt cht, như vy theo thuyết danh sc con người được cu to bởi hai yếu t, vt cht và tinh thn. Thuyết lục đại: thuyết này cho rằng con người được cu to bởi sáu yếu t(lục đi) bao gm: Đa (đt, xương, thịt); Thủy (nước, máu, cht lỏng ); Ha (lửa, nhit, khí); Phong (gió, hô hp); Kng (các lỗ trong cơ th); Thức (ý thức, tinh thn). Trong sáu yếu tố trên thì năm yếu tđu thuộc vvt cht, chỉ có yếu tố thsáu là thuộc v tinh thn. Thuyết Ngũ uẩn: thuyết này cho rằng con người được cu to bởi năm yếu t(Ngũ un): sc, thụ, tưởng, hành, thc. Trong ba thuyết trên thì thuyết Ngũ un phổ biến hơn c.

Đối với chúng sinh, khi con người xut hin tức là các yếu tố cu to nên con người như Ngũ un đã đy đủ, khi duyên xut hin và được sp xếp theo một trt tự nht định, như vy là một con người xut hin. Con người xut hin cũng là do quy lut nhân qu, đây là quy lut chi phối cả vũ trụ, quy lut này gồm ba giai đoạn cơ bản gồm nhân (hetu), duyên (pratitya) và quả (phala). Vì vy con người xét cho cùng cũng là hợp tan của các yếu tố như Ngũ un mà thôi cho nên vbản cht chúng ta kng phải là một cái gì đó bt biến, mà là vô ngã, thế giới là kng thực tướng. Nhưng trong cuộc sng rt nhiu người bị ngộ nhn kng hiu điu này, họ lm tưởng rằng con người có ngã cá nhân riêng bit, cho nên để tha mãn cái tôi cá nhân đó, họ tranh giành nhau, chp mê bt ng, vì vy họ cứ phải chịu sự luân hồi mà kng thể giải thoát được. Nó ng mtôi, đánh
 


đp tôi, phá hoi tôi, cướp đot tôi”, ai còn ôm p m niệm y thì s oán hn không thnào dứt hết.2 Khác với tư tưởng truyn thống của Upanishad, cho rằng cái ngã cá nhân (Atman) của con người là một bộ phn của cái ngã vũ trụ (Brahman) vì vy cái ngã cá nhân cũng s bt biến và tồn tại vĩnh hằng cùng với cái ngã vũ trụ, cho nên trong cuộc sng trên thế gian này con người cn tu luyn để cho Atman trvvới Brahman có nghĩa là con người đã giải thoát. Pht giáo lại cho rằng con người sng chết là do duyên tan hay hợp của Ngũ un mà thôi, cho nên con người kng hề có cái ngã bt biến, cuộc sng là luôn luôn biến đổi, vô ngã mà cứ tưởng là ngã, vô thường lại tưởng là thường – đây chính là sai lm mà con người cn phải loại trừ. “Phi nhơn mà tưởng là chân tht, chân tht lại thấy là phi chơn, ctư duy mt cách tà vạy, người như vậy không thđt tới chân tht. Chơn tht nghĩ là chơn tht, phi chơn nghĩ là phi chơn. Ctư duy mt cách đúng đn, người như thế mau đt tới chơn tht.(Kinh Pháp Cú (1993), tr.16).
    1. Con người xa rời bn cht tht của mình, xa rời Pht nh là do con người thèm muốn nhng gì ngi khng của h, là vì họ vô minh với bn cht của thực sự, tham dục, khát ái. Trong thực tế, mọi thứ trong cuộc đời này đu duyên sinh với nhau, Đức Pht nêu lên điu này trong một giáo hun quan trng của Ngài. Ngài nói rng thực tại cứ trôi chy, vạn pp đu vô thường, tt cả được to ra bởi duyên sinh nn quả với nhau. Các pp đu vô thường, duyên sinh trong vòng sinh dit: kng có bn nh, cả tự nhiên, vt cht, tinh thần, giác quan hay khái nim, cụ thể hay trừu tượng, hữu cơ hay vô cơ đu trong vòng sinh dit với nhau. Tht vy, vạn pp giai kng. Chúng ta đã thy rng trong thời kì các Áo nghĩa thư cho rng con người mang bn cht thần linh thần bí, Đức Pht tin rng với bn cht của con người theo lý thuyết trên, chc chắn svẫn tồn tại ở đời này cũng như đời sau. Do đó nhim vụ trước hết của con người trong cuộc sng là chống lại nhng điu sai trái, cứ tưởng là có cá ngã cá nn cố định, và kết quả của vic tưởng tượng sai lầm này là bộc lộ cái bn ng thấp kém của mình, cái sân và cái si trong chính mình, vic chấp trước vào tự ngã mà người ta thường dính mc. Đo Pht cho rng, nn sinh khổ là do ái dục, như trong kinh Chuyển pp ln, Đức Pht nói: Bây giờ hỡi này các Tkheo, đây là chân lý
 
  1. Kinh Pp Cú (1993), Vin Nghiên cứu Pht học Vit Nam n nh, (Thích Thin Siêu dịch), tr.15.
 


cao thượng vnguồn gc của skh. Chính ái dục là nguyên nhân của si sinh. Ái hợp với m thiết tha, khao khát, bám víu i này, i kia...3, nghĩa là sự ưa muốn ngủ trần lục dục, sự ưa muốn sanh lại có sc thân. Sự ưa muốn sanh lại nhưng kng muốn có sc thân và muốn giải thoát khỏi nỗi khổ thì con người cn phi: tn dit phin não là Ái dục thì skng còn kh, kinh Chuyển pp luân viết: “Bây giờ, hỡi c Tkheo, đây là chân lý cao thượng vsdiệt kh. Đó là sự xa lánh trn vẹn và stận diệt chính i m khát ái y. Đó là sự từ b, sthoát ly và sch rời khi m ái dục(Tương ưng bộ kinh (1993) tr.613). Khi chúng ta từ bỏ ái dục, tức là chúng ta đã từ bỏ được nhng hành động gây hu quả nghiêm trng khiến cho một ái đó chìm trong bin luân hồi, tái sinh, kng thể giải thoát. Với stái sinh này chúng ta buộc phải rơi vào khổ ải và ham muốn trong một kiếp khác cũng giống như kiếp này, đó chính là sự tiếp din kng hồi kết, từ ham muốn dn đến đau kh, rồi đau khổ này lại dn đến ham muốn khác, cứ như vy mãi mãi kng dứt. Con người chúng ta chỉ cn buông bỏ hn tn, từ bỏ mọi hành động kng tt, nht là ham ái, dục vng là con người có thể được gai thoát và khi y chúng sinh sđt đến trạng thái Chân như, mà cụ thể ở đó có 5 trạng thái sau: (i) kng có sự ưa thích gì trong tâm du rt tế vi;
(ii) dứt bỏ các scố chp; (iii) kng luyến ái trong các cnh giới;
(iv) thoát khỏi svui của tam giới; (v) tự mình giải thoát cho mình
là quan trng nht.4

Trong cuộc sng của vn vt đu tuân theo quy lut nhân qu, theo quá trình sinh, thành, di, dit. Quá trình này có thể din ra trong một nháy mt đó là thuyết sát na dit - (1 sát na hay 1 nim) hay phải trải qua nhng quá trình biến đổi lâu dài. Đối với học thuyết sát na dit, nó khẳng định kng có gì tồn tại lâu hơn một sát na. Chúng ta đã thy rằng, theo truyn thống Pht giáo, mọi vt được quan nim là vô thường. Quan nim này bây giờ được phát trin xa hơn, và cgắng cho thy rằng skhác bit duy nht trong quá trình tồn tại của một svt là thời khc giữa sinh và dit, và rằng kng tiếp tục tồn tại như vy thm chí chỉ một thời khc sau khi sinh. Nếu một svt xut hin ra ở thời khc này, thì nó khác rồi ở

 
  1. Tương ưng bộ kinh (1993) tp 5, Vin nghiên cứu Pht học Vit Nam, tr. 613.
  2. Maha Thong Kham Medhi Vongs, (1999), Lch sĐức Phật Cồ Đàm, Nxb. Tp.HCM, tr. 44-45.
 


thời khc tiếp theo. Ở đây kng thể đề cp chi tiết nhng lp lun của quan đim này. Chúng ta chỉ lưu ý rằng thực tại theo học thuyết này, dù là vt cht hay tâm linh, đu là một sự lưu chy bởi vì kng có gì trong trạng thái tiếp theo cu to nên nó là bt động c. Do đó mọi quan nim của ta vsvng chc đu là o tưởng.

Trình thut trước đây của ta cho thy rằng, mc dù Pht giáo xem thực tại là một stp hợp, nhưng nó kng phủ nhn svt bên ngoài cũng kng phủ nhn tự ngã, nhưng một cách tự nhiên nó thay đổi theo giả thuyết mới vsát na dit. Kng có thực tại bên ngoài, cũng kng có tự ngã tồn tại lâu hơn một sát na. Nhưng người ta tin rằng, mọi vt vn tiếp tục như là mt chuỗi kéo dài trong thời gian, sự tương đồng của một sphn trong svt, như đã đề cp, to ra trong đu óc chúng ta so tưởng vsgiống ht nhau hay sự đồng nht. Khi Pht giáo bác bỏ ý nim về một bản thể trường tồn, thì chúng ta thy rằng tự ngã (kng quan tâm đến yếu tvt lý) phải được quan nim là một dòng chy liên tục của nhng ý nim. Bởi vì tự ngã của một cá nhân ở bt kì thời khc nào, mc dù kng giống như chính nó ở thời khc trước, nhưng cũng kng hn tn khác bit. Từ học thuyết t-na dit, Pht giáo giải thích vnguồn gốc của sđau khổ của chúng sinh và các vn đề như: tại sao chúng ta lại bị mê lm, tại sao chúng ta phải chịu sự luân hồi sinh tử… Pht giáo đưa ra thuyếtthp nhị nhân duyên” để chỉ ra nguồn gốc nổi khổ của con người và từ đó chỉ ra cách thức để cho con người thoát khỏi nỗi khổ đó. Thập nhị nhân duyên bao gm: Vô minh, hành, thức, danh sc, lục căn, xúc, thụ, ái, thủ, hu, sinh, lão tử. Trong đó, đu tiên là vô minh, vô minh được hiu như một cái gì đó kng sáng t, mờ ti, che khut bản tính tự nhiên trong sáng của con người. Theo Kimura Taiken trong Nguyên thủy Pht giáo tư tưởng lun thì thì vô minh được hiu theo nghĩa rng còn bao hàm cả tham, sân, si. Kinh Pp Cú viết: Không lửa nào bng lửa tham dục, không cố chấp nào bền bng m sân giận, không lưới nào trói buột bng lưới ngu si, không dòng sông nào chìm đắm bng sông ái dục(Kinh Pp Cú, tr.57). Thập nhị nhân duyên được bt đu từ vô minh, đây là đim đu tiên dn con người tới đau kh. Có vô minh là có hành, hai cái này kng tách rời nhau, như vy có thể hiu hành là kết quả của vô minh. Hành to ra thức, ở góc độ nào đó hành vsau cũng là nghip. Thức là cái phân bit. Ngũ un như gia đình thì thức là chủ, bốn cái kia phải dựa vào nó. Thức tự nó kng
 


thể đứng độc lp nó phải dựa vào Ngũ un tức danh sc. Con người định hình tức có danh sc thì tt dn đến phải có lục căn (sáu cơ quan cm giác: nhãn, nhĩ, t, thit, thân, thc), tức đó din ra quá trình tiếp xúc với thế giới xung quanh (Lục trần), cái đó được gọi là xúc. Khi tiếp xúc với thế giới xung quanh to cho ta cm giác, tình cm đó là Thụ. Từ tình cm dn đến đam mê tức Ái, Ái cũng chính là tham. Đã có Ái tham, thì muốm chiếm giữ, nm giữ, đó là Thủ. Đã chiếm giữ được thì muốn nó tồn tại lâu dài, đây là Hu. Khi chết lại tìm mọi cách cho nó tái sinh, mc khác trong quá trình tồn tại họ lại gây nghip nên buộc họ phải tái sinh để trả qu. Đã có sinh thì tt phải có lãi và tử đi theo, như là hai mt của một vn đ. Như vy, theo Pht giáo, nguyên nhân của mọi đau khổ đu bt nguồn từ vô minh mà ra, cũng vì vô minh mà con người luôn luôn phải đu tranh, tranh giành để tha mãn ham muốn cái ngã cá nhân làm cho con người vướng vào bể khổ trin miên, gây ra nhng hu qu, nghip báo ở kiếp sau, mà kng hề biết rằng cả thế gian này là gi tướng, kinh Pp cú viết: “Đây là con ta, đây là i sn của ta”, kẻ phàm phu thường lo nghĩ như thế, nhưng chng biết chính ta còn không có, huống là con ta hay i sn ta” (Kinh Pp, tr.25).

Trong vn đề con người, Pht giáo chia ra làm hai phn cơ bản bao gồm phn danh và phn sc. Phn Sc hay còn gọi là hình cht gồm bốn yếu t(đt, nước, lửa và kng khí), và phn Danh hay tâm do bốn nguyên tố Thụ (Vedanta), Tưởng (Samjna), Hành (Samskara) và Thức (Vijnăna). Trong đó Danh hay tâm là quan trng nht, bởi vì từ tâm mà chúng ta suy nghĩ, từ suy nghĩ dn dt chúng ta hành động, nếu chúng ta suy nghĩ sai thì chúng ta shành động sai, ngược lại nếu chúng ta suy nghĩ đúng chúng ta cũng shành động đúng. Cho nên trong bt cứ trường hợp nào thì 4 yếu tố cu to nên tâm” cũng phải được nhn thức với tri kiến chân chính theo đúng tự tướng của nó. Khi y tâm sẽ thanh tịnh, con người skìm chế và loại bỏ nhng mong muốn do vô minh gây ra. Vì vy tâm luôn là yếu tố trng tâm, là yếu tố quan trng nht trong vn đề nghip báo, kinh Pp cú viết: Trong c pp, m dẫn đu, m là chủ, m tạo c. Nếu nói năng hoc hành đng với m ô nhiễm, skhổ sẽ theo nghệp báo kéo đến như bánh xe n theo chân con thú kéo xe. Trong c pp m dẫn đu, m m chủ, m tạo c. Nếu nói năng hoc hành đng theo m thanh tịnh, svui vẻ sẽ theo nghiệp kéo đến như ng theo hình(Kinh Pp Cú (1993), tr.15).
 
 
    1. Đạo Phật chra con đường thoát khỏi nhng đau kh, tham ái, tham dc của tt cả cng sinh, nhằm đt đến hạnh phúc vĩnh hằng. Sau khi chng ng, Đức Pht tng kết bốn yếu tngài có thể thy: S hin hữu của con người có đc đim tự bản cht sâu bên trong một cách thức nht định; có nhng nhân tố cụ thể làm thành nhng vòng ln qun liên tục; có thể được dừng lại tình trạng luân hồi y; có một con đường để giải thoát. Thy và hiu nhng khía cnh mu chốt của tình trạng này là cn thiết để một người có thể đt được giải thoát khỏi tình trạng bị mc kt vào nó. Và điu này tr thành nn tảng trong giáo lý giảng dy đu tiên của ngài, được cho là được ghi chép trong vườn lộc uyn ở Varanasi. Từ quan nim v con người như thế, Pht giáo vch ra nguồn gốc của nổi khổ và và con đường dn đến sự dit khổ nhm giải thoát chúng sinh khỏi bề khổ cuộc đời bằng Tứ diu đếvà “Bát chánh đo. Chân lý lớn th nht trong Tứ diu đế là Khổ đế (Dukkha), Đức Pht cho rằng con người sinh ra là kh, nước mt chúng sinh nhiu hơn nước bin, bởi vì chúng ta phải chịu nghip báo từ nhiu kiếp trước theo quy lut nhân quả mà chúng ta kng được biết trước, chung quy lại chúng ta có 8 điu khổ sau: Sinh, lão, bnh, tử, tương, ái, bit, ly, n, tăng, hội, cu bt đc và ngũ thịnh âm. Tt cả nổi khổ này đu có nguyên nhân của nó (Tp đế - Samudaya) - đây là chân lý lớn thhai. Bt kỳ dục vng nào gây ra stái sinh và ràng buộc cht chẽ với các thú đam mê và nhng tha mãn khi này khi khác, đu do vô minh gây ra, làm cho chúng ta mc vào tham, sân, si, kinh Pp cú viết: “Không lửa nào bng lửa tham dục, không ác nào bng ác sân si, không khnào bng khNgũ uẩn, và không vui nào bng vui Niết bàn(Kinh Pp cú ,tr.49). Tiếp đến là chân lý về Dit đế (Nirodha), đây là sự dit trừ tuyt đối và đim tĩnh lòng dục, xóa bỏ vô minh, sgiải thoát khỏi dục vng. Cuối cùng là chân lý vĐạo đế (Marga) đó là con đường để chúng ta đt tới Niết n. Để thực hin được con đường này chúng ta phải thực hành theo Bát Chánh đo và tu theo lục giới. “Bát chánh đạo là đạo thù thng hơn c đạo. Tứ đế là lý thù thng hơn c lý, ly dục là pp thù thng hơn c pp, cnhãn là bc thù thng hơn c bc thánh hiền. Chỉ có con đường này, chng còn con đường nào khác có thm cho tri kiến c ngươi thanh tịnh. c ngươi thuận m theo thì bọn ma bị ri lon(Kinh Pp cú, tr.61). Bát chánh đo gm: Chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghip, chính mnh, chính tịnh tiến, chính nim và chính định. Chính kiến là nhn
 


thức đúng, nhìn nhn rõ điu gì nên làm điu gì kng nên làm, kng nên để nhng điu sai trái che đi ssáng suốt, Chính tư duy là suy nghĩ đúng đn, Chính nghiệp hành động và làm vic theo lẽ phi, kng làm nhng gì gian trá, Chính ngnói nhng điu đúng, kng nói nhng điu sai lm giả dối, Chính mnh sng trung thực, nhân nghĩa, kng tham lam, Chính tinh tiến nỗ lực vươn lên một cách đúng đn, Chính niệm luôn luôn suy nghĩ, luôn tâm nim đến điu tt, kng được tâm nim, suy nghĩ nhng điu xu xa, Chính định kiên định tp trung tư tưởng tâm trí vào con đường đã chọn để tới giác ngvà tnh kng để bt cứ điu gì làm xa rời con đường đã chọn. Ngoài Bát chính đo, Pht giáo còn đưa ra các pháp tu khác cho hàng Pht tử nhm ngăn ngừa điu ác, làm vic thin như Lục độ và Ngũ giới. Ngũ giới (năm điu n) gm: Kng sát sinh, Kng đo tc, Kng dâm dục, Kng vng ngữ, Kng m tửu, và Lục độ (sáu phép tu) gồm Bố thí, Trì giới, Nhn nhục, Tinh tiến, Thin định, Trí tu. Các Áo nghĩa thư, ni dung ca nó ng gn tương tự, chú trng vào giới lut đcho tngã trtnh Brahman. Nng theo một trong hai slý gii vchúng, vic con người ri xa trạng thái tâm linh đích thực ca mình được quan nim không phi là thực tồn mà chlà bngoài. Do đó mục đích không phi là vươn đến i nào đó trong hin thực, mà là i phi được nhận thức trong tư tưởng. Vì thế nó ít nhấn mạnh vào strtnh, theo nghĩa đt đến i gì đó chưa đt đến. Mt lý gii khác vcác Áo nghĩa thư, ở đó tâm linh là sttiến trin, rõng rt khác ở phương din này; nng ở đó, mục đích này được xem là quan trng, và không có nhiu cách thức đđt được nó. Vi Pht giáo Nguyên thy, chính con người có ham muốn vươn ti sviên n là quan trng n một người đã đt đến viên n. Ngoài ra, theo quan đim ca Áo nghĩa t, cách trc tiếp đđt đến mục đích ti hu, thậm chí khi mc đích y được quan nim là vic nhập vào tự tánh ca Brahman, là yoga thì trái li, đức Pht nhấn mạnh vào dharma (pháp) theo ý nghĩa đo đức, được mô tnhư là ngn đèn ca cuộc sng, và chcho đức hạnh viên n hay đời sng tnh nn, không phi đơn thun là những giáo điu như vsau.

Tóm li, qua các con đường và các phương pháp trên, mục đích của Pht giáo là nhn biết được cái chân tht của cuộc sng, đó là chúng ta phải tu luyn bằng nhiu cách khác nhau nhm mục đích hiu được bản cht của cuộc sng, thoát khỏi vô minh mà nhn thức đúng bản cht của vn đề vì sao con người vn mãi xoay với
 


luân hồi, kng thể thoát ra ngoài được. Tpn tích vbn cht của con người như vy, Pht giáo đã chỉ ra con đường và cách thức nhằm giúp chúng ta đt tới Niết bàn, như Kimura Taiken viết: “Đối với nhân sinh, Pht giáo cho là kh, bởi vy mới ly tự do, gii thoát làm tiêu chuẩn lý tưởng. Song skhnão và trói buc y không phi thực stn ti khách quan, mà là căn cvào thái độ ca tâm ta cả, nghĩa là ckhư khư chấp ly cái ngãgiả di là cái tachân thc, ri trù mưu, tính kế để làm cho nó tha mãn mi ham mun ca cái ta y, nên mới có khnão, trói buc. Nếu ta có thvượt hn ra ngoài vòng tham dục ca cái ngãnhnhoi y, ta sẽ thy mt cảnh giới tự do và yên vui vô hn.5
  1. CNH NIM - TƯ TƯỞNG VCON NGƯỜI CA PHT GIÁO TRONG BI CNH TOÀN CU

Để thoát khỏi nỗi khổ mà con người chúng ta chịu trong cuộc sng này, là do svô minh mà ra, chúng ta cn thực hin theo Bát chánh đo, đó là tám con đường hay tám phương pháp thông suốt tới Niết n. Trong Bát chánh đo, là tám con đường để dn chúng ta đến hnh phúc vĩnh hằng, dn đến giác ngvà chm dứt đau khổ trong kiếp này và nhng kiếp khác chkng phải sùng bái hay các nghi lễ phức tp trong các tôn giáo khác. Bát chánh đo có thể tóm tt như sau: Chánh kiến và chánh tư duy thuộc vTuê; Chánh ngữ, chánh nghip và chánh mạng thuộc vGiới; Chánh tinh tn, chánh nim, chánh định thuộc về Định.

Chánh nim (S: samyak-smrti; P: sammà-sati) là chỉ ý nghĩ cn chính – tức là nhớ nghĩ đến tướng của các pp như thực, sng tỉnh thức, có ý thức về tn th, cm thọ và m nh. Chánh nim là phẩm cht chú m hoàn toàn được phát trin thông qua Bốn nn tảng cnh nim (Tứ nim xứ). Ở đây một người sng cnh nim về tn, về cm thọ; cnh nim vm và cnh nim về nhng đối tượng của m, nhit tnh, cnh nim và nhận thức một cách rõ ràng, sau khi đã xua bỏ m tham dục và sân hận.6

Như vy chánh nim là ý thức được cái gì đang xy ra trong giây phút hin ti, chánh nim là một sự tu tp để chính mình có mt, bởi vì trong đời sng hằng ngày nhiu khi chúng ta kng có mt,
  1. Kimura Taiken (1969), Đại thừa Phật giáo tư tưởng lun,. Tu thư đại học Vn Hnh. (Thích Qung Độ dịch), tr.19.
  2. Chan Khoon San, 2013, Giáo trình Phật hc. Nxb. TP.HCM. (Lê Kim Kha dịch), tr.84.
 


kng thực ssng trong giây phút hin ti. Cho nên chánh nim kng phải là một công cụ, một phương tin mà là một con đường. Bởi vì chánh nim là chánh đo, là một trong tám chi phn của Bát chánh đo. Vì vy, nếu chúng ta dùng tư duy siêu hình, tách chánh nim ra khỏi chánh đo thì kng còn là chánh nim, như đúng ý nghĩa của nó, mà lúc đó chánh nim trở thành công cụ để phục v cho nhng mục đích cá nhân, vk… hiu sai ý nghĩa của chánh nim tht sự, mà như vy đó không phi là cnh kiến. Chánh kiến là i thy vượt thoát mi skth, giận hờn và shãi. Vì vy, nếu cnh nim không chuyên chcnh kiến trong đó thì không phi là cnh nim tht s. Và con đường cnh nim này, theo Đạo Pht là tbtp nim, tà kiến; chúng ta – con người cn vng bước trên con đường tỉnh giác trên Thân, Cm th, Tâm và những đi tượng ca tâm.

Ý tưởng nhằm để con người thực hin vic tỉnh giác này là chúng ta cn kiên trì tu luyn, tt cả chúng ta ai cũng có thể thực hin được
vì tt cả mọi người đu bình đẳng và có khnăng như nhau, kng hề có ssai bit nào, chỉ cn sự quyết tâm, kiên trì, chiêm nghim nội tâm sâu sc và từ bỏ nhng tà nim trên các phương din Tn, Cm th, Tâm và các đối tượng của tâm. Sng chánh niệm về Thân, đó là: chánh nim về hơi thở ra vào; Chánh nim về nhng tư thế của Tn; Chánh nim vsự nhn thức rõ ràng; Chánh nim về 32 bộ phn của Tn; Chánh nim về 4 yếu tố của tứ đại tử thi. Sng chánh niệm vcảm th, đó là: Chánh nim cm giác dễ chịu; Chánh nim cm giác kng dễ chịu; Chánh nim cm giác trung tính. Sng chánh niệm vTâm, đó là: chú tâm, chánh nim về nhng trạng thái của tâm như là: tâm tham dục, tâm sân hn, tâm si mê, tâm dính mc, tâm phân tán, tâm phát trin, tâm được giải thoát và nhng trạng thái ngược lại của tâm. Sng chánh niệm vnhng Đi tượng của m, là Chánh nim về 5 chướng ngại thuộc tâm, ngủ un dính chp; sáu giác quan (6 căn) và 6 đối tượng của giác quan (6 trần); 7 yếu tgiác ngộ; từ diu đế7. Về 4 yếu tnày, trong kinh Tứ nim x (Saipatthana Sutta) thuộc Trung bộ kinh, Đức Pht lý giải về 4 nn tảng của chánh nim như sau: “Thế nào là bốn? Này c Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo sng quán thân trên thân, nhiệt m, tỉnh gc, chánh niệm để chế ngtham ưu ở đời; sng quán thọ trên c th, nhiệt m, tỉnh
  1. Xem: Chan Khoon San, 2013, Giáo trình Phật hc. Nxb. TP.HCM. (Lê Kim Kha dịch), tr.84-86.
 


giác, chánh niệm để chế ng tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tnh giác, chánh niệm để chế ngtham ưu ở đời; sống quán pp trên các pp, nhiệt tâm, tnh giác, chánh niệm để chế ngtham ưu ở đời.8 Từ đó cnh nim là nguồn lực đưa m ta vvới thực ti, sng thực với thế giới vạn pp xung quanh ta, cnh nim còn là sự tỉnh giác để m ta kng còn sao động, mờ tối bị che phủ bởi dục vng. Chánh nim còn là một nguồn ng lượng giúp chúng ta tỉnh táo, là ngọn hải đăng có khng soi sáng lời nói, vic m của mình, vic m thin để nuôi dưỡng, duy trì và phát trin, còn m ý xu xa, lời nói tà vy, vic m bt lương thì loại trừ. Chánh nim còn giúp chúng ta an nhiên tiếp xúc với thế giới và nuôi dưỡng m ng như ý thức, đon trừ hết nhng căn bnh tm căn m hại chúng ta, và thy được tự do của chúng ta, thực tnh theo tự do đó và hướng đến cái chung cho cả loài người, nên cnh nim thường hin hữu thì vic m của nó trở nên nhẹ nng, vì by giờ khng tỉnh giác cũng sáng t, khi ý khởi nghĩ điu sai lầm thì lin bị dp tt mà kng còn cơ hội phát ra lời nói hay vic m. Như thế, nhờ Chánh nim mà đưa đến sự tỉnh giác; nhờ sự tỉnh giác mà mọi mê mờ, ám muội, tà nim, vng tưởng được to trừ.

Mô hình con người được đo Pht xây dựng trong bối cnh tn cu hóa, nhm kêu gọi mọi người tỉnh giác và cu mong hnh phúc cho cả loài người, vượt qua xung đột, giết chóc và xâm hại nhau, thông qua một mô hình phù hợp cho tương lai đại đồng. Từ quan đim vcon người, với đim xut phát là sự bình đẳng và ai cũng có thể đt tới hnh phúc vĩnh hằng, với tư tưởng về chánh nim là trung tâm: kng nhng có khnăng ngăn dp tà nim, kng cho phát ra lời nói ác và vic làm ác, còn có năng lực tịnh hóa tâm thức, để đưa đến tuệ giác, mô hình này bao gồm my nội dung chính sau:
    1. Chánh nim giúp chúng ta có sự hin din hin thực một cách chính xác, để chúng ta sng với cuộc sng an nhiên, làm cho cuộc sng hin thực tốt đp cho tt c. Con người chúng ta kng thể tồn tại mà thoát ra ngoài Ngũ un (sc, th, tưởng, hành, thc), chúng ta kng thể tồn tại vô hình mà chúng ta phải chp nhn sự hin din thế giới này, chúng ta là một con người cụ th, hin thực, có xã hội, có môi trường sng, có gốc gác, ttông. Tkhi con
 
  1. http://linhquyphapan.vn/tin-tuc/kinh-tu-niem-xu.
 


người sinh ra đến khi con người chết thì bốn đại (đt, nước, gió, lửa) cũng như sáu căn và các m nh của con người luôn luôn biến đổi, theo thin sư Thích Nht Hnh thì thực tập cnh nim để thy được bn tn, sau đó ta chú ý tới gia đình của mình vì gia đình là tm. Kng thể chỉ quan m đến nghề nghip mà sao ng gia đình được. Có thể gia đình ta đang có đau kh, s hãi hay lo lắng. Chánh nim giúp nhận din nim đau nỗi khổ và chuyn hóa chúng. Chánh nim là khng có mt một trăm phần trăm. Khi thương, món quà quý nht mà ta hiến tặng người ta thương là scó mt đích thực của ta9. Chánh nim kng nói đến con người chung chung vô định, vì đó là quan nim sai lầm, dễ dn ta đến chỗ ng nhận, rơi vào vô minh, và tt nhiên Pht giáo cũng hoàn toàn kng nhấn mạnh đến chnghĩa cá nn như phương tây – đề cao cái tôi. đây đo Pht lưu ý rng: kng đề cao cái tôi cá nn – nhưng mà chấp nhận con người hin thực, đó là sgiải png khỏi cái ràng buộc của tự ngã, khi mở được con mt của trí huệ thì nghị lực và ng ng hái của chúng ta sng trưởng, nh động của chúng ta luôn hợp lý và vị tha10. Điu này đã được Đức Pht đã nói như sau: Này Sariputta, nhng ai nói mt cách chơn chánh sẽ nói như sau: Một vhữu tình không bị chi phi, đã sanh ra ở đời vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lc cho chư Thiên và loài người”. Vy sẽ nói vTa mt cách chơn chính như sau: Một vhữu tình không bị si chi phi, đã sanh ra ở đời, vì hạnh phúc cho số đông, vì an lc cho số đông, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lc cho chư Thiên và loài Người. (Trung B, I, 83).
  1. Chánh nim là đời sng hin thực, có thực, tức là chúng ta phải nhn thy stồn tại của các svt hin tượng khác – mc dù chỉ là ở giai đoạn đu của quá trình tu tp, nhưng kng phải tt cả chỉ là o nh, giống truyn thống Veda-Upanishad. Chánh nim là khnăng có mt, năng lượng của chánh nim giúp ta nhn biết nhng gì đang có mt xung quanh ta. Kng có khnăng có mt đích thực thì kng thể nhìn rõ nhng người khác và skhiến họ có cm giác bị bỏ quên, bị hiu lm hay ghét b. Nếu kng có chánh nim thì kng thể giúp mình hay giúp người, kng thể thành


9.https://langmai.org/tang-kinh-cac/bai-viet/bai-hoc-dau-tien-ve-thuc-tap-chanh-niem/
  1. Theo: Jean Francois Revel và Matthieu Ricard, 2008, Đi thoại giữa triết hc và Phật giáo. Nxb. Văn hóa thông tin, tr. 206 (HHữu Hưng dịch).
 


công trong công việc. Chánh nim giúp chúng ta đối din với cuộc sng và các vn đề tn cu như: vn đề như sức khỏe, nn đói, kinh tế, công ngh, bnh tt, xung đột tôn giáo, chiến tranh... và cn tìm ra nguyên nhân của tình trạng này để từ đó chỉ ra con đường đoạn trkhổ não, mà hướng dn con người đi theo đúng với chánh pháp nhm loại trừ hết nhng tai ương.

Nếu kng có cnh nim thì bt cứ quyn lực nào có được cũng chỉ là tạm bợ và kng đem lại tha n rốt o, thậm chí là mang lại tai ha cho loài người, áp đt ý muốn của mình lên ý muốn của tt c, đó là ssân hận. Tt cả các cuộc chiến tranh dù là nhỏ hay lớn, dù đúng hay sai đu vô nghĩa lý vì đó nơi mà ng triu sinh mạng con người bị ngã xuống, đây cũng chính là xut phát từ thù hận, từ lợi ích cá nn, tham, si, khát dục đi ngược lại hoàn toàn với cnh nim. Đức Pht thường hay nhc nhở rng nhng ý tưởng xu xa khi gng vào ái dục thì dễ tnh nhng tà kiến sai lầm. Có ai trong chúng ta mà muốn có lon lc, có đau khổ và bt an kng? Hu hết mọi người đu mong muốn sng yên nh, sng bình an trong xã hội này để mong hạnh phúc, nhng vấn đề này xy ra hằng ngày, ngay trước mt chúng ta, m cho chúng ta có thể có suy nghĩ lch lc dễ dn đến lc lối trong vô minh, sai lầm nối tiếp sai lầm, Đức Pht từng nói trong Tăng chi bộ kinh như sau: “Này gia chủ, sát sanh do duyên sát sanh to ra sợ hãi hn thù ngay trong hiện ti, to ra sợ hãi hn thù trong tương lai, khiến tâm cm thkhổ ưu. Tbỏ sát sanh, không to ra sự sợ hãi hn thù trong hiện ti, không to ra sợ hãi hn thù trong tương lai, không khiến tâm thcm khổ ưu. Người từ bỏ sát sanh làm lng du sợ hãi hn thù này(Tăng chi, III, B, 176). Chúng ta cn một m hồn giàu nghị lực của nhng con người cn tu và ý chí st đá, luôn ta ta một uy lực mà nhng người xung quanh có thể cm nhận được, sức mạnh nội m này đến từ san nhiên tự tại mà biu hin bên ngoài là tự nhiên như nhiên, vng ng kng lay chuyn, tin vào cnh pp và con đường tu đo đã lựa chọn, nhằm đt đến hạnh phúc cho mọi người, Đức Pht nói các đệ tử rng: Này các tkheo, hãy du hành, vì hạnh phúc ca quần chúng, vì an lc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lc cho chư Thiên và loài người. Chớ có đi hai người mt ch. Này các Tỷ-kheo, hãy thuyết pp, sơ thiện, trung thiện và hậu thiện có nghĩa có văn. Hãy tuyên thuyết Phm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tnh (Tương ương bộ kinh, I,128).
 
 
  1. Chánh nim m cho con người nhận ra đâu là nguồn gốc của khổ đau và cách thức m cho vơi đi nỗi khổ này, nhằm mang con người đến hạnh phúc vĩnh hằng. Chánh nim còn giúp chúng ta kng shãi, vươn lên trong vic tìm kiếm san nhiên và chuyn hóa nổi đau kh. Nỗi khổ của chúng ta là do xut phát từ Lửa nào bng lửa tham, chấp nào bng chấp sân hn, lưới nào bng lưới si, sống nào bng sống ái’ (Pháp cú, 251)

Chánh nim tự nó là một m nh thin và tốt nh, đo Pht đưa ra các nguyên tc sau đây:  “(i) Giới đu tiên ca Pht là từ b ý tưởng y tn hi hay giết bt kỳ sinh vt hữu hình nào, dù trực tiếp hay qua trung gian người khác; (ii) Nhn mạnh đến lòng từ bi bát ái;
(iii) Theo đi lý tưởng mt li mưu sinh liêm chính, mt yếu tố trong Bát chánh đạo đưa tới Niết bàn, nhm ngăn ngừa được cuc sống y đau khcho tha nhân.11 Chánh nim đòi hỏi một sự bình thản và buông xtoàn vn, tt nhiên chúng ta cũng kng lạnh lùng bỏ mt cuộc sng, bỏ mt thế sự. Khi tâm ta trnên trong sáng, đúng vi bn lai din mục, thì ta không còn ý thc tham hay si vi vt này hay vic kia na. Vì vy, chánh nim cũng là hết tt cnhng yếu tva kra đó – ý thức, chú tâm, trong giphút hin ti, có chđích – và thêm một điu quan trng này: là vi một thái đbình thn và buông xkhông dính mc, Đức Pht từng nói: Lành thay, thường chánh niệm. Nhniệm lc tăng trưởng. Có niệm ngày mai đẹp. Hn thù được gii thoát.(Thế Tôn) Lành thay, thường chánh niệm. Nhniệm lc tăng trưởng. Có niệm ngày mai đẹp. Hn thù chưa gii thoát. Vi ai trn ngày đêm. Tâm ý lc, bt hi. Ttâm mi hu nh. Vy không thù hn. (Tương ương bkinh, I, 260).

Chánh nim là một phương pháp tu tp gin dị nhưng có một năng lực vô song, có thể giúp ta thoát ra và tiếp xúc lại được với tuệ giác và ssng của mình. Đây cũng là một phương cách giúp ta làm chlại được đường hướng và phm cht của đời mình, trong đó có nhng mối tương quan của ta trong gia đình, ngoài xã hội, rng hơn nữa là với thế giới và trái đt này, và căn bản hơn hết là với chính ta, như một con người, như Đức Đt Lai Lt Ma thường i: “Tôi không phi đến phương Tây để có thêm vài ba tín đồ Pht tử, nhưng là để chia sẻ kinh nghiệm mt nền minh triết mà Pht go đã

 
  1. Đỗ Kim Thêm, 2013, Quan điểm ca Đo Phật trước các vn đề hiện đại. Nxb. Hng Đức, tr.19-20.
 


phát triển qua nhiều thế kvà Ngài thường hay thêm vào đon cuối các bài giảng: Nếu các ông thy cái gì có ích trong nhng gì tôi trình bày thì xin các ông tùy nghi sdụng, bng không thì xin quên nó đi.12
  1. Chánh nim giúp chúng ta nhìn lại vào bên trong, nhn thức được cái thực tướng của vn pháp, tnh nhng sai lm vướng phải trong cuộc sng xô b. Chánh nim giúp ta thy được tự tánh của vn vt, tức là tâm chúng ta an nhiên nhn thức đúng vsvt và nỗi đau, đó chính là tuệ giác của chúng ta. Chánh nim là phương pháp tu tp căn bản, cốt lõi của đo Pht, là đim khởi hành hết sức thiết yếu trên đường tu tp. Chánh nim chính là phương thuốc giúp chúng ta rời ra nhng gì kng tt, rời ra vô minh, tham dục... từ đó làm cho chúng ta tỉnh ngộ nhn ra thực tướng của vn vt, Đức Pht dy rằng: Chúng sinh cu an lạc. Không ng trượng hi người. m an lạc cho mình. Đời sau được hưởng lạc” (Pp cú, 132). Người có Chánh nim dù làm bt cứ một vic gì cũng chủ động, ý tứ, ngăn np và được hướng dn bởi tư tưởng chân chính. Ở đó thoát ra một phong thái đim đm, trong sáng, một năng lượng tinh khiết tn đy, như ngọn hải đăng để mọi người noi theo. Nhờ có Chánh nim mà tâm được định tĩnh an tường và bu kxung quanh họ cũng tươi mát trong lành, khiến mọi người cm thy dễ chịu. Ðây là một sự tht rt tế nh, một cung cách hoàn thin do Chánh nim tỉnh giác mang cho chúng ta, bng cách: (i) Nim Pht hiu, nh tín lực được Pht gia h, được gn gũi hình nh ca Pht mà nh gicm thy an lc; không nghĩ đến chuyn bt cnh. Do đó tâm thức thanh bch, ng t, tỉnh giác; (ii) Ln nghĩ đến Chánh nim đnhc nhở, chúng ta đi theo con đường đúng đn, kiên trì tu thin Chánh nim nhằm từ bcon đường sai lc mà đi theo con đường đúng đn. Nếu biết tbỏ tham ái, quy vvi cn n, thì đời sng scó ý nghĩa, có đo đức, vượt thoát những áp lực ca xã hi, nhận thức được những gì đúng sai, tnh được những điu bt thin, chữa nh những căn bnh ca thời đại, m vơi đi ni thống kh, m tăng trưởng ng tbi.
 
  1. Quan trng nht, cnh nim là giúp cho mi người nhận ra con đường đđt đến giác ngvà gii thoát, đó là con đường đúng đn nht mà Đức Pht đã lựa chọn đây, y các Tkheo, Thánh đtđon tận
 
  1. Theo: Jean Francois Revel và Matthieu Ricard, 2008, Đi thoại giữa triết hc và Phật giáo. Nxb. Văn hóa thông tin, tr. 168 (HHữu Hưng dịch).
 


sát sinh, tbsát sinh. Này các Tkheo, Thánh đttbsát sinh đem không shãi cho vô lượng cng sinh, đem skhông thù hn cho vô lượng cng sinh, đem không hi cho vô lượng cng sinh; sau khi vô lượng cng sinh không shãi, không hn thù, không hi vy sđược san svô lượng không shãi, không hn thù, không hi. Này các tkheo, đây là bthí th nht, là đi b thí, được biết là ti, được biết là lâu ngày, không b nhng Sa môn, Bà la môn có trí khinh thường(Tăng chi bkinh, III, A.229).

Chánh nim có thể chữa lành nhng căn bnh tham hn, sân si, chúng ta skim chế dục vng, tham ái của mình, nhng khi chúng ta rơi vào cõi vô minh, thì chánh nim slà ngọn đèn hướng dn ta ra khỏi nơi tăm tối đó. Chánh nim là nn tảng đem lại an lc hnh phúc cho mình và cho người, bởi vì sng mà kng biết mình sng thì chẳng khác gì như sng mòn. Nhìn lại đời sng hàng ngày, chúng ta thy mình sng trong quên lãng, tht nim quá nhiu, chính chúng ta tđánh mt mình trong những thời gian y mà không hay biết. Sdĩ tình trạng vong tn mà hin nay là một li sng phbiến, một phần do chúng ta thiếu tu tỉnh, phần khác do áp lực ca xã hi.

Theo các nhà nghiên cứu con đường dit kh, để chng Niết n của Pht giáo khác với các tôn giáo khác ở my đim chính sau: (i) Về Nhân sanh kh, khổ sanh do ái dục nghĩa là sự ưa muốn Ngũ trần lục dục. Sự ưa muốn sanh lại có sc thân (sc giới). Sự ưa muốn sanh lại kng có sc thân; (ii) Phương pháp gải thoát kh, Pht dy: dit tn phin não là Ái dục thì skng còn khổ; (iii) Trạng thái của sgiải thoát tht slà kng có sự ưa thích gì trong tâm dn rt tế vi, dứt bỏ các scố chp, kng luyến ái trong các cnh giới, thoát khỏi svui của tam giới13. Nhng vn đề trên nó trái ngược hn tn với li sng danh lợi, vội vàng, tranh giành lừa lọc, cá lớn nuốt cá bé, sử dụng sức mnh để tranh đot lợi ích, ... Con người bị hn cnh chi phối, xô bồ chi phối, lo vén cái lợi cho mình, hại người khác, nói lời gian trá, ... nên kng thể trvcon người nguyên vn ca chính mình. Đtnh những tnạn như vy, và mong muốn con người đi theo cnh đo nhằm gii thoát đến Niết bàn, Đức Pht dy rằng: Nếu tmình yên lặng. Như chiếc chuông bb. Ông đã chng Niết bàn. Ông không còn sinh hn(Pháp cú, 134).

 
  1. Theo: Maha Thong Kham Medhi Vongs, (1999), Lch sĐức Phật Cồ Đàm, Nxb. Tp.HCM, tr. 44.



 

Tài liệu tham kho


Chan Khoon San, 2013, Giáo trình Pht hc. Nxb. TP.HCM. (Lê Kim Kha dịch).

Đỗ Kim Liên, 2013, Quan điểm ca Đo Pht trước các vn đề hiện đi. Nxb. Hng Đức

Kimura Taiken (1969), Đi thừa Pht go tư tưởng luận,. Tu thư đại học Vn Hnh. (Thích Qung Độ dịch)
Kinh Pp Cú (1993), Vin Nghiên cứu Pht học Vit Nam n hành. Maha Thong Kham Medhi Vongs, (1999), Lch sĐức Pht Cồ
Đàm, Nxb. Tp.HCM.
Samuel Hungtington, 2003, Sva chm của các nn văn minh, Nxb.
Lao động

Tương ưng bộ kinh (1993) tp 5, Vin Nghiên cứu Pht học Vit Nam.

Jean Francois Revel và Matthieu Ricard, 2008, Đi thoi giữa triết hc và Pht go. Nxb. Văn hóa thông tin (HHữu Hưng dịch).

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây