5. PHẬT GIÁO VÀ TÌNH MẸ

Thứ sáu - 10/05/2019 01:08
Daya Dissanayake





 
PHT GIÁO VÀ TÌNH M

 
Daya Dissanayake






TÓM TT

Qua nhng bằng chng trải qua hàng ngàn năm, bài viết này c gắng mô tả Đức Pht cm nhn được tình m, và làm thế nào nhng đệ tử theo Đức Pht hiu được điu đó. Ở Sri Lanka chúng tôi đồng nht mối quan hệ giữa Pht quả và Làm m. Nhiu thế kỷ trước, các nhà thơ Pht giáo của chúng tôi đã sử dụng thut ngAma Meni- yo” để gọi Đức Pht là M, Người mẹ nuôi chúng ta hoc hướng dn chúng ta đến Niết n. Pht là một với M, và chng nào M còn ở với chúng ta, Pht sẽ luôn ở bên chúng ta, bt kể tín ngưỡng nào chúng ta tin tưởng, dù chúng ta sng ở Sri Lanka, n Đ, Vit Nam, Thái Lan, Trung Quốc, Vương quốc Anh, Nga hay Hoa K…. Làm mẹ sẽ ở với chúng ta cho đến ln tái sinh tiếp tục, hoc cho đến khi đt được Nibbana (Niết Bàn). Theo quan nim hin đi, với vic sinh con đẻ cái, thì người Msẽ ở bên chúng ta. Làm mẹ là một phm giá cao hơn nam tính và nữ tính. Chúng ta có một câu nói rằng Mẹ của chúng ta là Đức Pht tại nhà. Trong nn văn hóa của Sri Lanka, Mẹ luôn là người đu tiên được nghĩ đến. Mẹ luôn vượt lên trên cả phnhay nam giới. Trong vic thụ thai, mang vác, sinh nở và chăm sóc một đứa tr, Bà trải qua một trải nghim mà kng người đàn ông nào có thể tưởng tượng được. Trong Pht giáo, M là vũ trụ, là Phm thiên. Tình yêu của Bà là thun khiết và kng ích k, giống như tình yêu của một vPht, hay một vị thn thực sự.


Người dch: Đức Kiên
 


Đây là một nỗ lực để hiu làm thế nào Đức Pht có thể thu cm được Tình mẹ và Tình mẹ có thể được chp nhn bởi nhng người Pht tử.

TÌNH MẸ

Tình msn hin hu vi cng ta cho đến khi nào ng luân hi n tiếp tục hoặc cho đến chng nhp được Niết Bàn (Nibbana). Theo quan đim hin đi, vi vic sinh con đi, thì Tình msluôn hin hu vi cng ta.

Chúng ta có một đoạn kngôn bằng tiếng Pali để ca ngợi vM như sau:

Dasa mase urekatva-posesi vuddhi karanam

Ayu digham vassasatam-matu padam namamaham

(Mđã chở che con trong bụng suốt gn mười tháng, và Mđã nuôi dy con tht tt, cho nên con phphục dưới đôi chân của M và cu chúc cho Msng lâu tm tuổi).

Trong bài kinh Mitta, chúng ta có đoạn ksau: mata mittam sake ghare”i, dịch nghĩa Mlà bạn của mọi người ở nhà.

Chúng ta s không bao gibiết hết được những ngôn tmà Đức Pht đcao Tình mtrong skính mến và tôn trng cao nht, và Người Mnhư là một vPhạm Thiên (Brahma) hoc Chư Thiên (Deva).
Dựa trên tiu sử của Đức Pht Gautama, Ngài đã kng may mắn được nhn tình thương và s chăm sóc từ người mẹ ruột của mình. Tuy nhiên, Ngài kng mt đi tình thương từ người mẹ như bao đứa trkhác vì đã có sự chăm sóc và nuôi dưỡng như là con ruột từ người dì – bà Maha Prajapati Gotami. Đức Pht đã yêu mến và kính trng bà Prajapati Gotami như là M ruột bằng sự quan tâm cao nht. Điu này đã được mô tả trong văn học Pht giáo, cụ thể là trong bài kinh Mahapajapatigotami Apadana trích trong Tiu Bộ Kinh (Khuddaka Nikaya), thut lại vic Đức Pht đã theo sát phía sau di hài của bà Prajapati Gotami trong đám tang của bà y.

Một hình tượng đích thực về tình Mẹ cn phải kể đến là bà Mah
Maya Devi, kng chỉ vì đã sinh ra Bồ tát Siddharta, mà còn có công nuôi dưỡng Ngài. Tiu sử của Đức Pht ghi lại rằng Mẹ của Ngài đã chết by ngày sau khi sinh ra Ngài, nhưng lại kng mô tbà đã chết như thế nào. Chúng ta biết rằng tỷ lệ tử vong của Người mẹ s rt cao vào giữa thiên niên kỷ thứ nht trước Công nguyên.

Bí n về hoàng hu Maya Devi cùng với sra đời và nơi sinh của Đức Pht vn còn tiếp tục cho đến tn ngày hôm nay, khi mà các cuộc khai qut tại Lumbini (Lâm TNi) đã cho thy trước thời k Vua Asoka và thm chí là trước thời kỳ đức Pht, nơi đây đã từng là nơi thờ cúng. Robin Conningham et.al. cho rằng kng chỉ có bằng chng về các công trình kiến trúc kiên cxưa hơn đn Asokan, mà còn ghi nhn có sự hin din của các công trình kiến trúc kng kiên ckhác na. Các mu Carbon png xạ từ hai lỗ khoan cho thy chúng có niên đại từ 799 đến 546 trước Công nguyên và từ 801 đến 548 trước Công nguyên, điu này đã phác ha ra một giả thuyết rằng nơi đây đã từng là một nơi thờ tự từ rt sớm và có các hot động tín ngưỡng tại Lumbini trước cả triu đại Asoka.

Một nỗ lực đã được thực hin để liên kết nhng bằng chng ban đu của các vt liu hữu cơ thu thp được và các chng cứ được tìm thy vào thời kđu Anuradhapura ở Sri Lanka, nơi mà các bục đá được dựng lên dưới chân cây Bo (Ficus religiosa). Tuy nhiên, cho đến ngày nay kng có bằng chng nào về một cây Bo ở nơi đn Maya Devi. Nếu vườn Lumbini là một kng gian linh thiêng trước thời Đức Pht, thì đó có thể là nơi thờ phng của một nữ thn cây hoc một Mẫu thn nào đó, là biu tượng cho Tình mẹ vkhnăng sinh sn và cho sự sinh nở an tn, và cây thiêng đó có thể là một cây Sala hoc Asoka. Có lẽ trong quá khứ, nơi này đã được một sngười xem là kng gian linh thiêng của Pht giáo với Maya Devi là Mẫu Thần, hoc là biu tượng của Tình Mẹ.

Sau khi bà Maya Devi qua đời, người em gái của bà, bà Prajapati Gotami đã thay thế vị trí mẹ ruột và trở thành biu trưng cho Tình Mẹ. Nhưng mãi vsau, nhng người theo đo Pht mới bt đu xem bà như một hình mu của Người Mvà với nh hưởng Kitô giáo
một sgiáo phái Pht giáo đang tin vào giả thuyết Đức pht được sinh ra từ một Đức mẹ đồng trinh”.

Mata yatha niyam puttam, Ayusa ekaputtam anurakkhe, Evampi sabbabhutesu,
Manasam bhavaye aparimanam

“Như người mẹ giàu tình thương, suốt cuộc đời luôn che chở cho đứa con trai duy nht của mình. Nên hãy phát tâm vô lượng như vy với tt cả các chúng sinh.

Mata pitu upatthanam, Putta darassa sangaho, Anakula ca kammanta,
Etam mangala muttamam

Chăm sóc mẹ và cha, biết chăm sóc gia đình và con cái của mình, được làm một nghề nghip thích hợp. Đó là một phước đức lớn nht. (kinh Đại Phúc Đức - Maha Mangala Sutta).

Cho nên, Pht pp sẽ luôn tồn tại cùng với chúng ta, bởi vì giáo pp là một quy lut tự nhiên của vũ trụ, bt kể chúng ta theo tín ngưỡng nào, và cho dù chúng ta sng ở Sri Lanka, n Đ, Vit Nam, Thái Lan, Trung Quốc, Vương quốc Anh, Nga hay Hoa K.

SRI LANKA

Sri Lanka, chúng tôi có một câu nói: “Mlà một Đức Pht tại nhà. Hay một câu khác là Cu mong mẹ của chúng con sẽ thành Pht, mà cách đây vài thp k, nhng người đàn ông đã xăm nhng chy lên trên ngực của h. Trong văn hóa của chúng tôi, Người M luôn được nhc đến đu tiên, Mata Pitu, sau đó mới là Cha.

Chúng tôi đã thy được một mối liên quan mt thiết giữa Pht giáo và Tình m. Nhiu thế kỷ trước, các nhà thơ Pht giáo của chúng tôi đã sử dụng thut ngAma Meniyo” để gọi Đức Pht là 
M, Người mẹ nuôi chúng ta hoc hướng dn chúng ta con đường chng nhp được Niết n. Pht pháp là một với tình Mvà Tình mẹ luôn hin din trong chúng ta.

Trong hai hoc ba thiên niên kỷ qua, Sri Lanka có một môi trường phù hợp nht để người dân hiu và thâm nhp Pht pháp. Metta - lòng từ, vốn có trong mỗi con người. Người dân skng c ý làm tổn thương bt kỳ sinh vt sng nào khác để làm thực phm hoc để giải trí. Trong khu nhit đới màu mỡ, đã có quá nhiu loại thực vt cung cp thực phm cho h. Vì vy, bo lực, thm chí là khái nim vbo lực, đã hn tn vắng mt. Tổ tiên của chúng ta là nhng người chỉ biết hái lượm trái cây để làm thức ăn, chkng phải thợ săn bắn động vt. Nghiên cứu về các bức tranh điêu khc trên các hang động thời tin sử được thực hin bởi giáo sư cũng là nhà kho cổ học Raj Somadeva, đã kng tìm thy bt kỳ cnh săn bắn nào miêu tả trên đó, điu này thuyết phục tôi rằng chỉ có nhng người hái lượm trái cây và kng hề có bt kỳ thợ săn bắn nào, hoc thm chí cả cng đồng thợ săn bắn nào ở Sri Lanka. Nó đt ra một câu hỏi trong đu tôi rằng có thực slà vua Devanampiya Tissa đã đi săn để giết một con nai vô ti, khi anh gp Arhat Mahinda thero. Đó là lý do tại sao tôi tin rằng Sri Lanka slà quốc gia phù hợp nht để nghiên cứu mối quan hệ giữa Tình mẹ và Pht Pháp.

Pht tSri Lanka Sinhala cũng tôn thmột “Đức Mđược gi là Pattini Meniyo. Nguồn gc ca bà là ở Nam n Đ, và bà được biết đến trong Cng đồng người Hindu ở Sri Lanka với tên gi Kannakitsthi Silapadikaram ca Ilango Adigal. Ở các nước nghèo, bnh truyền nhim và bnh ca trẻ em đã được Pattini cha khi. Trong các khu vc kc, vai tnày đã được Kiri Amma đảm nhn, đôi khi Kiri Ammas được xem là người hu ca Pattini và đôi khi là hóa thân ca bà y.

Do đó, Patt Pattini được xem là Người mhin từvà là một người vlý tưởng, mi người suy tôn Bà vì Bà đã giúp đnhân n trong vic mùa ng và giúp hcha hết bệnh tt. Pattini là một vị Pht tương lai và hình ảnh người mhin từ” đã từng xut hi
trong các đền thng cộng.. Đức Pht, trái ngược vi Pattini, ít nói vlợi ích vt cht ca con người: mi người kng cầu xin Ngài đcó sc khỏe, sgiàu có hay hết bệnh tt. Khía cạnh yêu thương thun khiết ca Người Mcó thđược chuyn thành hình tượng ca Đức Pht, là người xut hin trong giáo phái “Bodhi Pujađương thời vi tư cách là Pht Mu.

Ngoài ra còn có nhiu v nữ thn đa phương trong tín ngưỡng của các Pht tử Sri Lanka, và thm chí đôi khi dùng chung hình tượng với cng đồng n giáo, nhng người thường được xem như Đức Mẹ. Họ được gọi là Amma(M), ngay cả khi chính họ chưa sinh ra con. Một vị thn như vy được gp ở min cực Nam là Amma Hamuduruwo, từ “Hamuduruwolà thut ngữ đa phương chỉ một tu sĩ Pht giáo. “Maha Loku Amma” được coi là chị gái của Thần Saman tại Sri Pada (Đỉnh Adam) v.v. Điu đó được ghi lại trong biên niên sPali rằng Thần Saman được Đức Pht yêu cu phát trin Pht pháp khi Pht pháp được thành lp ở Sri Lanka. Chúng tôi cũng có Thần Tevani Ammavà Valli Ammavới tư cách là phối ngu của Thần Skanda tại Kataragama, một ln nữa hình tượng này được dùng chung bởi nhng người theo đo Pht và người n giáo. Đt mẹ luôn được coi là “Mahi Mathavà được tôn thờ, bt ckhi nào ng dân bt đầu mùa trng trt mới hoặc bt ckhi nào con người có nhng hành động đụng chạm ti đt. “Kiri Amma” (Mt người phụ nữ đã tạo sa và nuôi con mình trong suốt cuộc đời) được coi là Người hầu ca Pattini Amma và hai người đã ban phát sa m tdừa thay thế cho sa bò cho nhng trem bbệnh truyn nhiễm.

Tara được xem như là một nữ thn và một vị Bồ tát, ở hu hết các quốc gia theo Pht giáo, bao gồm cả Sri Lanka. Mặc dù trong tiếng Pali và tiếng Phn, Tara thường được hiu là “Ngôi sao, nhưng cách tiếp cn phổ biến hơn trong Pht giáo là giải thích tên Taaraa có nghĩa là vượt qua, là trải qua” hoc thoát khỏi. Vì vy, chúng tôi dịch Tara có nghĩa là cô y đã vượt qua bờ bên kia, cô y đã đến được bờ bên kia. viTara cũng được cho là đã sinh ra từ một giọt 
nước mt từ bi rơi xuống của Đức Bồ tát Quán Thế Âm khi quán xét về nỗi đau khổ của nn loi. Tara là một hình tượng được giới thiu vsau này của Pht giáo, có lẽ vào thế kỷ thứ 5 hoặc thứ 6 sau Công nguyên, và mc dù Ngài chưa được coi là một người M, nhưng lại được tôn sùng như một vnữ thần với nhng người theo đo Pht cn tìm kiếm sgiúp đỡ từ Ngài, đc bit là ở Tây Tng và Nepal. Ở Sri lanka người ta cu nguyn đến Avaloktheshvara (Đức Bồ tát Quán Thế Âm) để mong cu sức khỏe và sgiàu sang. Chúng tôi tìm thy hình tượng của Ngài Tara, cùng với Đức Bồ tát Quán Thế Âm, ở Ajanta và Ellora. Ở Sri Lanka, một số bức tượng của Ngài Tara đã được tìm thy, có niên đại khong thế kỷ thứ 8 sau Công nguyên. Ngài có nhng nét tương đồng với Brahmanic Durga và Parvathi. Còn ở Trung Quốc và Nht Bn, Kuan Yin được xem là hình tượng tương đồng với Ngài Tara.

Tiến sĩ Raja de Silva, (cựu y viên ngành Kho cổ học) tuyên bố rằng nhng bức bích ha nổi tiếng tại Sigiryia là của nữ thn Tara, và thm chí nhng bức tượng nhỏ bằng đt nung được tìm thy tại Sigiriya giống với nhng bích ha cũng là của nữ thn Tara vii. Ngay cả khi chúng tôi chp nhn tuyên bố của Raja de Silva, thì chúng tôi ng kng có cách nào kết nối nó với tín ngưỡng tôn thờ Đức M, Sri Lanka vào khoảng thế kỷ thứ 5 sau Công nguyên.

Vì kng có hình tượng Người Mẹ trong Pht giáo truyn thống và trong tôn giáo cng đồng, nên để tha mãn nhu cu cn có một hình tượng Người Mẹ để tôn thờ, nên các vnữ thn hoc nhân vt huyn thoại có thể đã được tiếp nhn vào Pht giáo một cách phổ biến theo cách mà các vị thn Hindu đã được tôn thờ.

BRAHMA-VIHARA ((PHM TRÚ)

Tt ccác bà m, đều đã tu tp Phm Trú (trng thái tâm cao thượng) - Metta (Từ), Karuna (Bi), Mudita (H), Upeksha (X). Tình mlà một trng thái cao n phm trù thuộc vgiới tính nam hay n. Trong vic thụ thai, mang thai, sinh nvà cm sóc một đứa tr, Người Mtri qua một tri nghim mà kng người 
đàn ông nào có thtưởng tượng được. Trong Pht giáo, Người M là vũ tr, là Phm thiên. Tình yêu ca người mlà thun khiết và kng có tính ích k, giống ntình thương ca một vị Pht, hay một vthiện thn.

“Nhng gia đình nào có con i tôn trng mvà cha, thì gia đình y cộng trú vi Phm thiên, vi Chư Thiên cõi đầu tiên (Itivuttaka 106 Thanissaro dịch).

Trong kinh Sabrahma (Anguttara Nikaya, Catukka Nipatta - Kinh Tăng Chi B, chương Bốn Pháp) Đức Pht đã dy nsau:

Này các Tkheo, nhng gia đình nào, mà ở đy các con cái kính lmvà cha, nhng gia đình y được chấp nhn ngang bng vi Phm Thiên. Nhng gia đình nào mà ở i đy con i kính lcha m, nhng gia đình y được chấp nhn ngang bng ncác Đạo Sư đầu tiên (pubbācāriyā). Nhng gia đình nào mà ở nơi đy con i kính l(ahuneyyā) cha m, nhng gia đình y được chấp nhn ngang bng ncác chư Thiên cao nht (pubbadeva). Nhng gia đình nào mà ở i đy con i kính lcha m, nhng gia đình y đáng được tôn kính.Này các Tkheo, Phm thiên đồng nghĩa vi mcha, Đạo Sư đầu tiên đồng nghĩa vi mcha, Chư Thiên đồng nghĩa vi mcha. Cha mxng đáng được tôn kính.Vì csao hỡi các Tkheo, vì Cha mẹ đã m rt nhiu cho con i ca mình, nuôi dưỡng cng và u dt cng vào đời.

Thêm vào hình tượng người cha, có llà một sự pha loãng sau này ca nhng gì Đức Pht đã nói, i mà chcó Người Mmới được đcp. Mặc dù sđóng góp ca người cha trong vic ng tạo và phát trin nên cuộc sống mới, nhưng hầu nlà kng đáng kể khi so sánh vi vai trò ca Người m. Nó được gii thích rt rõ trong Kinh Vu Lan Báo Hiếu được đọc tụng ở Phương Đông trong cộng đồng nhng người Trung Quốc, Nht Bn và Triu Tiên kể tthời nTùy (589 - 906). Kinh trình bày nhng mô tả cm động nht vtình thương ca người mmà mi người có thể tìm thy trong n học. viiiTuy nhiên, ngay ctrong Kinh Vu La
Báo Hiếu, Tính gia trưởng cũng được đcao, khi bsung thêm nhu cầu vng thành kính đi vi cả Cha và Mẹ. Kinh có lb ảnh hưởng bởi tín ngưỡng thcúng ttiên thường gp ở phương Đông, vì nó bt đu bng câu hi ca Đi đức Ananda về Pht khi thy Đức Pht ly đống xương và thái đca Pht. Pht nói: Đng xương này có ththuộc vttiên ca Ta tkiếp trước. H có thlà cha mca Ta trong nhiu kiếp vtrước. Toàn bKinh nói vtình thương, sự đau khvà hy sinh ca người m. Đức Pht gii thích thêm rng xương ca Người Mcó màu đen và trng lượng nhlà do ssinh đvà nuôi dưỡng con bng sa ca M mà ra. Mi đứa trđều dựa vào sa ca Mđđược sống và phát trin và sa là sbiến đi tmáu ca Người Mcho nên thân thể ca Người Mtrnên n mi và tiu ty. Kinh cũng cho biết chi tiết vchín tháng đứa trẻ ở trong bụng m, nhng gì bà phi chịu trong thời gian này và ni đau khi sinh nở. Tiếp theo kinh n dy vmười ng tt ca người mẹ dành cho đứa con. Kinh cũng nói vng hiếu thảo cn có ca con đi vi cha m, mặc dù bn Kinh kng đcp đến bt kỳ đóng góp nào ca người cha.

Chúng tôi tình cbt gp hình nh ca các bà mtrước đây của chúng tôi trong Mata Sutta (Kinh T) ở Samyutta Nikaya (kinh Tương Ưng). Ti Savatthi, ở đó, Đức Thế Tôn dy: Vô thlà luân hi này, khởi đim không thnêu rõ đi vi sluân hi ca các chúng sanh bvô minh che đy, btham ái trói buộc. Này các Tkheo, tht không dgì tìm được một chúng sanh trong thời gian i này, lại không một ln đã làm cha ca ông ... li không một ln đã làm mẹ ca ông ... anh trai ca ông...em gái ca ông....con trai ca ông... con gái ca ông...trong quá kh. Có lđó là một cách đơn gin đnhc nhmi người rằng tt cchúng ta đu có ng huyết thống, chúng ta đu có mi quan hvi nhau và có sbình đẳng trong xã hi, bt kchúng ta thuộc giai cp nào đi na. Và Tình thương ca Người mẹ là thun khiết và không có tính ích k, giống như tình thương ca một vthin thn. Người mcó thcm nhn được tình thương, sđồng cm, ng tt thông qua các giác quan rt nhy bén ca mình.
 


NTÍNH
Hình tượng Người mẹ thường gn lin với nữ tính. Trong một xã hội gia trưởng thì người phnữ thường thp kém và yếu đuối hơn, được cho là giới tính thhai, mc dù thực tế, trong tn bộ thế giới động vt, con cái là người có tính cách mnh m, vượt trội và thông minh hơn. Làm mẹ là một thiên chức cao quý hơn cả giới tính nam hay nữ. Một người mẹ vượt lên trên cả phnhay nam giới. Người mẹ có thể cm nhn được tình thương, sự đồng cm, lòng tốt thông qua các giác quan nhy bén của mình. Từ lúc trng của Người mẹ được thụ tinh bởi một tinh trùng, họ trở thành một người to ra một mm sng mới, họ trở thành một với vũ trụ, và họ nuôi dưỡng con của mình kng chỉ bằng máu và bằng sữa khi đứa trcòn nh, mà còn bằng tình thương tht sự trong suốt cuộc đời của đứa tr. Vì Pht đang chỉ ra con đường cho tn nhân loại thoát khỏi đau kh, nên Ngài skng bao giờ có sphân bit đối xvới phnữ hoc có bt ksự thiên vnào dựa trên đẳng cp, giới tính hoc đa vxã hội. Tuy nhiên, các yếu tvăn hóa đã nh hưởng rt lớn đến sbt bình đẳng ngay cả trong cng đồng Pht giáo sau này.

Xã hội nam quyn vn xem Người Mẹ chỉ là một người phnữ, hoc từ chi nhìn nhn vai trò cao cả của h. Tuy nhiên, Chư Pht đã đt vị trí Người Mẹ lên trên nhng người đàn ông và phnữ chưa từng làm mẹ mc cho xã hội cgắng đy họ xuống vai trò thyếu trong mọi nn văn hóa và xã hội, ngay cả khi Pht giáo đã lan rng, ngoại trừ ở Sri Lanka.

Kancha Ilaiah đã cgắng mô tvị thế của người phnữ trong xã hội n Độ trước thời kPht giáo theo cách mà ông hiu. Nn văn hóa bình đẳng Indus Valley dn bị quên lãng ix. Sau đó, giai cp Bà la môn RigVees được thành lp mà trong đó phnmt đi tt cả các quyn chính trvà xã hội. Và chỉ trong thời kỳ Đức Pht, người phnữ mới ly lại được một số quyn lợi cơ bản đã mt của mình.

Nhng phép tc, nghĩa vụ, và trách nhim với nhng người làm chgia đình được đề cp trong kinh Pitaka có thể là phn thê
vào sau này và chịu nh hưởng của các quy tc VĐà như đã đề cp trong Satapatha Brahmana. Và cũng trong thời gian này Manu, Kautilya và Vatsyayana đã thêm vào nhng đóng góp của họ dành cho nhng người phnữ nô lệ ngay cả trong giáo lý và trong văn học sau này.

Mặc dù hình nh Người Mbhxuống thyếu, và có spn bit giới tính trong xã hi, tuy nhiên, Chư Pht đã chống li s bt bình đẳng đó, Người Mvẫn là một nạn nn của n hóa và của các chun mực xã hi. Hbuộc phi cm sóc con i của mình bên cnh các công vic gia đình khác. Đó là lý do tại sao ở Ấn Đcđại trong giáo đoàn các Tỳ kheo ni, chúng ta bt gp hu hết là các bà, nhng người kng còn trách nhim nào đi vi gia đình, hay nhng người phntrca lập gia đình và hu gái, là nhng người kng bao gicó bt knghĩa vnào nữa trong gia đình. Nhiu người trong shng giàu có, có i sản riêng, hoặc được hưởng sự giàu có và quyn lực từ gia đình của mình. Đó có llà lý do tại sao chúng ta tìm thy 500 phntheo bà Maha Prajapathi Gotami đxut gia và tnh lập nên giáo đoàn Tỳ kheo ni Sasana. Chúng ta ng tìm thy 500 phntcác gia đình hoàng gia và ưu tú ở Anuradhapura ng đi theo sau nhoàng Anula đtnh lập Giáo đoàn ni Sasana ở Sri Lanka khi Sanghamitta Theri đến.

Các bà mtrcó con nhphi có trách nhim nhiu n ở nhà, và kng thbrơi đứa trẻ kng được cm sóc đcó thời gian hay sthích riêng tìm kiếm sthảnh thơi cho chính mình. Nhiu bà mẹ trsẽ kng thxut gia và trthành một Tkheo ni, vì hskhông còn quyn chăm sóc con i và tham gia vào các công vic của gia đình. Đôi khi, người phncũng bbuộc phi kiếm sng đnuôi con.

Chúng tôi ng tìm thy nhiu Bà mlà cư sĩ tại gia, là nhng người được ghi tên của hlên n khc Pht giáo vì đã ng dường các tịnh xá, tu vin và nhng n quà có lợi khác cho các tchức Pht giáo và Tăng đoàn tthời Đức Pht. Đng thời, các nhà kho c học đã kng thể tìm thy bt kdi tích hay bảo tp di tích nào có chứa hài ct của bt knữ A - la - n hay Tỳ kheo ni nào, ở Ấn Đ hoặc bt kquốc gia Pht giáo nào khác. Đã có nhng bằng chn
n học, được ghi li trong nhiu thế ksau đó, vbảo tp di tích của bà Maha Prajapathi Gothami hoặc Sanghamitta Theri. Tình mẹ sẽ tiếp tục được tôn trng trong cng đồng Pht giáo.

Tiu lục đa Ấn Đgn nht đã trtnh i thhin ng tôn kính Người mtrong suốt thời kVua Asoka, thông qua struyn bá giáo lý của ông, nhưng kng may thay ng vi ssp đcủa Vua Asoka là ssp đluôn ctriu đại Chandragupta, dn đến giai cp Bà la n li một lần nữa thống trị và đy hình tưởng của người ph nvà người mtrli vtnô dịch.

Trong tâm tcủa Vua Ashoka luôn có sbình đẳng, khi mà chúng ta đọc được nhng ng chmà ông đã cho khc trên ct đá. Ông đã cho khc Save munisa pyjama mamā“ - Tt cđàn ông đu là nhng đứa con của tôi (ct đá khc chdụ riêng bit th1), munisa có nghĩa là tt cnn sinh, kng chỉ riêng người đàn ông. Khi ông khc chsādhu mātari cha pitari cha susrusā” - Mvà cha là nhng người đáng được tôn kính - nht là người m. (ct đá khc chdụ s3). Nhưng trong ct đá th9, ông li đli cho nhng người mẹ và các bà vthực nh quá nhiu nghi lcó tính cht thô tục và vô ích khác nhau (bn dịch của Hultzsch trang 38). Có lông ta đã b khuyên rằng chính các người mvà nhng người phnđã tchức tt ccác nghi lngoi đo, điu này mâu thun vi nhng tuyên bố khác của ông ta ở nhng i khác.

“Đức Pht đã hướng dn cho tt cmi người nhận ra vai trò quan trng của người phn..... Vtcủa người phntrong gia đình đóng góp vào các phương din tinh thần đã được công nhận một cách rõ ràng trong các bài giảng của Đức Pht và các tác phẩm n học xut hin bên cnh Pht pp. Người mmang đến sổn định, quan tâm, kiên nhẫn và ng trc n ở trong gia đình, có được snăng động, hot bát và thậm chí cnlực vthcht...... Vic kng thnắm bt được sự khác nhau giữa li sng của người m chủ gia đình và người n cư đã dn đến vic hiu lầm vvtcủa phntrong Pht giáo .... ng như nhng đức tính và đỉnh cao tinh thần mà người phnđt được, hay năng lực kdiu mà hchuyn đ
tmột ngôi nhà tnh một tm, là nhng quan đim trng tâm v phncủa Đức Pht.

Do đó, chúng ta ng phi nhìn nhn rằng Đức Pht skhông bao gitchi hoc thn vic thành lp giáo đn Ni, hoc cho rằng sgia nhp ca chư ni vào Tăng đn ca Đức Pht slàm gim tui thca giáo pháp xuống 500 năm, hoc Ngài đt ra Lut tạng đc bit đcác Tkheo ni phi tuân theo Tkheo. Bởi vì hu hết các Tkheo ni đu đã là nhng Bà mkhi hđược xut gia, và đã tu tp bốn Phm trú (bốn tâm cao thượng) vào c đó, nên tình yêu thương ca họ không chdành riêng cho con i mà còn cho tt cmi chúng sanh trên trái đt này. Tính tklut sluôn là một phn trong cuộc sng ca người m, ngay ctrước khi cô được xut gia.

Rt nhiu sliu đã viết và ghi nhận vcâu chuyn nlực ca bà Maha Prajapati Gotami đđược phép xut gia m Tkheo ni, và v vic Đức Pht đã tchi kết nạp phnvào tăng đoàn như thế nào, và đttn cn nht ca Đức Pht, ngài Ananda, đã thuyết phục Đức Pht cho phép bà Gotami và những người theo Bà được phép xut gia.

Nếu c đu Đức Pht đã tchi cho người nữ xut gia đtr thành một Tkheo ni, thì trong một strường hợp, có thlà vì s quan tâm thc sca Pht đi vi người phnhoc gia đình ca h, đc bit là khi người phnphi chăm sóc con nhca mình. Pht đã nhn thy nhu cu cn có schăm sóc tmca nhng đứa tr. Và vi kiến thc vô hn ca Đức Pht, Ngài ng biết rằng một người phncó thđi theo con đường mà Đức Pht đã chra, ngay ckhi bà vn là một cư sĩ tại gia, và một Người mcó lsdchng quv A la hán n khi bà chăm sóc con i và Gia đình ca mình, vì hđã tu tp bốn Phm trú.

Mt ncư sĩ tại gia phát trin nim tin và đức hnh, vi ssáng suốt, rng lượng và có shọc hi: cô y nm gibản cht ngay chính trong cô y(Vaddha Sutta, SN 37.4). Mt người phn, đc bit là một Người m, người đã lắng nghe lời dy ca Đức Pht, người đã tu tp Phm Trú, người mãnh mcvthxác và tâm hồn, vì đã trải qua quá nhiu đau khvà hy sinh, nên hsnhn ra rằng mình có thể trthành một vị A La Hán, dù vn đang ở nhà hay sng độc cư trong rng. Cô y sbiết rằng mình skhông có nhu cu ri bgia đình vì 
cô y vn có thva phc vgia đình và xã hi, đồng thời vn có thể tu tp đgii thoát cho chính mình.

THY PHT QUA MCA CNG TA

Pht pháp là một với tình m.

Chúng ta kng thể n lun hết vTình mẹ và Pht giáo một cách hợp lý dựa trên nhng tài liu có sn. Nhng lời dy nguyên thủy của Đức Pht đã kng còn được giữ nguyên trong suốt cuộc đời của Ngài, bởi vì vào thời đim kết tp kinh đin, rt nhiu thcó thể đã được thay đổi, bỏ bớt hoc thêm vào. Khi lời nói của Ngài được truyn lại qua nhiu thế h, nhng gì được viết sau đó có thể khác xa với nhng từ ngban đu. Ngay cả trong thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, ý nghĩa của các từ skhác nhau trong từng khu vc. Nên trong hai mươi sáu thế kđã qua, ý nghĩa Pht pháp đã thay đổi rt nhiu ln.

Tt cả nhng gì chúng ta có thể chp nhn là Tứ diu đế, hướng loài người đến sự chm dứt khổ đau luân hồi của chính mình. Và chúng ta cn tu tp bốn Phm Trú để chng đt được điu đó. Chúng ta có thể chp nhn rằng Đức Pht sẽ nhn ra một Người mẹ là người đủ điu kin nht để chng đt được Niết Bàn. Đức Thế Tôn skng bao giờ phải nói với nhng người đệ tử của mình là hãy kính trng và tôn thờ Người mẹ của mình, bởi vì đó là cái vốn có của tt các chúng sinh, và của bt kỳ ai đang cgắng đi theo con đường của Ngài. Hsẽ nhn ra vị trí của M, và thy rằng Mlà một vPht Sng ở nhà - điu mà các pht tử Sri Lanka đã nói.

Và một khi chúng ta nhn ra rằng Tình Mrt thiêng liêng và xng đáng với tt cả stôn trng, thì chúng ta scó stôn trng đối với tt cả mọi người. Sau đó, chúng ta sẽ thy rằng mọi bé gái đu slà Mẹ trong tương lai, nên cn tt cả sự chăm sóc yêu thương của mọi người để côy lớn lên, cũng như có stôn trng đối với Tình mẹ trong suốt cuộc đời của mỗi người. Nếu như Pht tử chúng ta thực smuốn tôn thờ Đức Pht, thì chúng ta hãy quay vtôn thờ chính Đức Pht của chúng ta tại nhà là Người mẹ của chúng ta. Và có thể các bà mẹ của chúng ta cũng sẽ chng nhp được Niết Bàn.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây