4. VẬN DỤNG TRIẾT LÝ PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

Thứ sáu - 03/05/2019 04:47
Nguyễn Thúy Thơm ( Ni Sư Thích Minh Thịnh)
- TS., Trụ trì, Chùa Diên Phúc, Mai Lâm, Đông Anh, Hà Nội, Việt Nam.
- Uỷ viên Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam.
- Giảng viên kiêm nhiệm bộ môn Tôn Giáo học, trường Đại học KHXH và Nhân Văn.
51


VN DNG TRIT LÝ PHT GIÁO ĐỐI VỚI VIỆC Y DỰNG ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH TI VIT NAM TRONG BỐI CNH HIỆN NAY

Nguyễn Thúy Thơm ( Ni Thích Minh Thịnh)*





M TẮT
Pht giáo là một tôn giáo có lịch slâu đời tại Vit Nam. Trong quá trình tồn tại và phát trin, với tinh thn khế lý, khế cơ, đo Pht luôn thích ứng với những thay đổi của hội, đồng hành cùng quá trình phát triển tiến bộ của dân tộc. Nếu đối với hàng đệ tử xuất gia, Pht giáo chỉ con đường để đt đến những tiến bộ tâm linh giúp họ giác ngộ, giải thóat, thì đối với hàng đệ tử tại gia, thực hành theo đúng chính Pháp của Đức Pht sẽ giúp họ tiến n trên con đường thành công, trí tuệ nội tâm an bình. Ánh ng đạo hnh nguyện của Ngài có giá trị trường tồn cho đến ngày nay, được các hàng Thánh đệ tử kết tập, truyền khp nơi trên các nẻo đường “Hoằng dương chánh pháp lợi lc qun sanh.
Với những triết lí mang tính khoa học sâu sắc nhưng gần gũi, đạo Pht ngày ng khng định vị thế của mình trong cuộc sống, đặc biệt trong bối cảnh mối quan hệ giữa cá nhân, gia đình, hội có nhiều chuyển biến vô cùng phức tạp. Không chỉ dừng lạiviệc hình thành nhân cáchnhân, những giá trị đạo đức trong triết lý nhà Pht đã góp phn không nhỏ tạo n vẻ đẹp riêng trong các giá trị



*. TS., Trụ trì, Chùa Diên Phúc, Mai Lâm, Đông Anh, Hà Nội, Việt Nam. Uỷ viên Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam. Giảng viên kiêm nhiệm bộ môn Tôn Giáo học, trường Đại học KHXH Nhân n.
 


truyền thống của gia đình Việt Nam. Mối quan hệ giữa vợ chồng, bổn phn của con cái, cha mẹ con đường giáo dục cho con cái cũng được đo Pht vch rõ trong nhiu kinh đin như kinh Tăng Chi Bộ, Trường Bộ kinh, kinh Pháp Cú, Tương Ưng Bộ kinh….
Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật những tác động của nền kinh tế thị trường, n cạnh việc đt được nhng thành tựu to lớn về kinh tế, tiến bộ khoa học, chúng ta phải đối mặt với những vấn đề tiêu cực như tệ nạn xã hội, sự suy thóai trầm trọng về đạo đức. Mâu thuẫn giữa nếp sống lối sống hiện đại phần nào làm tan vỡ các mối quan hệ tính ổn định văn hóa của gia đình Việt Nam truyền thống. Luân thường đạo lý bị đảo lộn cả thành thịnông thôn khi không ít người đã ngược đãi, khinh rẻ ông bà, cha mẹ; nhiều người phụ bạc vợ hoặc chồng, bỏ con cái để chạy theo danh lợi, giàu sang. Tình hình bạo lực gia đình cũng tr thành mối lo âu của toàn xã hội. Hằng ngày, trong cuộc sống quanh mỗi chúng ta cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng tràn ngập những vụ đánh đập vợ con, đánh ghen, ngoại tình,… Nguy hiểm hơn những sự việc thương tâm như giết vợ, giết chồng, giết cha, giết mẹ, giết con cái rồi tự tử…
Trước thực trạng y, vic áp dụng các giáo lý Pht giáo nhm n luyện đạo đức, giáo dục về giới tính, hôn nhân, gia đình việc làm vô cùng thiết thực để giải quyết những mâu thuẫn, xung đột từ trong gia đình ra ngoài hội. T đó tiến đến xây dựng gia đình bền vững, hội ổn định, đt nước tốt đẹp hơn. Bài viết tập trung nghiên cứu giải quyết các vấn đề sau: Thứ nht, những chuyển biến trong đời sống gia đình Việt Nam; Thứ hai, nh hưởng của những triết lý tưởng Pht giáo đối với đời sống của gia đình Việt Nam; th ba, một s giải pháp nhằm vận dụng những triết lí Pht giáo vào việc xây dựng đời sống gia đình tại Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.
  1. KHÁI QUÁT VỀ GIA ĐÌNH VÀ NHỮNG CHUYỂN BIẾN CỦA GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
    1. s luận chung v gia đình
Gia đình được xem thiết chế hội bản gắn với quyền lợi, nghĩa vụ của mỗi con người trong cấu trúc của tn hội. Không
 


chỉ thế, gia đình còn sự biểu hiện của tình yêu thương, gắn bó giữa những thành viên có quan hệ huyết thống hay quan hệ nuôi dưỡng.... Không phải cho đến ngày nay, người ta mới đưa ra những khái niệm nghiên cứu nhiều góc độ khác nhau về gia đình. Tuy nhiên,tiếp cận theo nhiều khía cạnh khác nhau, không ai có thể ph nhn được vị trí vai trò to lớn của gia đình đối với mỗi cá nhân nói riêng hội nói chung.
Tư tưởng Nho giáo coi gia đình nơi bắt đầu các quan hệ hội, luôn đóng vai trò mẫu hình để t chức hội nhà nước. Dưới góc nhìn của một nhà hội học, Khổng T đã nói: Gia đình trung m của mi quan hệ cơ cu: cá nhân, gia đình và xã hi. Mnh T cũng đã từng chỉ rằng: Cái căn bản của thiên h quốc gia, cái căn bản của quốc gia gia đình cái căn bản của mỗi gia đình chính bản thân mình vậy.
Tn lập trường duy vật biện chứng, các nhà triết học mác xít đã chỉ ra tính quy luật về sự hình thành phát triển của gia đình, mối quan hệ biện chứng giữa gia đình hội. Theo đó, gia đình một thiết chế hội – một hình ảnh “xã hội thu nhỏ” trong đó bao hàm đầy đủ các mối quan hệ của các thành viên trong gia đình do đó cũng chứa đựng những mâu thuẫn vốn của xã hội. Quan điểm của về gia đình đã được thể hiện qua nhiều tác phẩm nhưngnhất, đầy đủ nhất tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, ca chế đshu tư nn và ca nhà nước. Đng thời, trong quá trình nghiên cứu tìm hiểu, MácĂngghen cũng biểu hiện sự đồng tình với quan điểm của Moóc - gan: “Gia đình yếu tố năng đng, không bao giờ đứng nguyên mt chỗ, mà chuyển t hình thức thấp lên một hình thức cao, như hội phát triển từ một giai đoạn thp lên mt giai đoạn cao”.
Sinh thời, Ch tịch H C Minh cũng rất quan tâm có nhiều bài nói, bài viết liên quan tới vấn đề gia đình. Người cho rằng gia đình hội luôn gắnkhăng khít với nhau, mỗi gia đình tế bào của hội. Muốn có hội tốt đẹp, tiến bộ, phải quan tâm đến gia đình. Các gia đình n ấm hnh phúc sẽ tạo n hội n minh nh mạnh. Cũng lẽ đó Người không chỉ quan tâm chỉ đạo việc xây dựng ban hành Luật Hôn nhân Gia đình còn nhn mạnh mối liên kết giữa giáo dục gia đình, nhà trường hội trong việc đào tạo những thế hệ tương lai.
 
 
    1. Chức năng của gia đình
Trong lịch sphát trin của mình, gia đình vừa là một đơn vị kinh tế, vừa cái nôi đầu tn suốt đời nuôi dưỡng, giáo dục con người, duy trì ở họ những quan hệ tình cảm đặc biệt từ thế hệ này sang thế hệ khác. Do đó, ngoài chức năng kinh tế bản, gia đình còn có những chức năng hội đặc thù:chức năng giáo dục – hội hóa, chức năng tái sản xuất hội, chức năng tâm lý – tình cảm.
Gia đình môi trường quan trọng bậc nht của việc giáo dục hình thành nhân cách con người. Không ai trong chúng ta có thể ph nhn vai trò của gia đình trong việc hội a con người, đưa con người từ con người sinh vt sang con người xã hội. Trong cuộc sống gia đình, sự hình thành những chuẩn mực định hướng tốt đẹp của gia đình không chỉ củng c các mối quan hệ giữa cácnhân còn kiến tạo một môi trường hội cho mỗi cá nhân phát triển hài a thuận lợi. Có thể nói, gia đình cầu nối giúp mỗi cá nhân hoà nhp với cộng đồng, nơi để biểu hiện các giá trị thu nhỏ của hội có tác động tr lại đối với sự phát triển, vận động chung của tn hội từ mọi mặt.
Do những chức năng hội đặc thù của mình, gia đình còn góp phn quan trọng vào việc xây dựng các chuẩn mực giá trị đạo đức, phong tục tập quán, lối sống n a. Nghiên cứu gia đình có nhiều khía cạnh đa dng phức tạp, cần có một cái nhìn khách quan trong mối liên hệ biện chứng giữa gia đình với sự tiến bộ, phát triển của hội Việt Nam. Nếu nói gia đình thiết chế hội đặc biệt đặc t thì không một thiết chế nào có thể thay thế được. Bởi lẽ, nó chính sợi dây liên kết, chuyển giao các mối liên hệ từ thế hệ này sang thế hệ khác trong tiến trình lịch sử. Do đó, gia đình chính nơi bảo vệ lưu truyền các giá trị truyền thống, bản sắc n a dân tộc.
Gia đình một mắt xích quan trọng trong mối quan hệ hội giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng ng xóm, rộng hơn đt nước tn thế giới. Nếu như xem hội một cá thể thì gia đình chính những tế bào cấu tạo n cá thể y, hội bức tranh được dung a bởi màu sắc riêng của nhiều thành phần, nhiều mối quan hệ trong đó mái ấm hnh phúc gia đình một thành phn không thể thiếu, mấu chốt quan trọng
 


góp phn tạo n sự bình an, trt tự của hội. Bởi vy, việc củng c gia đình, xây dựng các mối quan hệ gia đình nh mạnh bao giờ cũng sở đầu tn cho việc củng c hội, xây dựng các mối quan hệ hội nh mạnh tốt đẹp. Đất nước Việt Nam muốn phát triển vững mạnh, muốn giữ gìn phát huy bản sắc n a dân tộc thì trước hết phải chăm lo xây dựng gia đình ổn định bền vững, trong đó hệ giá trị truyền thống dân tộc phải được ưu tn hàng đu.
    1. Sự biến đổi của gia đình Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
      1. Quy mô gia đình
Khi hình dung về một gia đình truyền thống, vấn đề đông con, nhiều thế hệ” được xem như một chuẩn mực giá trị, t đẹp n a đặc trưng ở nước ta. Nếu trước đây, “tứ đại đồng đường” hay tam đại đồng đường” một xu hướng phổ biến trong gia đình người Việt thì giờ đây việc ba đến bốn thế hệ từ ông bà, con, cháu cùng sống trong một gia đình đã không còn quen thuộc.
Thực tế ngày nay cho thấy, khi hội ng phát triển thì gia đình lại bộc lộ nhiều khiếm khuyết. Quá trình hội nhp kinh tế xu hướng tn cầu a làm cho chất lượng cuộc sống của con người ngày ng được cải thiện, con người ngày ng tự chủ về kinh tế, ng có hội thể hiện quyềnnhân của mình. Mức đòi hỏi về quyềnnhân cao của mỗi con người, nht giới tr đã dn đến những xung đột giữa hệ giá trị truyền thống hiện đại. Đặc biệt, quan niệm thông thóang, không chấp nhn gia đình nơi trói buộc cá nhân làm cho mâu thuẫn thế hệ xung đột gia đình điều không tránh khỏi. Khi sống trong một gia đình có nhiều thế hệ làm cho họ mất đi sự tự do, phải sống làm việc theo những khuôn khổ chuẩn mực truyền thống, từ đó nảy sinh những bất đồng trong lối sống hiện đại của thế hệ tr với lối sống truyền thống của ông bà, cha mẹ. vy, hơn bao giờ hết quy mô gia đình ngày ng thu nhỏ để đáp ứng với nhu cầu điều kiện của thời đại mới đt ra. Hầu hết mỗi gia đình thường có hai thế hệ cha mẹ con cái cùng sinh sống. Tuy nhiên, sự biến thể của mô hình gia đình cần nói đến sự xuất hiện khá phổ biến của các gia đình độc thân, gia đình chung sống không kết hôn, gia đình đồng tính.
Theo các nghiên cứu về tình trng hôn nhân gia đình tại Việt
 


Nam trong thời gian vừa qua, thế hệ tr ngày nay không còn nghiêm túc với quan hệ hôn nhân. T lệ sống thử, quan hệ tình dục trước hôn nhân gia tăng đáng kể. T lệ ly hôn, ly thân của các cặp vợ chồng ngày ng tăng cao khiến cho s lượng người sống độc thân ngày càng nhiu, quy mô gia đình ngày càng phân tán. Trong đó, tỷ lệ ly hôn ở thành thị phổ biến hơn ở nông thôn, nhiều hơn ở tng lớp tri thức, có xu hướng ngày ng tr a.
      1. Sự biến đổi các giá trị truyền thống
n cạnh những thành tựu quan trọng đt được, thách thức của quá trình tn cầu a mặt trái của nền kinh tế thị trường nguyên nhân chính khiến cho nhiều giá trị n hóa, đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc bị mai một, xuống dốc trầm trọng. Một trong những biểu hiện đáng lo ngại đó chính mối quan hệ, cách ứng xử giữa các thành viên trong gia đình tr n lỏng lẻo hơn. Bởi gia đình Việt Nam truyền thống được gắn kết một cách bền chặt do tình nghĩa trách nhiệm giữa các thành viên. chạy theo lối sống thực dụng, đề cao cái inhân thế hệ tr đang dn quay lưng lại với các giá trị, chuẩn mực đo đức của gia đình truyền thống như đo lý kính trên nhường dưới, sự quan tâm, chia s, vị thaThậm chí, một s người hiện nay coi gia đình chỉ một th quán tr của một tập thể những con người cùng chung huyết thống hoặc ng buộc nhau bằng giấy đăng kết hôn.
Trong mi quan hệ giữa cha mẹ và con cái, vic dựa theo ý kiến đóng góp của cha mẹ có ý nghĩa vô cùng quan trọng hiện nay vẫn một việc làm được đánh giá cao, dẫu sao đi nữa các con vẫn người thiếu kinh nghim sng. Trước đây, vn đề hôn nhân của con cái trong gia đình do bố mẹ định đot, theo quan điểm cha mẹ đặt đâu, con ngi đy. Ngày nay, vcơ bn quyn quyết định hôn nhân trong các gia đình đang diễn ra theo xu hướng dung hoà giữa việc lựa chọn của con cái với định hướng của cha mẹ. Theo một nghiên cứu tại một s địa phươngHà Tĩnh trong những năm gần đây cho thấy t lệ bố mẹ quyết định hôn nhân của con cái chỉ chiếm 9.3%, một tỉ lệ khá ít ỏi. Trong khi đó tỉ lệ con cái quyết định, hi ý kiến của bố mẹ 78,6%1. T s liệu trên có thể cho ta thấy được: vấn


  1. Nguyễn Thị Nguyệt, Biến đổi trong quan niệm hôn nhân gia đình của Người Việtkhu tái định , huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
 


đề hôn nhân của nam n vùng tái định cư, nhìn chung không phải do cha mẹ áp đt hôn nhân do đôi tr chọn lựa trên sở xin phép và ly ý kiến của cha mẹ đang phổ biến. Trong nhiu gia đình hiện đại, mãi chạy theo guồng quay của những lo toan kinh tế nhiều người không có thời gian không biết quan tâm tới các thành viên khác cũng như những vấn đề chung của gia đình. Đặc biệt trong mối quan hệ giữa các thế hệ, người cao tuổi tr em những đối tượng chưa được quan tâm đúng mực. Thậm chí, có những gia đình dường như hoàn tn giao phó chức năng giáo dục con tr cho nhà trường hội. Nhiều ông thiếu thốn tình cảm ngay cả khi chung sống cùng con cháu. Không ít tr em cảm thấy vơ” trong chính mái ấm của mình. Đó nguyên nhân làm cho tình trng tr em hư, bỏ nhà đi lang thang, sa vào các t nn hội hiện nay có xu hướng gia tăng.
Trong mi quan hệ vợ chồng, sự hòa thun và tình nghĩa thủy chung được nhìn nhn đánh giá một t đẹp trong truyền thống n a gia đình Việt. Chính a thuận chung thủy đã vun đp tình cảm yêu thương, tôn trọng trong gia đình, tạo sức mạnh đoàn kết, sẵn ng vượt qua những khó khăn, thách thức để xây dựng hnh phúc gia đình. Tuy nhiên, gia đình Việt Nam hiện đại vẫn đang phải chứng kiến sự tồn tại của bạo lực gia đình những quan hệ ngoài hôn nhân. Hiện nay, không chỉ một bộ phn giới tr ngay cả những người có công danh, sự nghiệp cũng chưa nhn thức hết giá trị của hôn nhân ý nghĩa thiêng liêng của hai tiếng gia đình. Có thể nhn thy điu đó trong cách ứng xhu như chỉ hướng đến nhu cầunhân, không biết quan tâm tới người vợ, người chồng những vấn đề chung của hôn nhân. n cạnh đó, với quan niệm thông thóang hơn, họ cũng không còn nhn nhục chịu đựng, không biết độ lượng tha th cho người bạn đời khi phạm lỗi. Chính lối sống buông th trong quan h nam - nữ, xem thường tính nghiêm c trong quan h hôn nhân với các biểu hiện như sống vội, sống thử, quan hệ tình dục trước hôn nhân, ngoại tình, mại dâm,đã đang là mt trong những biểu hiện xung cấp của đạo đức truyền thng trong hôn nhân và gia đình.2



  1. Khánh Trình ( 2016), Văn hóa gia đình vấn đề giáo dục các giá trị văn hóa truyền thng trong gia đình cho thế h tr.
 


Cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đem đến nhiều ưu điểm tích cực cho đời sống gia đình người Việt hiện đại, chẳng hn như tiếp cận các công nghệ để giáo dục con cái, tiết kiệm thời gian trong việc mua sắm, tìm hiểu về tình hình thế giới, kết nối giao lưu với bạn bè.... Tuy nhiên, cuộc cách mạng công nghệ ấy cũng một trong những nhân tnh hưởng sâu sắc đến hnh phúc gia đình, đến quyền riêng tư cá nhân làm cho con người không sống với hnh phúc thực tại. n cạnh đó, mạng hội phát triển cùng với việc đạo đức hội xuống cấp, nhiều n a phẩm đồi truỵ, phn giáo dục cũng lúc nhiều ph huynh khó khăn hơn trong việc quản giáo dục con cái, dn đến các hành vi bạo lực gia đình, thậm chí con cháu đánh đp ông bà, giết hại mẹ cha, v.v...
  1. NH HƯỞNG CỦA TRIẾT VÀ TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH VIỆT NAM
    1. Tư tưởng bình đẳng s bình đẳng trong quan h hôn nhân
Vào thời Đức Pht, hội bị thống trị bởi giai cấp giàu có đầy quyền lực. Quyền lợi nhân phẩm của người ph n không được xem trọng. Vậy mà, tại thời điểm y, Đức Pht đã có một cách nhìn nhn quan niệm hoàn tn khác. Đức Pht chính người đã mang lại triết lí về tinh thn bình đng thực sự cho nhân loại. Câu nói Ta Phật đã thành, các ngươi Phật sẽ thành của Đức Pht Thích Ca, minh chứng ng nht cho một giá trị tôn trọng quyền bình đng tột cùng của đạo Phật.
Trong kinh Trung A Hàm, con người bình đẳng trong mi lĩnh vực, từ việc bình đng trong giai cấp, địa vị đến việc xuất gia tu học, đc bit nhn mạnh vic bình đẳng giữa nam và nữ. Trong kinh Tiện dân (Nipata), câu 136 một minh chứng cụ thể về tinh thn bình đẳng: Không ai sinh ra tiện dân, không ai sinh ra Bà-la-môn. Do hành vi mà con người thành tiện dân, do hành vi mà con người thành Bà-la-môn”.
Trong mi quan hệ nam nữ, Đức Pht kng đồng tình với tư tưởng trọng nam khinh n của đạo Bà-la-môn truyền thống với quan niệm cho rằng đàn ông có giới tính ưu việt hơn ph nữ. Dưới ánh ng tâm linh Pht pháp, không tồn tại vấn đề kỳ thị giới tính hay nói cách khác ta có thể thấy được tinh thn bình đng sự tôn trọng đối với người ph nữ… Đặc biệt, giá trị của người ph nữ, sự
 


hy sinh cao cả của người mẹ được biểu hiện cụ thể qua tình mẫu tử trong kinh Vu Lan Báo Hiếu.
Tinh thn giải thóat giác ngộ bình đẳng, không phân biệt nam n cũng được thể hiện nht trong kinh Thắng Man. Thắng Man phu nhân người nữ, do đã tu nhiều đời nương oai thn lực của Pht nói ntưởng Đại thừa nht phương tiện còn được Pht thọ sẽ thành Phật trong tương lai. Như vậy, thể thy được lời chư Pht dy trong kinh Đại Niết Bàn: Tt ccng sanh đều có Pht tánh không phân biệt giai cấp, nam nữ, địa vị, nguồn gốc.
T sự bình đng nam n trong hội, đạo Pht nêu n sự bình đng của người vợ người chồng trong cuộc sống hôn nhân. Đức Pht dạy rằng: Chồng đối với vợm điềubản: lấy lễ đối đãi với nhau, oai nghiêm đĩnh đạc, ăn mặc tùy thời, trang sức hợp thời, giao phó việc nhà. V cũng phải lấy m điều sau để cung kính với chồng: Dậy trước, ngủ sau, nói lời hòa nhã, kính nhường tùy thuận, sớm lĩnh ý chng. Làm được điều y chắc chắn hôn nhân sẽ được bền lâu.
Trong kinh Thiện Sanh, để mi quan hệ giữa vợ chồng được êm đẹp, người chồng n lấy năm điều yêu thương, tôn trọng vợ làm kim chỉ nam để đem đến giá trị hnh phúc hôn nhân đích thực: Mt yêu thương vợ. Hai không khinh rẻ. Ba sắm các th chuỗi ngọc, đồ trang điểm. Bốn tôn trọng quyền tự do nhân. Năm xem vợ như chính mình.
Trong kinh đin Pali, từ được dùng để biu hin stôn trng y là sammananaya, có nghĩa là với stôn trng và ngưỡng m. Quan trọng hơn nữa, những điều ấy không chỉ bày t qua những lời nói hời hợt, giả tạo; phải xuất phát từ n trong ý nghĩ, thể hiện qua hành động cụ thể. Theo quan niệm của Đức Pht, người vợ xứng đáng được chồng tôn trọng như thế: Người vợ không phải là sở hữu cá nhân của chồng, người cho mình quyền tiêu khiển v theo ý riêng, mà người vợ mt thành viên bình đẳng đáng được tôn trọng trong mối quan h y”3.
Đ tương xứng với người chồng như đã đề cậptrên, trong kinh Bảy Loại Vợ, Đức Pht từng nêu n 7 loại người vợ trên cuộc đời



3. T kheo, TS. Basnagoda Rahula, Diệu Liên Thu Linh Diệu Ngộ Mỹ Thanh dịch (2010), Lời dạy của Đức Pht, NXB Tôn Giáo.
 


này là: vợ như kẻ t nhân, vợ như người ăn trộm, vợ như chủ nhân, vợ như người mẹ, vợ như người em, vợ như người bạn, vợ như người hầu. Trong đó, chúng tôi xin mạn phép trích dn hình nh người vợ được đề cập đến trong bảy loại vợ trên theo chúng i đó không chỉ được xem như hình mẫutưởng trong hội thời đức Pht hiện tiền hay thuyết giảng còn có ý nghĩa cho đến hiện nay: Sáu là, người vợ nào luôn luôn niềm nở, vui vẻ, hòa thuận với chồng như th khi hội ngộ mt người bạn thân từ lâu mới gặp lại. Luôn giữ tiết hạnh thủy chung với chng. Người v như vy, Như Lai gọi là loi v như bạn. Bảy là, người v o luôn mềm mng, không nóng tánh, không n hận, giận dỗi. Dù bị chồng đối xử không đẹp nhưng vẫn nhường nhịn, không t thái độ lỗ mãng, lớn tiếng. Ti lại còn biết tùy thuận để khuyên răn và chinh phục chng mình ...”
Đức Pht dạy rằng, đối với những người v biết yêu thương chồng con, vun vén, chăm lo cho hnh phúc gia đình, khi mt đi s được sanh v cõi nh còn nếu ngược lại s sanh o cõi xấu: y Su-cha-ta, trong bảy loại người vợ mà Như Lai vừa nói, ba hạng đầu loại vợ như t nhân, như những người bất hảo, do đó con nên xa tránh. Những hạng vợ như vậy do sống không giới hạnh, ác khẩu lễ, sau khi qua đời phải sanh vào cõi xấu. Bốn loại vợ sau đáng tôn kính noi theo. Đó vợ như mẹ, vợ như em, vợ như bạn vợ như người hầu. Những hạng vợ này khi sống thì tạo ra hạnh phúc cho gia đình con cái; khi qua đời thì được sanh vào cõi lành”.
Có lẽ, hiếm có một tôn giáo nào, bổn phn của người chồng người vợ được cụ thể a ng như đạo Phật. Đó không chỉ trách nhiệm của riêng lẻ mỗi cá nhân còn trách nhiệm chung để xây dựng và gìn giữ một gia đình an vui, hòa thun. Tch nhim bổn phn đó chính sự thể hiện bình đng trong quan hệ hôn nhân của người chồng người vợ.
Trong xã hi Vit Nam, vì chịu nh hưởng nặng nề của tư tưởng phong kiến Nho giáo, vấn đề bất bình đng giới trong cả gia đình hội tr thành một vấn nn ăn sâu bám rễ” vào đời sống nhiều thế hệ. Sự du nhp nh hưởng của Pht giáo có vai trò góp phn hn chế sự cứng nhắc của tư tưởng Nho giáo trong các mối quan hệ gia đình. Tư tưởng bình đẳng, tôn trọng người ph n của đạo Pht đã a quyện cùng truyền thống trọng Mẫu của người Việt tạo n những t đặc trưng trong n a gia đình Việt.
 


Do đó, mặc có vị trí thp hơn nam giới nhưng so với các nước phương Đông cùng chịu nh hưởng của tư tưởng Nho giáo thì địa vị của người ph n Việt Nam trong gia đình vẫn cao hơn rất nhiều.
Sinh thời, Ch tịch H C Minh đã từng rất quan tâm về vấn đề bình đng giới. Người đã từng khng định: Công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Đàn quyền bình đẳng với đàn ông về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa,hội gia đình. Như vy, ta có thể nhn thấy t tương đồng trongtưởng tôn trọng n giới” của Pht giáo tưởng H C Minh. Bởi lẽ, hơn ai hết, Đức Phật H C Minh đều sống trong thời đại đó quyền lợi của người phụ n bị tước đoạt, bị áp bức, chịu đau khổ chịu nhiều thiệt thòi nhất.
Trong nhng năm gn đây, tại Vit Nam vn đề bình đẳng giới đảm bảo quyền của ph n được cụ thể a trong nhiều n bản quy phạm pháp luật, tiêu biểu Luật bình đẳng giới hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007. Việt Nam cũng một trong 6 nước đầu tn tham gia kết công ước xoá bỏ tt cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại ph n của Liên Hợp Quốc (CEDAW- convention on the elimination of all forms of Discrimination against women). Tính đến năm 2014, tỉ lệ ph n tham gia vào hội đồng nhân dân đại biểu quốc hội chiếm hơn 25%. Qua đó có thể thấy được những nỗ lực của nước ta trong việc thu hẹp khoảng cách trong việc phân biệt, đối xử giữa những người khác giới. Vị trí vai trò của người ph n ngày ng được khng định. Tuy nhiên, trong nhiều khía cạnh của đời sống gia đình, tư tưởng bất bình đng vẫn đang còn tồn tại. Việc áp dụngtưởng bình đng của Pht giáo trong việc vun đp mối quan hệ giữa vợ chồng hết sức cần thiết.
    1. N giới – Thập thiện vấn đề gìn giữ hạnh phúc gia đình
N giới Thập thiện một trong những nội dung quan trọng của giáoPht giáo, có vai trò không chỉ làm sở để ổn định t chức giáo hội, Tăng, Ni, chức sắc tôn giáo còn những điều n dy đi với các tín đồ Pht tử. Trong Ngũ giới, Thập thin có một sđiều nh hưởng trực tiếp gián tiếp đến việc xây dựng hnh phúc gia đình. Nếu thực hiện được đúng như lời chư Pht dạy, đặc biệt thực hành giới không tà dâm, không nói dối, không uống rượu,… có thể được xem như những bậc thang giúp con người bước gần hơn đến việc gìn giữ sự thủy chung bảo vệ hnh phúc gia đình.
 


Đối với người tại gia, không tà dâm hiểu theo nội hàm chung nht là duy chế tà m, tức là phải ngăn nga, hn chế dục vng trong một giới hn nht định hội cho phép. Người Pht tử ngoài vợ hay chồng của mình không được quan hệ bất chính với người khác để duy trì sự êm ấm trong gia đình ổn định ngoài hội. Ngoại tình, gian díu với vợ hay chồng của người phá hoại gia cang kẻ khác tự đào huyệt chôn hnh phúc gia đình mình. Không tà dâm còn có nghĩa chủ thể phải ý thức về hnh phúc của gia đình mình, không sự ham muốn nht thời tổn hại đến hnh phúc của người khác. Theo giáođạo Pht, người đã có vợ chồng không được quan hệ bất chính với người khác, ngay cả quan hệ giữa hai vợ chồng cũng cần đảm bảo thời gian không gian thích hợp, tránh buông th phóng túng, trong lúc thực hiện hành vi y, luôn giữ tâm thuỷ chung với người bạn đời của mình, không suy nghĩ đến người khác. Kinh Ưu-bà-tắc giới dạy rằng: Nếu quan h với vợ mình nghĩ tưởng đến v người khác, hoc quan h với v người khác nghĩ tưởng xem như vợ mình, đó cũng dâm. Những sự tà m như thế cũng phân ra nặng nh khác nhau. Do phiền não nặng nề, t phải chịu tội báo nặng nề. Do phiền não kém nặng nề hơn, t chịu tội o kém nặng n hơn”.
Trong đời sng gia đình, thực hành kng nói di cũng là một nhân tố quan trng để to dựng nim tin và giữ lửa hôn nhân. Trong kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân, Đức Pht đã từng răn dạy các đệ tử của mình: Này A Nan, chúng sanh họa từ trong miệng mà sinh ra, miệng lưỡi thực búa sắc tự bổ vào mình, cái họa để tự diệt mình. Có thể thấy rằng, dù đối với những người xung quanh Đức Pht khuyên bảo hàng đệ tử của mình không được nói dối, huống chi vợ chồng đã kết nghĩa phu thê thề trọn đời trọn kiếp n nhau.
Tuy nhiên, trong cuộc sống có không ít người sự cám dỗ của si mê dục vọng, sẵn ng lừa dối người bạn đời của mình để đi tìm sự mới lạ, chạy theo cảm xúc thăng hoa:
Bỏ chng đi theo trai
Người nam tâm phóng đãng Bỏ v mê sắc ngoài
Gia đình ai như vậy Của đ soa, tht bại.
 


Tại Việt Nam hiện nay, có thể thấy được một thực trng khá phổ biến đó chính những cảnh thù hằn, ghen tuông, thậm chí vợ chồng giết hại lẫn nhau tràn ngập trên mạng hội các phương tiện thông tin đại chúng. Có thể thấy việc lừa dối có mối quan hệ với người khác ngoài vợ hoặc chồng (ngoại tình) chính th khí tàn bạo nht hủy hoại hnh phúc gia đình.
n cạnh đó, theo giáo nhà Pht, uống rượu hay sử dụng các chất kích thích, ma túy làmmuội thân tâm con người, con đường ngắn nht dn dt con người đến sự sai trái, dễ phạm vào các giới còn li. Giới thnăm kng chỉ quy định kng uống rượu, còn phải tuyệt đối cách ly những nơi rượu chè, mặc dù mình không uống. Không được xúi dục người khác uống, bởi đó cũng hành vi gián tiếp vi phạm giới. Theo Kinh Thiện Sinh, uống rượu gây ra sáu lỗi: mất của, sinh bệnh, gây gỗ, tiếng xấu đồn xa, dễ sinh nóng giận, trí tuệ mỗi ngày giảm dn. Những lỗi này một mặt nh hưởng trực tiếp đến đời sống của bản thân gia đình, mặt khác còn làm ng hoại đạo đức hội. Bởi rượu hay bất cứ chất kích thích nào cũng làm mờ đi duy nhận thức của con người, làm mất định hướng, hành vi của con người trong cuộc sống. Không ít người chỉchút men say đã phạm giới tà dâm, sa vào vòng luyến ái đánh mất thủy chung. Nhiều ngườikhông tỉnh táo đã buông lời ác khẩu, ra tay đánh đập cả mẹ cha, thậm chí chém giết vợ con đồng nghĩa với việc phạm giới t sinh. Th o điều tra nghiên cứu, tại Việt Nam đến 55% bo lực xảy ra trong gia đình có người nghiện rượu. Bởi vy, để gia đình ấm êm, hòa thuận, các thành viên trong gia đình, nhất người đàn ông cần nghiêm túc thực hành theo lời Đức Phật tránh xa men rượu.
    1. Tư tưởng từ bi, nhẫn nhục s hòa thuận trong gia đình
Theo đạo Pht, T bi” tìm cách đem lại niềm vui hnh phúc cho mọi người, quên đi hnh phúc của bản thân không mong báo đáp. Nhn nhục một trong những đức hnh cần thiết của con người, nht người đệ tử học Phật. Người khác làm nhục, bêu xấu ta ta không n giận gi nhn nhục. Nhn nhục điều hết sức quan trọng đối với sự tu dưỡng của một người: Nóth biến binh đao thành giao hảo, biến nước mt thành nụ cười, lạith tăng thêm hạnh phúc trí tuệ4.


4. Lâm Thế Mẫn( người dịch: Linh Chi), Tinh thần nét đặc sắc của Phật giáo, Nxb Mũi
 


Sự vận dụng tưởng T bi, nhn nhục trong triết lý Pht giáo vào việc vun đp hnh phúc gia đình hết sức cần thiết, nht đối với người ph nữ. Ta phải hiểu rằng sự nhn nhịn trong Pht giáo không phải tinh thn nhu nhược, khiếp sợ, khuất phục đó chính đức hy sinh cao cả của người ph n trong cuộc sống hiện đại ngày nay. Khác với người ph n phương Tây với cá tính mạnh mẽ, vẻ đẹp của người ph n Việt Nam tiềm n trong tâm hồn, tính ch “chịu thương chịu k hơn thế nữa sự hy sinh, chịu đựng. Người theo đạo Bồ tát phải mở rộng tấm lòng bao dung tha th đối với mọi người xung quanh, biết nhn nhịn kiềm chế bản thân lúc cần thiết, nht người bạn đời của mình. Nếu trong một gia đình, việc nhỏ không nhn nhục được thì khó lòng có thể giữ gìn xây dựng được một gia đình thuận hòa, êm ấm.
Trong kinh Tăng Chi B, khi nhc đến bổn phn của người vợ, Đức Pht cũng nhắc nhở: Người vợ không nên xem thường (na atimannati) mt người chồng nhiệt tình, phấn đấu để thành đạt, thoả mãn nhu cầu của vợ luôn chăm sóc vợ mình5. Người ph n cần phải đt niềm tin vào chồng giải quyết mọi vấn đề một cách khôn khéo, không để sự nóng giận nht thời làm tan vỡ đi hnh phúc gia đình mình, họ cần biết rằng để có được hnh phúc không phải một điều đơn giản, người ph n phải nhn nhục,thậm chí còn phải đôi lúc hy sinh cái inhân chồng con cái.
    1. Bổn phận nghĩa vụ của cha mẹ con cái
Mối quan hệ giữa cha mẹ con cái cũng một trong những nhân t hết sức quan trọng trong việc xây dựng hnh phúc gia đình. Trong kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt, bổn phn và nghĩa vụ của cha mẹ với con cái và ngược lại được thể hin khá cụ th, rõ ràng. Trước hết, bậc làm cha mẹ phải quan tâm tới con cái với năm điều: Ngăn chặn con m điều ác, khuyến khích con m điều thiện, dạy con ngh nghiệp, cưới vợ gả chồng xứng đáng cho con, đúng thời trao của thừa tự cho con. Hiện nay, tại Việt Nam, nhiều gia đình buông lơi, thiếu trách nhiệm trong vấn đề n sóc giáo dục con. Một s khác lại có phương pháp giáo dục con cái có phn không đúng. Thực tế có nhiều bài viết cho thấy cha mẹ giáo dục con cái bằng cách dùng


Cà Mau, 1996, tr. 77-78.
  1. Tăng Chi Bộ Kinh VIII: Phm Uposatha: kinh Dutyavisakha.
 


những hành động mang xu hướng bạo lực nhằm n đe khi con không nghe lời, n luyện cho chúng tính kỉ luật. Nhiều nghiên cứu đã khng định rằng, bạo lực của cha mẹ với nhau hoặc với con cái chính nguyên nhân gây tổn thương tâmvô cùng sâu sắc trong lòng con trẻ. vậy việc áp dụng những giáođạo Pht, kết hợp với việc sinh hoạt tại các chùa để nâng cao tính tự giác nhn thức của thế hệ tr hết sức cần thiết.
Trong Tứ trng ân của nhà Pht, ân cha mẹ được đt hàng đu. Trong kinh Tăng Chi có đoạn: Này Bà-la-môn, thế nào là lửa đang cung kính. Vì từ nơi cha mẹ, chúng ta được tạo nên được tạo thành. Do đó, cha m lửa đáng được cung kính, tôn trọng cúng dường . Kinh Tăng Chi ghi lại lời Đức Pht như sau: Này c Tkhiêu, Như Lai nói:hai hạng người khó th trả ơn được m cha. Này các T khiêu, nếu mt bên vai cõng mẹ, mt bên vai cõng cha suốt trăm m, đấm bóp, thoa xức, tm rửa dù cho cha m tiểu hoặc đại tiện trên thân mình cũng chưa gọi đền ơn mt cách đầy đủ. Hoặc này các T khiêu, nếu người conth suy tôn cha m lên ngôi tối thượng uy lực trên quả địa cầu với bảy báu này cũng chưa gọi trả ơn mt cách đầy đ .
Kinh Phân Biệt k rằng, Đức Thế Tôn thường nhắc nhở đến công ơn của cha mẹ Ngài: Ta trải qua nhiều kiếp tinh tấn nay mới thành Phật, toàn công ơn của cha mẹ ta. Ngài cũng đã từng có bài kệ để tán thán công đức mẹ cha:
M cha gọi là Phạm Thiên, Bậc đạo thời trước,
Xứng đáng được cúng dường, Vì thương đến con cu,
Do vy, bậc hiền triết, Đảnh lễ tôn trng, Dâng đồ ăn đồ uống, Vải mặc và giường nằm, Thoa bóp cả thân mình Tm rửa cả chân tay, Với sở hành như vậy, Đối với m cha,
 


Đời y người hiền khen, Đời sau hưởng thiên lc”6
V bổn phn của người con đối với đng sinh thành, dưỡng dục cũng được Đức Pht nêu trong nhiều kinh điển. Kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt chỉ , bổn phn của kẻ làm con phải lấy năm điều kính thuận cha mẹ: Cung phụng hiếu dưỡng, m điều phải nói cho cha m biết, không được chng báng cha mẹ, không làm trái lời cha m dạy, không ngăn việc m thiện, tu phúc của cha m.
Trong kinh Báo Ân Cha M, với ni dung gồm có 6 phn, mi phn đem đến những ý nghĩa sâu sắc, thức tỉnh sự hiếu đạo trong tâm thức người con. Phn th nht dun khởi. Phn th hai nói về ân đức của cha mẹ, có 10 điều cha mẹ mang đến cho con cái sinh sản khổ sở, sinh ri quên lo, nuốt đng nhổ ngọt, nhường khô nằm ướt, bú mớm nuôi nấng, rửa ráy chăm sóc, xa cách thương nhớ, con làm ác, thương mến trọn đời.... Phn th ba nói về sự bất hiếu của con cái. Phn th tư nói về ân đức của cha mẹ khó có thể đền đáp, trong đó có đon cha mẹ, đốt thân làm đèn cúng dường chư Pht ng không đáp được công ơn cha m, phn thnăm đức Pht dạy về phương pháp báo hiếu cuối cùng chính phn kết thúc khai thông trí tuệ.
Có thể nói, đạo đức Pht giáo dường như đã gạt bỏ hoàn tn những triết lý cao siêu, khó hiểu để tr về a nhp với cuộc sống trn thế hng ngày. Đ thể hiện lòng hiếu kính với đng sinh thành, hàng năm các chùa tại Việt Nam nói riêng các thế hệ nhân dân nói chung đều n tự về các chùa để tham dự ngày lễ Vu Lan Báo Hiếu. Trong dân gian thường truyn tụng, nhc nhở nhau vngày lễ ý nghĩa này:
Vào tháng Bảy nh ngày Thắng Hội Mùa Vu Lan tội vong nhân
Là ngày báo hiếu Song Thân
V chùa lễ Phật báo ân sinh thành
Trong bui l, người tham dự thường được nghe nhng bài thuyết pháp về công ơn cha mẹ lòng hiếu thảo đối với mẹ cha


  1. Kinh Tăng Nhất A Hàm I, II, III, HT. Thích Thiện Siêu, viện NCPHVN, 1993.
 


cũng như lòng biết ơn đối với mọi ân nhân. Nếu ai còn cha mẹ sẽ cài n ngực đóa hoa hồng trân trọng sự hnh phúc y, nếu ai đã mất cha, mất mẹ thì ngậm ngùi cài n ngực đóa hoa hồng trng nhằm tưởng nhớ đến đng sinh thành.
Như vy, đã qua hơn hai nn năm lịch sử nhưng cho đến hôm nay, những điều n của Đức Pht vẫn có ý nghĩa lớn lao trong đời sống gia đình. Nếu mỗi con người chúng ta, dù tr hay già, người chồng hay người vợ, bậc làm cha mẹ hay phn làm con cái đều hiểu được những lời Pht dạy thì dù cuộc sống ngoài kia có bao nhiêu biến động trong gia đình vẫn sẽ mãi an n.
  1. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM VẬN DỤNG NHNG TRIẾT LÍ PHT GIÁO O VIỆC XÂY DNG ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CNH HIỆN NAY
Pht giáo một tôn giáo ngoại sinh, có lịch sử lâu đời, ăn sâu bám rễ vào đời sống tinh thn của nhân dân Việt Nam, một trong những yếu t quan trọng cấu thành n a của người Việt, tác động đến đạo đức, lối sống, hành vi ứng xử của nhiều thế hệ. Tuy nhiên trong cuộc sống hiện đại ngày nay, với sự du nhp của các yếu t n a mới, nhiều tôn giáo mới xuất hiện, Pht Giáo chịu tác động ngược lại của các yếu t y, bị nh hưởng theo chiều hướng tiêu cực. vy, việc đề ra các giải pháp nhằm phát huy vai trò của đạo Pht trong việc xây dựng đời sống gia đình tại Việt Nam trong bối cảnh hiện nay việc làm hết sức cần thiết. Bài viết xin đề cập đến một s giải pháp sau:
  1. Các quan chính quyền, các đoàn hội, chi hội cần tạo điều kiện phối hợp với nhà Chùa t chức các buổi thuyết ging về tinh thn bình đng, tầm quan trọng của việc thực hiện n giới, thập thiện, từ bi, nhẫn nhục cho các Phật tử nói riêng người n nói chung.
  2. Cn phải giáo dục thanh niên về giới tính, tình yêu, hôn nhân, gia đình ngay từ lúc còn trẻ, thông qua các buổi thuyết giảng, chương trình giáo dục thanh niên tại các chùa
  3. T chức ngoại ka thu hút s lượng lớn sinh viên tham gia nhằm tạo ra một thế hệ thanh niên có trí tuệ, ng suốt tưởng đạo đức tiến bộ trong việc thiết lập mối quan hệ hôn nhân xây dựng đời sống gia đình
 
 
  1. V phía các bậc cha mẹ, cần định hướng cho các em ngay từ khi đến tuổi trưởng thành, giáo dục cho các em thói quen đến chùa để tham gia các hoạt động nh mạnh như: thiện nguyện, ka tu mùa hè, chủ nht xanh, chung tay xây dựng các dự án cộng đồng nhằm hoàn thiện nhân cách, phát triển năng.
  2. Có hình thức xử pht nghiêm khắc đối với các hành vi lợi dụng Pht Pháp để trục lợi hoặc mục đích cá nhân, các t chức phi pháp huỷ ng chính pháp của Đức Pht, đưa ra những hình ảnh, những thông tin sai lệch về đạo Pht làm mất đi niềm tin đối với đạo Pht của nhân dân nói chung thế hệ tr nói riêng.





***
 


 

Tài liệu tham khảo

Đng Thị Lan( 2006), Đạo đức Phật giáo với Đạo đức con người Việt Nam, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội.
Giáo hội Pht giáo Việt Nam (1991) Kinh Dhananjani thuộc Trung Bộ Kinh, tp II: 188A.
Giáo hi Pht giáo Vit Nam (1991), Kinh Tăng Chi, tp IA: 59. Giáo hi Pht giáo Vit Nam (1991), Kinh Tăng Chi, tp III: 61.
Hòa Thượng Thích T Quảng( 2008), Phật Giáo nhập thế phát triển, NXB Tôn Go
H giác (1996), Tình mẹ, Sơn môn pháp phái, Giáo hội Pht giáo Việt Nam: 24.
Lê Khánh Trình (2016), Văn hóa gia đình và vn đề go dục c giá trị văn hóa truyền thống trong gia đình cho thế h trẻ.
Phượng( 1986), Tình hình ly hôn hiện nay nguyên nhân của , Tp chí hội học, s 2 năm 1986.
Thị Q (2010), Quản nhà nước về gia đình luận thực tiễn, Nxb Dân Trí.
Nguyễn Khắc Cảnh, Đặng Thị Kim Oanh (2016), Nhân học về thân tộc, dòng họ, hôn nhân gia đình, NXB Đại Học Quốc Gia TPHCM.
Nguyễn Thị Nguyệt( 2013), Biến đổi trong quan niệm hôn nhân gia đình của Người Việtkhu tái định cư, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tỉnh, Tp chí nghiên cứu n a.
Nhiều tác giả( 2005), Phật giáo trong thời đại chúng ta, NXB Tôn Giáo.
Sự biến đổi của các truyền thống gia đình nông thôn trong quá trình hiện đại a: phác thảo theo các kết quả điều tra hội học gần đây(1990), tạp chí hội học s 3.
Thiền Hám Sơn( 2008), Kinh Kim Cang, NXb Lao Động.
Trần Đình Hượu (1989), V gia đình truyền thống Việt Nam với ảnh hưởng Nho Giáo, tạp chí hội học s 2.



Trương SHùng( 2007), Tôn go & Văn hóa, NXB Khoa Học Xã Hội.
Vin Nghiên cứu Truyn thống và Phát trin (2010), Con người Việt Nam truyền thống những giá trị đối với sự phát triển, Nxb Lao Động.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây