4 TỨ DIỆU ĐẾ  ​​​​​​​VỚI VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TOÀN CẦU

Thứ tư - 08/05/2019 23:23
Trần Hồng Lưu
59
 





 
TỨ DIỆU ĐẾ 
VVĐỀ GIÁDĐĐTOÀCU

Trn Hng Lưu*




TÓM TẮT

Tứ diu đế hay là bốn chân lý vĩ đại của Pht giáo chính là cốt tủy cơ bản để hợp thành học thuyết nhân sinh cứu đời. Đó là kết quả suy ngm và trải nghim thông qua thực tin cuộc sng của chính Pht tvà stng kết nhng suy tư về cuộc sng chúng sinh được đúc kết li. Có thể coi mỗi một chân lý (Đế) của Pht giáo là một chủ đề lớn để nhân loại suy nghĩ, trải nghim để đúc rút cho thực tin sôi động kng chỉ hôm qua, ngày nay và cả mai sau. Dĩ nhiên, thành tựu mà Pht giáo đã và đang để lại cho nhân loại kng chỉ là Tứ diu đế mà cả ở nhiu lĩnh vực khác nữa liên quan đến nhiu lĩnh vực mà nhân loại đang hướng tới như vn đề chiến tranh, hòa bình, môi sinh môi trường, v.vvà cả nhng vn đề to lớn hơn như bản thể lun triết học vnguồn gốc thế giới và các loài, vn đề nhn thức lun và cả vn đề tư tưởng bin chng về thế giới mà ngày nay soi chiếu vào nghiên cứu nguồn gốc thế giới. Các nhà khoa học đã nhn thy Pht giáo có nhiu tư tưởng rt gn với khoa học hin đi, nht là Vt lý học. Điu này đã được nhiu học giả nổi tiếng n lun đến. Phm vi bài viết này chỉ n vn tt vgiá trị của Tứ diu đế với vn đề giáo dục đo đức cho nhân loi. Bài viết kng đi sâu vào giáo lý uyên nguyên của Pht giáo mà chỉ dừng lại ở nhng nét cơ bản nhm làm nổi bt giá trị nhân bản của Pht giáo với vic giáo dục đo đức cho con người. Trước nhng biến động khôn lường của thế giới hin nay, bo động, chiến tranh, chết chóc, môi trường



* Tiến sĩ Triết học, Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng, Vit Nam
 

con người bị đe da, thiết tưởng vic nghiên cứu vn đề này kng nhng chỉ có ý nghĩa học thut mà còn có gía trị thực tin sâu sc, với mục đích giáo dục đo đức hướng tới kêu gọi sự thức tỉnh trong mỗi con người trên thế giới nhm hướng tới một xã hội yên bình, sng hòa bình, m no, hnh phúc, ai cũng được học hành, đm bo tốt an sinh xã hội.
  1. MỞ ĐẦU

Tứ điu đế hay là bốn chân lý vĩ đại của nhà Pht nhm tìm ra con đường nhân sinh dit khổ cho con người. Nhng chân lý đó và giá trị của nó đối với vic giáo dục đo đức con người sẽ được din giải cụ th, ngn gọn dưới đây.
    1. Khổ đế

Khái niệm “khổ”, theo quan điểm Phật giáo, bao gồm trong tám phạm trù: gồm có sanh khổ, lão khổ, bịnh khổ, chết khổ, cầu không được khổ, ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ và chấp thủ năm uẩn là khổ. (Nguyn Hữu Vui chủ biên.1998). Qua nội dung “khổ” của các phạm trù trên, chắc hẳn nhận thức luận này của Phật giáo cần phải được đánh giá lại. Nói theo ngôn ngữ của Walpola Rahula, đạo Phật không hề nhuốm màu bi quan cũng không mang vẻ lạc quan, vì đạo Phật có cách nhìn hiện thực về nhân sinh và vũ trụ, nhìn sự vật một cách như thật.

Nguyên nhân của khổ: đạo Phật không dừng lại ở lời tuyên bố “đời là khổ đau”, mà tiếp tục chỉ ra căn nguyên của nỗi thống khổ muôn đời ấy, đó là: ba độc tham, sân, si; là khát ái hay ái dục và vô minh.

Khổ do ba độc tham, sân, si: “tham, sân, si” là nguyên nhân của cuộc sống đau khổ (Bộ Giáo dục và đào to, 1999).

“Tham” là tham lam. Ham muốn thái quá. Đắm say, thích thú muốn có nhiều những thứ mình ưa thích như tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ, v.v… Lòng tham đó chẳng hề biết chán, càng được thời càng ham. Tham cho mình, rồi tham cho cả bà con quyến thuộc, quốc gia, xã hội của mình. Cũng vì lòng tham, mà nhân loại tranh giành giết hại lẫn nhau. Kẻ tham hay ghen ghét những người thành tựu. Chính sự tham
 

dục lạc đó chính là những nguyên nhân ràng buộc kiếp người vào vòng sinh tử, luân hồi, đau khổ.

“Sân” là cơn giận, lòng giận dữ, nóng nảy, thù hận khi không vừa lòng, không được thỏa thích như ý muốn. Bất bình vì bị xúc phạm, nhân đó làm những chuyện sai trái. Sau cơn giận thời giữ lại lòng oán ghét tìm dịp mà trả thù. Kinh Hoa Nghiêm có nói, khi một niệm lòng sân hận nổi lên, thì trăm ngàn cửa nghiệp chướng đều mở ra, hay một đốm lửa sân, có thể đốt hết muôn mẫu rừng công đức. Vì thế, đức Phật cũng đã từng khuyên rằng, một khi đã từ bỏ được nóng giận thì phiền não sẽ không đến với chúng ta.

Đức Phật dạy chúng sinh hãy từ bỏ cả tham lẫn sân. Thân tâm dẹp sạch tham dục và sân hận thời trở nên thanh tịnh, đó là điều kiện tốt để sớm chứng được cảnh Niết bàn.

“Si” là si mê, ngu tối. Người si mê không sáng suốt, không suy xét hiểu biết đúng lẽ phải, đúng sự thật để phán đoán việc hay dở, tốt xấu, lợi hại, v.v… nên mới làm những điều nhiễm ô tội lỗi, có hại cho mình và người. Si, theo thế tục gọi là “dại” hay “ngu”. Si che lấp tâm trí, làm cho con người không còn nhìn thấy được những chất bợn nhơ đang gặm nhấm từ bên trong con người khiến các thói hư tật xấu ấy sẽ tăng dần và cuối cùng đưa con người vào con đường tội lỗi triền miên. Đức Phật dạy rằng si là điều ô trược tệ hại nhất. Hãy dứt bỏ si để trở thành người trong sạch.

Tam độc “tham, sân, si” là những nguyên nhân gây ra bất hạnh và phiền não, ưu tư cho con người. Tham, sân, si có thể được tìm thấy một cách dễ dàng nơi hành động, ngôn ngữ, và ý nghĩ của chính mình cũng như của kẻ khác. Bất cứ ở đâu hay lúc nào, nếu tham, sân, si có mặt và ngự trị thì cuộc sống riêng hay chung đều trở nên xấu xa đau khổ. Tham, sân, si là sản phẩm của con người và xã hội và chính chúng là nguyên nhân làm hư hại cuộc sống an lành của loài người.

Việc thực hiện con đường đi ra khỏi “tham, sân, si” luôn luôn được Đức Phật quan tâm và khuyến khích các đệ tử của Ngài hành trì để từ đó các pháp an lạc được tăng trưởng và các pháp khổ đau được diệt trừ. Nếu không khéo hành trì thì
 

không những các khổ đau tăng trưởng mà các thiện pháp cũng bị tiêu trừ. Nếu ai tu tập và trau dồi tâm trí để thoát khỏi vòng phiền não tham, sân, si, tất nhiên người ấy sẽ được hoàn toàn giải thoát (Nguyn Đăng Thục, 1991).

Khổ đau do ái dục: Phật xác nhận chúng sanh đang lâm bệnh đau khổ. Sau khi quan sát, nghiên cứu và phân tích tỉ mỉ tận tường chứng bệnh đau khổ, Ngài tìm ra nguyên nhân tiếp theo của nó và tuyên bố rằng nguồn gốc của mọi hình thức đau khổ là ái dục.

Trong kinh Tương Ưng B, phẩm Chuyển pháp luân, Đức Phật khẳng định: “Này các tỷ kheo, chính ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái” (Thích Minh Châu dịch, 2016B .tr.783).

Ái dục là nguồn gốc của đau khổ cũng vì chính trong ái dục đã có mầm mống đau khổ. Ái có ba loại: Dục ái (khát ái đối với sự khoái lạc của các giác quan), hữu ái (khát ái về sự hiện hữu và trở thành), phi hữu ái (khát ái sự không hiện hữu, nghĩa là chán ngán sự tồn tại, chán ghét sự hiện hữu). “Này chư Hiền, thế nào là Khổ tập Thánh đế? Sự tham ái đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia; như dục ái, hữu ái, vô hữu ái. Này chư Hiền, như vậy gọi là Khổ tập Thánh đế”. (Thích Minh Châu dịch, 1992B. tr.563).

Khổ đau do vô minh: theo đức Phật, vô minh chính là nguyên nhân căn bản và sâu xa nhất của khổ đau. Vô minh là không sáng suốt, không có trí tuệ, không có chánh tri kiến, không hiểu Tứ diệu đế, không biết rõ nguyên lí Nghiệp. Vô minh là một trong mười hai yếu tố trong nguyên lí Duyên khởi, là những nguyên nhân làm con người vướng trong luân hồi đau khổ.

Vô minh cũng được xem là gốc của mọi bất thiện trong thế gian và cũng là một đặc tính của khổ. Đó là tình trạng tâm thức không thấy sự vật “như nó là” (như thật tri kiến), cho ảo giác là sự thật và vì vậy sinh ra khổ. Vô minh sinh ái và đó là yếu tố cơ bản dẫn đến sự tái sinh. Như đức Phật dạy trong các kinh A-hàm: thấy các pháp, không biết đúng như thật gọi đó là vô
 

minh. Nghĩa là chúng ta thấy mọi sự vật ở trên đời mà không biết đúng như thật, chỉ biết bằng cách tưởng tượng sai lầm, đó là vô minh. Nói rõ hơn không biết, không thấy đúng như thật pháp Tứ đế: khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế, gọi là vô minh.
    1. Nhân đế (Tp đế)

Trong kinh Tương Ưng Bộ, một trong năm bộ kinh Nikaya, đức Phật cũng nhiều lần đề cập đến mười hai chi phần nhân duyên.

“Này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên sanh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được khởi lên. Như vậy toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là tập khởi.” (Thích Minh Châu dịch, 2016A, tr.371).
Mối liên hệ hữu cơ giữa 12 nhân duyên được Phật tổ chỉ rõ: “Nhưng do ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn
nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên
danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ
diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Do thọ diệt nên ái
diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu
diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu,
não diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt. Này các
Tỷ-kheo, như vậy gọi là đoạn diệt”. (Thích Minh Châu dịch,
2016A, tr.371). Mỗi chi phần của mười hai chi phần đều nằm
trong một mối liên hệ với nhau, chúng vừa là nguyên nhân của
một yếu tố này cũng vừa là kết quả của một yếu tố khác. Từ
đó, thuyết minh quá trình hình thành, tồn tại, tan rã và tan biến
của con người
      • Vô minh: là không biết đúng như thật các pháp do duyên sinh, vô tự tánh, không có một tự thể độc lập, bất biến; không hiểu rõ các sự vật, hiện tượng là vô thường, vô ngã, chấp các giả tướng làm tự ngã, sanh khởi lên tham, sân, si; không nhận thức đúng về Tứ diệu đế: sự thật về khổ, sự thật về nguyên nhân của khổ, sự thật về sự diệt khổ, sự thật về con đường dẫn
 

tới sự diệt khổ là tính chất căn bản của đời sống.

- Hành: hành động tạo nghiệp, động lực dẫn dắt tạo nghiệp. Hành động tạo nghiệp này có thể tốt, xấu hay trung tính. Hành có thể ở trong ba dạng: thân hành, miệng hành và ý hành. Do chính vô minh làm nhân, làm duyên cho hành sinh khởi. “Chư Hiền, thế nào là hành, thế nào là tập khởi của hành, thế nào là đoạn diệt của hành, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của hành? Chư Hiền, có ba loại hành này: thân hành, ngữ hành, tâm hành. Từ tập khởi của vô minh, có tập khởi của hành; từ đoạn diệt của vô minh, có đoạn diệt của hành” (Thích Minh Châu dịch, 1992A, tr.126)
  • Thức: sự nhận biết, phân biệt của con người về thế giới thông qua các cơ quan chức năng. Thức do các yếu tố nhân duyên mà sanh khởi và tên gọi cũng tùy theo các duyên ấy, như do duyên mắt và các sắc, thức sanh ra, thức ấy có tên gọi là “nhãn thức”, tai (nhĩ thức), mũi (tỷ thức), lưỡi (thiệt thức), thân (thân thức) và ý (ý thức). “Chư Hiền, thế nào là thức, thế nào là tập khởi của thức, thế nào là đoạn diệt của thức, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của thức? Chư Hiền, có sáu loại thức này: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Từ tập khởi của hành, có tập khởi của thức; từ đoạn diệt của hành có đoạn diệt của thức”. (Thích Minh Châu dịch, 1992A, tr.125).

- Danh sắc: là toàn bộ tâm lí và vật lí của con người, do ngũ uẩn tạo thành. Danh thuộc lĩnh vực tinh thần, sắc thuộc lĩnh vực vật chất. “Chư Hiền, thế nào là danh sắc, thế nào là tập khởi của danh sắc, thế nào là đoạn diệt của danh sắc, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của danh sắc? Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý, Chư Hiền, như vậy gọi là danh; bốn đại và sắc do bốn đại tạo thành, chư Hiền, như vậy gọi là sắc; như vậy đây là danh và đây là sắc, Chư Hiền, như vậy gọi là danh sắc. Từ tập khởi của thức, có tập khởi của danh sắc; từ đoạn diệt của thức, có đoạn diệt của danh sắc (Thích Minh Châu dịch, 1992A, tr.124).
  • Lục nhập: là các giác quan, gồm có sáu căn (năm giác quan và khả năng suy nghĩ là sáu).  “Chư Hiền, thế nào là sáu
 

nhập, thế nào là tập khởi của sáu nhập, thế nào là đoạn diệt của sáu nhập, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của sáu nhập? Chư Hiền, có sáu nhập này: nhãn nhập, nhĩ nhập, tỷ nhập, thiệt nhập, thân nhập, ý nhập. Từ tập khởi của danh sắc có tập khởi của sáu nhập; từ đoạn diệt của danh sắc có đoạn diệt của sáu nhập” (Thích Minh Châu dịch, 1992A, tr.123,124).
      • Xúc: Sự tiếp xúc, tương tác giữa sáu căn (6 nội xứ: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) và đối tượng của chúng là sáu trần (6 ngoại xứ: hình thể, âm thanh, hương vị, mùi vị, xúc chạm và ý tưởng - pháp). “Chư Hiền, thế nào là xúc, thế nào là tập khởi của xúc, thế nào là đoạn diệt của xúc, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của xúc? Chư Hiền, có sáu loại xúc này: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Từ tập khởi của sáu nhập, có tập khởi từ xúc; từ đoạn diệt của sáu nhập, có đoạn diệt của xúc” (Thích Minh Châu dịch, 1992A tr.123).
 
      • Thụ: là cảm nhận của con người mới với thế giới bên ngoài. Nói khác đi là các phản ứng tâm lý phát sinh khi mắt tiếp xúc với hình thể, tai tiếp xúc với âm thanh, v.v... ý tiếp xúc với ý tưởng.
 
      • Ái: gọi đủ là ái dục hay khát ái, sự vướng mắc, yêu thích, tham luyến. “Chư Hiền, thế nào là ái, thế nào là tập khởi của ái, thế nào là đoạn diệt của ái, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của ái? Chư Hiền, có sáu loại này: sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Từ tập khởi của thọ, có tập của ái, từ đoạn diệt của thọ, có đoạn diệt của ái” (Thích Minh Châu dịch, 1992A, tr.121).
 
      • Thủ: là điều cá nhân muốn chiếm lấy cho mình, gọi đủ là chấp thủ: sự kẹt vào, bám víu, đeo chặt của tâm thức vào đối tượng. “Chư Hiền, thế nào là thủ, thế nào là tập khởi của thủ, thế nào là đoạn diệt của thủ, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của thủ? Chư Hiền, có bốn thủ này: dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã luận thủ. Từ tập khởi của ái, có tập khởi của thủ; từ đoạn diệt của ái, có đoạn diệt của thủ”. (Thích Minh Châu dịch, 1992A, tr.120).
 
      • Hữu: là toàn bộ những gì ta gọi là tồn tại, sự sống, thế giới. “Chư Hiền, thế nào là hữu, thế nào là tập khởi của hữu,
 

thế nào là đoạn diệt của hữu, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của hữu? Chư Hiền, có ba hữu này: dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu. Từ tập khởi của thủ, có tập khởi của hữu; từ đoạn diệt của thủ có đoạn diệt của hữu và Thánh Đạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của hu”. (Thích Minh Châu dịch, 1992A, tr.119).
        • Sinh: là sự có mặt, hiện diện của con người, là cuộc sống hàng ngày bao gồm dục là tham ái và lòng ham muốn. “Chư Hiền, thế nào là sanh, thế nào là tập khởi của sanh, thế nào là đoạn diệt của sanh, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của sanh? Thuộc bất kỳ hữu tình giới nào, trong từng mỗi loại hữu tình, sự sanh, hiện khởi, xuất hiện, hiện diện, hiện hành các uẩn, tụ đắc các xứ; Chư Hiền, như vậy gọi là sanh. Từ sự tập khởi của hữu có sự tập khởi của sanh, từ sự đoạn diệt của hữu, có sự đoạn diệt ca sanh” (Thích Minh Châu dịch, 1992A, tr.118).
 
        • Lão, t: già và chết. Tức sự suy nhược, tàn lụi, tuổi thọ lớn, tan rã, tiêu mất, tử vong. Với sinh mạng con người, lão tử được biểu hiện dưới các hiện tượng: răng long, tóc bạc, da nhăn, các cơ quan tri giác suy yếu và chết.

Trong mười hai chi phần nhân duyên trên, mỗi chi phần vừa là nhân, vừa là quả. Nghĩa là nó vừa được tác thành bởi một nhân, nhưng đồng thời nó cũng chính là nhân hay điều kiện cho các thành tố còn lại. Khi mười hai chi phần nhân duyên sinh khởi đồng nghĩa với sự sinh khởi của khổ uẩn và khi mười hai chi phần nhân duyên diệt đồng nghĩa với sự đoạn diệt của khổ uẩn. Đây là nguyên lý sinh khởi và đoạn diệt của con người và vạn vật. Mười hai chi phần này mang tính tương đối và phụ thuộc lẫn nhau để tồn tại, không có cái gì gọi là tuyệt đối hay độc lập. Nó cũng không do bất cứ ai sáng tạo hay cũng không phải là sản phẩm của bất cứ một đấng siêu nhiên, thần thánh nào.
    1. Diệt đế

Phật quan niệm, nỗi khổ con người có thể tiêu diệt được nếu con người thực hiện đúng Đạo đế để đạt đến Niết bàn. Niết bàn chính là mục tiêu cuối cùng của đời sống phạm hạnh.
 

Niết bàn: tiếng Pàli là Nibbàna. Học giả Đoàn Trung Còn giải thích: niết bàn là “cảnh trí của nhà tu hành dứt sạch các phiền não và tự biết rằng mình chẳng còn luyến ái” và theo lối chiết tự thì: “Niết (Nib): ra khỏi, Bàn hay bàna: rừng, tức là ra khỏi cảnh rừng mê tối, rừng phiền não”. Pháp sư Huyền Trang chiết tự Niết bàn – Nirvana (Sanskrit) như sau: (i) Nir: ra khỏi, ly khai; vana: con đường vòng vèo, quanh quẩn, đổi thay. Nir- vana là ly khai con đường quanh quẩn, chuyển dịch (bứt vòng sinh tử luân hồi); (ii) Nir: không; vana: hôi tanh, dơ bẩn, Nir- vana là không hôi tanh, dơ bẩn (thanh tịnh, trong sạch); (iii) Nir: xa lìa, đào thải; vana: rừng rậm, Nirvana là xa lìa rừng rậm (đào thải những phiền tạp của đời sống). Mặc dù, các cách hiểu này không đồng nhất, song đều có chung một nghĩa căn bản: niết bàn là sự đoạn trừ dục vọng, xa lìa chấp trước, không còn phiền não, dứt hết nghiệp báo luân hồi. “Này Thiên chủ, một cách tóm tắt, đến mức độ như vậy, một Tỷ-kheo ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn, khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên mãn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người” (Thích Minh Châu dịch, 1992A, tr.554). Như vậy, niết bàn trong Phật giáo không phải là một cõi cực lạc có vị trí không gian, thời gian như thiên đường của Thiên Chúa giáo, mà là một trạng thái tâm linh hoàn toàn thanh thản, yên tĩnh, sáng suốt, không vọng động, dứt sạch ái dục, xoá bỏ vô minh, chấm dứt mọi khổ đau, phiền não, thấy rõ tất cả thực tánh của con người và vạn hữu, không còn tái sanh trong sanh tử luân hồi.
    1. Đo đế (Bát Chánh Đo)

Bát chánh đo là con đường tám nhánh để giải thoát khỏi khổ đau. Bát chánh đo chính là giáo lý căn bản của đo đế(trong tứ đế) gồm ba mươi by phẨm trđo. Ðây là con đường độc nht đi vào giải thoát hết thy các lu hoc. Người thực hành có thể đi vào giải thoát bằng ngõ by giác chi, bốn nim xứ..., nhưng tt cả nhng ngõ đường y đu được bao hàm trong Bát chánh đo: chánh kiến (cái nhìn đúng đn), chánh tư duy (suy nghĩ chân chánh), chánh ng(lời nói chân chánh), chánh nghip (hành động chân chánh), chánh mạng (nghề nghip chân chánh), chánh tinh tn (siêng năng, tinh cn đúng mc), chánh nim (tưởng nhớ đúng đn), và chánh
 

định (stp trung đúng đn). Pht dy: Ttp khởi của vô minh có tp khởi của lu hoc; từ đoạn dit của vô minh có đoạn dit của lu hoc và thánh đo tám ngành này là con đường đưa đến đoạn dit của lu hoc, tức là: chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghip, chánh mạng, chánh tinh tn, chánh nim, chánh định(Thích Minh Châu dịch, 1992A, tr.128).
  1. CON ĐƯỜNG ĐẠT ĐẾN HẠNH PHÚC CHO CON NGƯỜI

Đđt đến hnh phúc và giải thoát cho con người, Pht quan nim, ngoài con đường Bát chánh đo đã nêu trên, con người cn to nếp sng hòa hp. Nếp sng đó có thể gói gn trong sáu pp sau như lời Pht dy: “Này các T-kheo, có sáu pháp này cn phải ghi nhớ, to thành tương ái, to thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến vô tranh lun, hòa hợp, nht trí (Thích Minh Châu dịch, 1992A, tr.704).

Theo kinh Trung b, sáu pháp hay Lục hòa cng trụ được thể hin trên sáu lĩnh vực và theo thứ tự như sau:

Thnhất, thân hoà đồng tr: Nguyên tc này có nghĩa là hoà đồng trên nguyên tc hành động; mi hot động, hành vi trong cng đồng đtđức Pht đu hợp nht: đi ng đi, ở ng , ăn ng ăn, làm ng làm, nghng nghỉ,không lp dkiu cách, không phách li quan liêu, biết hoà mình, đồng sđi vi mi người, không sng đóng khung, cô lp, đri gây rạn nt, st mđi vi nhng người ng chung sng ctrước mt ln sau ng, đto thành mi tương thân, tương ái, tương kính và hoà hợp ln nhau.

Thhai, khu hoà vô tránh: Nguyên tc này có nghĩa là hoà đồng trên nguyên tc ngôn lun”; luôn dùng lời ái ngữ dễ mến, to nim tin yêu tht sự cho người nghe, kng nói lời lọc lừa mà lời nói thành tht; kng nói lời thêu dt mà nói lời ngay thẳng; kng nói lời hung ác mà nói lời từ ái; kng nói lời gây chia rvà hn thù mà nói lời mang ý nghĩa xây dựng và hoà gii;…; kng gây rạn nt, sứt mẻ mối thâm giao tình cm đối với nhng pháp lữ, đồng môn cả trước mt ln sau lưng,… để to thành tương thân, tương ái, tương kính và hoà hợp ln nhau, nht trí kng tranh lun; nguyên tc này được xem là bí quyết cho san lc, hnh phúc cho cá nhân và thịnh vượng cho tổ chc.
 

Thba, ý hoà đồng duyt: Nguyên tc này có nghĩa là hoà đồng trên nguyên tc ý chí. Và lại na, này Ananda, T-kheo an trú từ ý nghip đối với các vị đồng Phm hnh, chỗ đông người và chỗ vắng người. Khả nim pháp này tác thành khả ái, tác thành tôn kính, đưa đến đn tụ, kng tranh lun, hòa hợp, đồng nht(Thích Minh Châu dịch, 1992B, tr.77).

Thtư, lợi hoà đồng huân: Nguyên tc này có nghĩa là hoà đồng trên nguyên tc quyn lợi. Đối với vt cht thuộc tứ sự, tức vt thực, y áo, thuốc men, chỗ ngnghỉ nhn được đúng pháp, hợp pháp; các vt-khưu san sẻ đồng đu đến các vị đồng phm hnh để to nên đời sng tương ái, tương kính; và nht là xóa bỏ sbt bình đẳng về lợi dưỡng.

Thnăm, giới hòa đồng tu: Nguyên tc này có nghĩa là hoà đồng trên nguyên tc kỷ lut. Cng đồng đệ tử đức Pht giữ gìn giới lut kng để bị nhim ô, sứt mẻ đối với nhng người bạn đồng tu cả trước mt ln sau lưng, để to thành tương thân, tương ái, tương kính và hoà hợp ln nhau.

Thứ sáu, kiến hoà đồng gii: Nguyên tc này có nghĩa là hoà đồng trên nguyên tc nhn thc”; thành tựu mọi tri kiến, hợp nht mọi nhn thức trong cng đồng đệ tử đức Pht, kng nhng nâng đỡ nhau về đời sng vt cht mà còn giúp nhau trong cuộc sng tinh thn về tri thức, tri kiến và hiu biết.

Với sáu nguyên tắc chung sng hòa hợp trên, nguyên tc nào cũng giữ một vai trò quan trng nht định giúp cng đồng được an lc hnh phúc. Nhưng, theo Đức Pht kiến hoà đồng giilà nguyên tc giềng mối cho các nguyên tc còn li: “Này các T-kheo, có sáu pháp này cn phải ghi nhớ, to thành tương ái, to thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến kng tranh lun, hòa hợp, nht trí. Này các T-kheo, trong sáu pháp cn phải ghi nhớ này, có một pháp tối thượng, thâu nhiếp tt c, làm giềng mối cho tt c, chính là tri kiến này, thuộc vbc Tnh, có khnăng hướng thượng, khiến người thực hành chân chánh dit tn khổ đau. Này các T-kheo, ví như một căn nhà có mái nhọn như ngọn tháp, có một pháp tối thượng, thâu nhiếp tt c, làm giềng mối cho tt c, chính là mái nhọn. Cũng vy, này các T-kheo, trong sáu pháp cn phải ghi nhớ này, có một pháp tối thượng khiến người thực hành chân chánh dit tn khổ
 

đau(Thích Minh Châu dịch, 1992A, tr.705).

Nhìn chung, tinh thn Lục hoà là bí quyết của hành vi ứng x cao thượng của một cá nhân, là một nếp sng đp để xây dựng đời sng cng đồng. Sáu nguyên tc sng hoà hợp này được xem như là bản hiến pháp đu tiên trong Pht giáo, với tinh thn tha thun chung rt cởi mở, tự do và ý thc. Thiết nghĩ, nguyên lý sng này kng riêng gì nếp sng đo mà nó thích ứng trong mọi gia đình, học đường và bt cứ hot động tổ chức xã hội nào.

Nếu sáu nguyên tắc chung sng hòa hợp áp dụng trong đời sng gia đình thì gia đình y được m êm, hnh phúc; áp dụng trong đời sng tp th, tổ chức nào thì tp th, tổ chức y sẽ được lớn mnh, hưng vượng, đn kết; áp dụng cho mỗi quốc gia, thì quốc gia, dân tộc y sẽ được giàu mnh, văn minh, tiến b.
  1. GIÁ TRỊ CỦA TỨ DIỆU ĐẾ

Tứ diệu đế hay là bốn chân lý vĩ đại của Phật giáo chính là bản chất để hợp thành học thuyết nhân sinh cứu đời. Đó là kết quả suy ngẫm và trải nghiệm thông qua thực tiễn cuộc sống của chính Phật tổ và sự đúc rút những suy tư về cuộc sống chúng sinh được tổng kết lại. Có thể coi mỗi một chân lý (Đế) của Phật giáo là một chủ đề lớn để nhân loại suy nghĩ, trải nghiệm để đúc rút cho thức tiễn sôi động không chỉ hôm qua, ngày nay và cả mai sau. Dĩ nhiên, thành tựu mà Phật giáo đã và đang để lại cho nhân loại không chỉ là Tứ diệu đế mà cả ở nhiều lĩnh vực khác nữa liên quan đến nhiều lĩnh vực mà nhân loại đang hướng tới như vấn đề chiến tranh, hòa bình; môi sinh, môi trường, v.v… và cả những vấn đề to lớn hơn như bản thể luận triết học về nguồn gốc thế giới và các loài. Vấn đề nhận thức luận và cả vấn đề tư tưởng biện chứng về thế giới mà ngày nay soi chiếu vào nghiên cứu nguồn gốc thế giới, các nhà khoa học đã nhận thấy Phật giáo có nhiều tư tưởng rất gần với khoa học hiện đại, nhất là Vật lý học. Điều này đã được nhiều học giả nổi tiếng bàn luận đến (Nguyễn Tường Bách, 2011). Tác giả nổi tiếng của thuyết tương đi E.Eintein, sớm thừa nhận: “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu được với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo… Cây cầu Phật giáo đã kích thích con người khám phá những tiềm năng lớn
 

lao nằm sâu kín trong chính con người và trong môi trường sống xung quanh. Phật giáo vượt thời gian và mãi mãi có giá trị” (Trần Hồng Liên, 2010, tr. 82).

Đc bit nhng phương thức quan sát và tìm hiu thế giới đúng như nó có là nội dung chủ yếu của trường phái truyền thông hiện đại, truyền thông tỉnh thức, hầu như đã được Pht tổ thực thi từ rất lâu thời trước công nguyên. Ngày nay, nhìn thấy sự vật đúng như như thật và phản ánh sự kiện đúng như nó xảy ra là nguyên tắc cơ bản, gần như bất biến của truyền thông nhân bản hiện đại, truyền thông tỉnh thức. Xem lại lịch sử, có thể thấy phương pháp thấy sự việc đúng như thật (vipassana) đã được Đức Phật phát hiện từ hàng ngàn năm trước và sử dụng như phương pháp quan sát và tìm hiểu thế giới xung quanh. Điu này đã được nhiu học gitên tui thế giới phát hin và làm rõ hơn. Trong cuốn Báo chí trách nhiệm và đạo đức tin tức trong kỉ nguyên số - Một cách tiếp cận Phật giáo, các tác giả Shelton A. Gunaratne, Mark Pearson và Sugath Senarath coi lý thuyết báo chí tỉnh thức gắn liền với Tứ diệu đế trong Phật giáo. Hơn thế, các tác giả trên còn khẳng định: Báo chí tỉnh thức đòi hỏi nhà báo phải hiểu được lý do cho những khổ đau và hạn chế sử dụng nghề nghiệp của mình để gia tăng tham ái và chấp ngã. Và báo chí cần hướng tới mang lại hạnh phúc và hiểu biết chân thực cho mọi người. Mark Pearson, chuyên gia nghiên cứu về đạo đức truyền thông và truyền thông tỉnh thức, đề xut sử dụng Bát chính đo trong Pht giáo như khung quy chiếu đo đức cho o chí hin đi. Theo ông, nhà báo cần thực hành chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tấn, chính niệm, chính định trong hoạt động nghề nghiệp hàng ngày của mình. Không chỉ có tác dụng chỉ dẫn hành vi mọi người, các nguyên tắc đạo đức này còn có giá trị định hướng nghề nghiệp của nhà báo. Hơn thế, theo ông trong hoạt động tìm kiếm và phản ánh sự thật, nhà báo cần có chính kiến đúng đắn, hành vi cư xử đúng mực, tránh gây tổn hại đến người khác cả về vật chất và tinh thần. Nhà báo là người có thể tạo ra những ảnh hưởng sâu sắc đến những người liên quan bằng ngôn ngữ của mình, nên cần chú ý thực hành chính ngữ. Truyền thông tỉnh thức là truyền thông vì mục
 

đích tốt đẹp, biết nghĩa đến lợi ích của những người liên quan. Dù mục đích thông tin là chủ yếu, song nhà truyền thông cần đạt sự hài hòa giữa mục tiêu phản ánh và phục vụ lợi ích xã hội. Cách tiếp cận tỉnh thức không cho phép nhà truyền thông hy sinh mục tiêu lợi ích xã hội cho mục tiêu thông tin. Truyền thông tỉnh thức là cách tiếp cận mới nhưng không phải là chìa khóa vạn năng cho mọi vấn đề phức tạp của xã hội hiện nay nhưng ít ra nó cũng thắp lên hy vọng về một văn hóa truyền thông mới gắn liền với những giá trị đạo đức và minh triết căn bản nhất của con người. Trong bối cảnh tin tức giả, truyền thông giật gân, những phát ngôn gây bất hòa đã và đang sinh sôi trên môi trường truyền thông truyền thống và truyền thông xã hội, truyền thông tỉnh thức như là dòng nước mát lành làm giảm bớt căng thẳng và bức xúc trong xã hội (Vũ Thanh Vân, 2018). Một cách tiếp cận như vậy, dường như đã được Phật tổ tiên tri và thực hành từ hàng ngàn năm trước. Điều đó, một lần nữa cho thấy tầm nhìn xa và dự báo tương lai của Phật giáo và ý nghĩa lớn lao của đạo Phật. Phương Đông nói chung và Ấn Độ nói riêng đã để lại cho nhân loại nhiều tượng đài về đạo đức, Tứ diệu đế của Phật giáo lại xây dựng nên thứ tượng đài vĩ đại đi vào lòng người và có giá trị phổ quát không chỉ cho châu Á, châu Âu mà cả toàn nhân loại. Thực tiễn đã minh chứng, ngày nay Phật giáo được truyền bá rộng rãi đến nhiều nới trên thế giới, trong đó còn lan truyền đến cả các nước phương Tây, và cả nước Mỹ như là làn gió mới thổi vào xã hội thực dụng vật chất tưởng như đã lên ngôi và làm bá chủ xứ cờ hoa nơi đây. Thêm một lần nữa, điều đó chứng tỏ ý nghĩa đạo đức nhân sinh vì con người của Phật giáo mà cốt lõi nhất là Tứ diệu đế có sức lay động, lan tỏa sâu sắc như thế nào.

Tứ diệu đế với nhiều chân lý vĩ đại mà mỗi chân lý nêu phân tích mổ xẻ kĩ lưỡng srút ra nhiu điu bổ ích để n dy con người hướng tâm đến điu thin, làm vic thin vì lợi ích chung của cộng đồng, nhân loại. Tư tưởng về Ngũ giới có nhiu nội dung rt mới, góp phn gim bớt chiến tranh, giết chóc, bảo tồn các giống sinh vật trên thế giới, một sinh quyển hòa đồng tương tác qua lại với trí quyển của con người và chỉ con người với trí tuệ trong sáng biết điều chỉnh hành vi của mình hướng về điều
 

thiện là mục đích chung của cả nhân loại đã và đang hướng tới. Những điều không nên làm của Phật giáo góp phần hạn chế sự mâu thuẫn, thù hận và sự ham muốn thái quá của con người nhằm đích ngắm là cuộc sống hòa đồng, hòa bình cho tất cả. Và hơn hết, sự từ bỏ ngai vàng tương lai của Phật tổ, từ bỏ sung sướng riêng để tự rèn luyện gian khổ để tìm ra con đường diệt khổ cho chúng sinh là tấm gương chói sáng về việc giáo dục đạo đức cho toàn nhân loại. Một tấm gương sáng có giá trị hơn hàng triệu lời kêu gọi. Tấm gương sáng tỏ của Phật tổ đến cuộc đời trải nghiệm và học thuyết Tứ diệu đế của Người đã minh chứng sống động cho chân lý trên. Trước những biến động khôn lường của thế giới hiện nay, bạo động, chiến tranh, chết chóc, môi trường con người bị đe dọa, thiết tưởng việc nghiên cứu vấn đề này không những chỉ có ý nghĩa học thuật mà còn có gía trị thực tiễn sâu sắc, với mục đích giáo dục đạo đức hướng tới kêu gọi sự thức tỉnh trong mỗi con người trên thế giới nhằm hướng tới một xã hội yên bình, sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc, văn minh, ai cũng được học hành, đảm bảo tốt an sinh xã hội.





TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nguyn Tường ch, 2011. Lưới trời ai dt, Nhà xut bản Tr.

Bộ Giáo dục và đào to, 1999, Lịch sử triết học. Hà Ni: Nhà xut bản Giáo dục.

Thích Minh Châu (dịch) 1992A, Đại tạng kinh Vit Nam, Kinh Trung B, Tp I, Vin nghiên cứu Pht học Vit Nam n hành.

Thích Minh Châu (dịch). 1992B). Đại tạng kinh Vit Nam, Kinh Trung B, Tp III, Vin nghiên cứu Pht học Vit Nam n hành.

Thích Minh Châu (dịch). 2016A. Đại tạng kinh Vit Nam, Nam truyn - Kinh Tương Ưng B, Tp I, Nxb Tôn giáo.

Thích Minh Châu (dịch). 2016B. Đại tạng kinh Vit Nam, Nam truyn - Kinh Tương Ưng B, Tp II, Nxb Tôn giáo.

Trần Hng Liên. 2010. Tìm hiu chức năng xã hội của Pht giáo. Nhà xut bản Tng hợp TP HCMinh.

Nguyn Đăng Thc. 1991. Lịch sử triết học phương Đông, tp III, Nhà xut bản Tnh phố HCMinh.

Vũ Thanh Vân. 2018. Truyn thông tỉnh thức: Cách tiếp cn hin thực và nhân bản, trong H sơ Skin, Chuyên san của Tp chí Cng sn, 377, 25.6, tr. 23-24.

Nguyn Hữu Vui chủ biên, 1998. Lịch sử triết học. Hà Ni: Nhà xut bản Chính trị quốc gia.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây