37 GIÁO LÝ ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY ĐỐI VỚI GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TOÀN CẦU

Thứ tư - 08/05/2019 03:45
PGS.TS. Gunatilake Athukoralalage Somaratne
521






GIÁO LÝ ĐO ĐỨC PHT GIÁO NGUYÊN THY ĐỐI VỚI
GIÁO DỤC ĐO ĐỨC TOÀN CU


 
PGS.TS. Gunatilake Athukoralalage Somaratne (*)




 
  1. GIỚI THIỆU

Li dy ca Đức Pht qua nhng bản kinh Pali tho lun vtrách nhim đo đức ca mi cá nhân, kết quca ý chí hành động của nhân loi, kết qunlực ca nhân loi và skhởi đu trong vic tự chuyn hóa đo đức là ở ngay đây và bây giờ. Biu hin như mi người được tdo chọn lựa con đường mình đi, dù là theo con đường đđt được an bình và hnh phúc hay theo con đường ca sự xung đột và khđau. Nếu hchọn lựa đi theo con đường tích tr, chiếm hu và thu gom ca cải, điu đó đem ti hu quvi stranh chp, xung đột và chiến tranh ri kéo theo sau đó là nghèo đói và khđau. Tuy nhiên, nếu hchọn đi theo con đường ca sbthí, xbvà bao dung, điu đó sdn ti kết qubình yên, thịnh vượng và hnh phúc. Nếu chúng ta hi rằng vì sao mi quan hcó vnghịch lý giữa nhân và quả, câu trlời tht đơn gin: Đó là luật nhân quvn hành - nhng hành vi vi mong muốn qua tác ý, lời nói và hành động - nn tảng dựa trên shot động ca đồng duyên khởi. Khi tâm được gii png khi tham, sân và si, người đó tri nghim buông xả, bình an và hnh phúc. Nếu vi tâm tham muốn thì skhông bao gicm thy toi nguyn,



*. Boulder Colorado, USA.The Centre of Buddhist Studies, The University of Hong Kong Hong Kong, Người dịch: Mekhala Ven
 


thường thì tr nên ham muốn nhiun na, kết qutt yếu là kết thúc trong bt hnh. Tâm sân hn và tham muốn luôn như ngn lửa âm ỉ trong tâm. Trao tặng n quà, cu vt một cuộc đời, trao đi schân thành yêu thương và quan tâm ti người khác ssinh khởi hnh phúc; trm cp, sát sinh, tà dâm schẳng thcó được hnh phúc, bình an. Đthc shnh phúc, mi người cn phi tu dưỡng trnên tt thc s, cho bản thân mình và đem stt lành đến vi người khác. Làm sao đthành người tt thc stùy thuộc vào làm thế nào to ra nhng nhân lành hòa hợp vi nhng vic mình làm là nhân tnn tảng đem ti quca hành động tác ý (kamma-vāda).

Nhân tố quả của nhng hành động có tác ý là một trong ba nhân tcơ bản to thành giáo lý đo đức của Pht giáo nguyên thy. Hai nhân tcòn lại là nhân tố cn thiết để to nhng nhân lành (kiri- ya-vāda) và nhân tnăng lực thực hin nhng hành động đo đức tốt (viriya-vāda). Đức Pht biu lộ ba nhân tố đó trong bản kinh (AN I, tr.287) như sau: Giờ đây ta là A La Hán, Bậc Giác NgViên Mãn, ta chỉ dy (ba điu căn bản): gốc của hành (ý muốn), gốc của nhân (làm điu thin), gốc của năng lực (thực hin).” Ở đim này, Karunadasa (2013, tr.75) bình lun rằng: “Ba yếu tnày … tp trung vào ba giáo lý quan trng của Pht giáo chỉ dy vgiáo lý đo đức đời sng. Điu khiến họ chỉ ra là sự ủng hộ cuộc sng đo đức tích cực nếu tự nó là kng thích hợp. Đđy đủ ý nghĩa, sự ủng hộ cuộc sng đo đức tích cực phải được bổ sung thêm, đu tiên với sgiải thích dựa trên lý trí như tính hiu quả của nhng hành động đo đức, và điu th hai, chng minh v mục đích cn thiết và skhao khát qua vai trò nỗ lực của con người trong sự thực hành đời sng đo đức.” Nhân thành động tác ý cho thy rằng có mục đích vđo đức kéo theo nhng hành động thn trng chc chn đưa đến nhng kết qu. Nó đòi hỏi rằng có một sự tương quan giữa cái chúng ta làm (hành động) và cái chúng ta thu hoch (kết qu) và cái đó thuộc trách nhim vhành động của tự thân. Nhân tố của vic to nhng nhân lành cho thy vic cn làm nhng điu bổ ích đo đức và từ bỏ nhng điu kng đo đức(1). Khuyến khích tích cực hướng chúng ta tới một cuộc sng đức hnh, tiếp nhn nhng qui tc tiêu chun đo đức và kết quả của nhng hành động tác ý.
    1. Xem Kinh Pháp Cú kệ 183 (Norman 2004, tr.28): Tnh tt cả nhng điu xu; m tt cả nhng điu nh; luôn thanh tịnh tâm ý, đó là lời Pht dy.
 


Nhân tố của năng lực thực hin nhng nhân lành cho thy hiu qu, sự cn thiết và mong muốn qua vai trò nỗ lực của con người trong sự truy cu đời sng đức hnh. Bởi vy, kết cu vgiáo lý đo đức Pht giáo nguyên thủy có thể được xem như một hình tam giác, trong đó ba nhân tố căn bản được đề cp bên trên được kết nối với nhau giống như ba đường của hình tam giác cân. Nếu chúng ta nhn mnh một phn này hơn hai phn còn li, thì điu đó giống như chúng ta đã hiu sai và giải thích sai kết cu của giáo lý đo đức, và đi ngược lại với chính giáo lý đo đức. Để hiu tng thể vn đ, yêu cu chúng ta nêu rõ giải thích về cả ba nhân t.

Trong nhng quốc gia theo truyn thống Pht giáo, tuy nhiên, giáo lý đo đức Pht giáo được định nghĩa một kiu, đó là, chỉ có nghĩa nhân quả của nhng hành động tác ý hay lời chỉ dy vng- hiệp kamma. Kết quả là đo Pht tại nhng đt nước này chỉ hiu rằng giáo lý đo đức của Đức Pht chỉ là nghi lễ và công cụ khôn khéo để to công đức và bin hộ cho nhng lch lc xã hội ở hin tại trong cng đồng của họ(2). Bởi vy, nhng truyn thống Pht giáo này hướng tới vic hot động thin hnh theo nhóm như cúng dường vt thực tới nhng hình tượng của Đức Pht và nhng thành viên tu vin theo nghi thức, với mục đích đt được của cải vt cht, tái sinh làm người hay sinh lên nhng cõi trời trong đời sau. Vic làm cgắng với sự hiu lm như vy chính là nguyên nhân khiến các Pht tử xao lãng sự thực hành phm hnh theo như giáo lý đo đức của Pht giáo nguyên thy. Đtài này, do đó, với mục đích chỉ ra rằng nếu giáo lý đo đức được hiu như trong Đạo Pht nguyên thủy được áp dụng trong giáo dục tn cu vđo đức, nó cn phải được đề cp một cách tn din, cn phải giải thích cả ba nhân tố: nhân tvề nhng hành động tác ý, nhân tvvic to nhng thin hnh, và nhân tvnăng lực thực hin. Để thực hin được mục đích

 
    1. Xem Vua 2005, tr. 22 & tr. 84. Truyn thống Pht giáo tại Thái Lan, Sri Lanka, và Miến Đin hướng tới khuyến khích tính thụ động với sự quan tâm hình tượng. Như Sulak nói rằng (tr. 22): Sự thiết lập Pht giáo lý giải sáp bức như là svận nh của nghip, nói như thế thì cả hai nông dân và đa chđang gặt nhng quả từ nh vi của họ trong nhng đời trước; người nông dân có nhng nn xu và đa chủ thu hoch công đức qua xây dựng nhng ngôi chùa và to lập nhng hình tượng về Đức Pht.Suu Kyi phát biu (tr. 84): “Một sngười nghĩ nghip như là sphận hay định mnh và họ kng thể m điu gì khác. Đơn giản là điu đang xy ra bởi vì nhng nn xu mà họ đã to. Đây là cách mà nghip thường được din giải Miến Điện.
 


này, đề tài tho lun vtt cả ba yếu tố theo từng phn một. Với mục đích đi tới kết lun rằng tt cả ba nhân tố cn có kng chỉ định ng- hĩa giáo lý đo đức Pht giáo nguyên thủy mà còn đưa ra bức tranh đúng đn về lut đo lý trong trong đời sng và hành động thực sự cn thiết của thế giới là như thế nào. Quả tht vic đm đương gánh vác công vic này chc chn sẽ buộc chúng ta tìm hiu sự tương xng của giáo lý đo đức của Đạo Pht nguyên thy, ly đó làm truyn thống cho sgiáo dục đo đức tn cu.
  1. NGHIỆP / KAMMA-VĀDA

Nhân thành động chủ ý là một trong ba nhân tố của giáo lý đo đức Pht giáo nguyên thy. Điu này nhn mnh rằng kng hướng về nhng hành động trong quá kh mà là nhng hành động trong hin ti. Vic thực hin sự thay đổi đời sng con người hay trình độ dù là nhng mục đích thế gian hay tm cao tâm linh thì điu mà họ làm ngay trong hin tại ý nghĩa hơn là đã làm ở quá khhay slàm trong tương lai. Vì quá khứ thì đã qua, kng ai có thể thay đổi. Có nghĩa rằng nhng hành vi bây giờ là tâm đim của cuộc sng hin ti. Điu phân bit nhân loại ở mức thp hay cao chính là ở nhng hành vi của họ trong hin ti. Nhng hành vi này định rõ chúng ta là ai và chúng ta sẽ trở nên ra sao (DN III, tr.203): “Làm chủ nhng hành vi của chính mình, thừa hưởng nhng hành vi; họ to thành từ nhng hành nghip của mình, tiết chế nhng hành vi của mình, hành động của họ là nơi họ nương náu. Hành vi đó phân định khạ lit hay người cao c.” Thậm chí nhng hành nghip quá khđã góp phn vào nhng cách hình thành sự sinh ra hin tại của chúng ta, như bản văn chỉ ra (Sn, v. 650), kng bởi vì dòng dõi sinh ra người đó trở thành phm thiên (tu sĩ, người tầng lớp cao); kng bởi vì dòng dõi sinh ra người đó kng trở thành phm thiên.Nếu như vy, thì làm cách nào? Đó là qua hành vi người đó trở thành phm thiên; qua hành vi người đó kng phải là phm thiên.Đây cũng là trường hợp đưa tới vic phân loại nhng kiu người theo nghề nghip theo li cổ truyn. Như cùng một bản văn chỉ ra (Sn,
vv. 651-652): Đó là qua hành vi một người trở thành nông dân; qua hành vi một người trở thành thợ thcông; qua hành vi một người trở thành thương nhân, qua hành vi một người trở thành nô l. Qua hành vi một người trở thành kẻ trm; qua hành vi một người trở thành kẻ ưa đánh nhau; qua hành vi một người trở thành
 


người dâng hiến hy sinh; qua hành vi một người trở thành vvua.Do đó, điu cn thiết là chúng ta hiu hành vi và nhng kết quả của nó như chúng thực slà, là tùy duyên. “Như thế, người khôn ngoan, xem xét điu kin căn nguyên, hiu biết quả của hành vi qua hành vi thế giới vn hành, qua hành vi con người phát trin. To ra hành vi như buộc mối dây, giống như trục xe là mối buộc của một xe ngựa đi theo suốt kng dời.(Sn, vv. 653-654; Norman 2004). Năng lực của nhng hành vi trong hin tại biến chuyn rõ rt trạng thái trong hin tại của chúng ta. Nhng hành vi mà mọi người làm hin giờ kng chỉ có stác động trên kinh nghim hin tại của bản thân họ mà còn góp phn hình thành nhng kinh nghim mà họ chưa có.

Nhng vic làm của nhân ttác ý kng khác với nhng vic làm theo lut duyên khởi. Trước tiên là về chức năng của lut đo lý và sau đó là về chức năng của lut nhân quả chung, áp dụng chung cùng cho tt cả mọi lĩnh vực của đời sng và thế giới. Cách ngôn qun chúng về lut này là (SN I, p. 227): Gieo gì, thì gặt ny(3). Trong giáo lý đo đức này, nhng hiu ứng của nhng hành vi quá khlà kng phủ nhn nhưng chúng ta có nói rằng chúng kng ở yên đó và điu đó kng tác động một cách tt định. Đức Pht chỉ ra cho chúng ta thy sự liên hệ tới nhng hành vi quá khứ trong phn tiếp theo (MN I, tr. 390): “Dòng dõi của một người sẽ trở thành là từ người đó đã to thành, bt cứ điu gì người đó làm, qua đó phát sinh. Khi duyên xut hin, nhân theo đó tụ hội. Như thế ta nói, họ là người nhn nhng hành động của chính h.(4)

Với mỗi hành động đo đức đã làm, người thực hin đã gieo. Điu này din ra như thế nào? Một hành vi tốt được làm khiến tâm thức thanh tịnh; một hành vi xu được làm khiến tâm thức ô uế. Mt khác, thanh tịnh và kng thanh tịnh của tâm thức cũng quyết định nhng hành vi và ứng xsau đó. Sự củng cố qua lại này kết hợp giữa hành vi và trạng thái của tâm thức ln lượt hình thành thái độ và tính cách của một người. Như đo đức trong giáo lý Pht giáo cho chúng ta biết, ý định là động cơ thúc đy phía sau một hành

 
  1. “Đã gieo giống nào, sẽ gặt quả nấy. Hành thiện sẽ thâu gặt quả lành. Hành ác sẽ thâu gặt quả dữ. Hãy gieo giống tốt, Ta sẽ hưởng quả lành.”
  2. ........iti kho puṇṇa bhūtā bhūtassa upapatti hoti; yaṃ karoti tena upapajjati, upapannam enaṃ phassā phusanti. evam pāhaṃ puṇṇa kammadāyādā sattā ti vadāmi (Kukkuravatika-sutta).
 


vi và nó định rõ phm cht đo đức của hành vi đó. Tt cả tư cách đo đức hay kng đo đức xut hin từ hành động ác ý. Chỉ nhng hành động tác ý hợp với luân thường đo lý là có ý nghĩa. Vì lý do này, Đức Pht nhn dạng hành vi thực cht thuộc tinh thn (AN III, tr. 415): Tác ý (cetanā) ta gọi là nghiệp (nhng hành động ny sinh từ đo lý); có chý, người đó thực hin qua thân, khu, hay ý.Sức mnh của hành động phụ thuộc vào phm vi thực hin được cân nhc thn trng (sañcicca). Như vy, tư cách đo đức của một hành động nm trong stác ý bên trong. Tác ý tốt thì động cơ bên trong tốt dn đến hành vi và biu thị hành vi tt, tác ý xu thì ngược lại biu thị hành vi xu. Người đó thực hin nhng hành vi hoc với động cơ tốt hoc với động cơ xu. Tham, sân và si bị xem là nhng động cơ xu và chúng luôn góp phn gây ra nhng hành vi xu. Đối lp với tham, sân, si là kng tham, kng sân và kng si, và nhng điu đó được xem là nhng động cơ tốt đem lại hành vi đo đức tốt. Một người từ bỏ tham, sân, si, trạng thái tự nhiên của tâm thức đt được gọi là trạng thái kng tham, kng sân, kng si và họ hướng về nhng phm tính tích cực vốn có trong tâm tự nhiên. Nhiu dạng hành vi của thân, khu và ý là nhng sự biu hin tự nhiên của nhng động cơ tốt và xu (MN I, tr. 489): “Này Vaccha, tham là bt thin, kng tham là thin, sân là bt thin, kng sân là thin, si là bt thin, kng si là thin. Theo như vy ba điu là bt thin và ba điu kia là thin.

Như lut duyên khởi dy rằng, nhng hành xử của con người bị điu kin bởi nguyên nhân, và hành xử được sinh ra bởi nhng hu quả tương quan. Suy xét nhng vic làm liên kết giữa hành động và kết qu, một bản kinh phân loại nhng hành động thành bốn phn (MN I, tr. 389-391: hành vi đen tối đi cùng kết quả đen ti, hành vi trong sáng đi cùng kết quả trong sáng, hành vi đen tối vàtrong sáng đi cùng kết quả đen tối và trong sáng, và hành vi kng đen tối cũng chẳng trong sáng đi cùng kết quả kng đen tối cũng kng trong sáng.Dòng đu tiên, hành vi đen tối đi cùng kết quả đen ti, có thể được quan sát từ trường hợp của một người đàn ông gieo đau khổ cho người khác và như kết quả biu hin trong một thế giới đau khổ nơi anh ta gp gỡ tiếp xúc đau khổ và nhn lại kinh nghim nhng cm giác phát sinh đau kh, chỉ tn đau buồn. Dòng thhai, hành vi trong sáng đi cùng kết quả trong sáng, thy từ trường hợp một
 


người đàn ông kng gieo đau khổ cho người khác và cùng với kết quả biu hin trong một thế giới kng khổ đau nơi đó anh ta gp gỡ tiếp xúc và nhn lại kinh nghim nhng cm giác kng đau kh, chỉ có hnh phúc. Dòng thba, hành động đen ti-trong sáng với kết quả đen ti-trong sáng, thy từ trường hợp của một người đàn ông người đã gieo đau khổ và cũng gieo hnh phúc cho người khác và như kết quả biu hin trong một thế giới ln cả khổ đau và hnh phúc ở đó anh ta gp gỡ tiếp xúc cả hai cm giác đau khổ và hnh phúc, trộn ln vui sướng và đau kh. Dòng thứ tư, hành vi kng đen tối cũng kng trong sáng đi cùng kết quả kng đen tối cũng kng trong sáng, xét theo nguyên nhân suy vi của hành động, nó là, tác ý từ sự buông thả ở cả ba loại hành động có vế tiêu cực đã đề cp phía trên. Nhng hành động của con người là hàng lot sln lộn, và như vy chúng ta cũng được quyn kinh nghim nhng cm giác vui sướng cũng như nhng cm giác đau kh.

Để nhng kết quả của nhng hành động được cm nhn và trổ thành qu, cn có thời gian. Điu này căn cứ ở cả hai hành vi tốt và xu. Bởi thế, chúng ta kng nên vội vàng phủ nhn căn nguyên của hành vi tác ý, như nhng người theo thuyết hư vô. Điu đó được nói rõ trong một bản văn mô phm (Dhp, vv. 121-122): Chớ khinh điu ác nhỏ nhoi. Cho rằng: Quả báo thời mình chịu đâu!Nhớ rằng giọt nước nhỏ lâu. Mỗi ngày một chút cũng mau đy bình. Người ngu gom góp vào mình, Bao điu ác nhỏ dn thành ha to. Chớ khinh điu thin nhỏ nhoi. Cho rằng: Quả báo thời mình hưởng đâu!’ Nhớ rằng giọt nước nhỏ lâu, Mỗi ngày một chút cũng mau đy bình, Người hin trí chứa tâm mình,bao điu thin nhỏ dn thành phước to.Căn nguyên, khi nhng hành động chín muồi, người đó nhn nhng quả báo của mình. Điu này được nhn mnh về nhng hu quả của nhng hành vi tội li (Dhp, k. 127): “Dù bay lên tn kng trung, hay là ln xuống tn cùng bin ki, chui vào hang thm núi đồi, khp trên trần thế chẳng nơi an tn, thoát tay nghip ác chót mang.” Điu này ngụ ý rằng người đó có trách nhim đối với nhng hành vi của chính mình và đó là quả của hành vi được kinh nghim bởi chính bản thân người làm điu đó. Điu này được din đt rõ ràng trong một đoạn chuyn kể trong một bản kinh (MN III, tr. 179-180): “Mà hành vi tội li của ngươi kng được làm bởi mẹ ngươi hay cha ngươi, hay anh em trai hay chị em gái và bạn hữu của
 


ngươi, hay bởi người bà con hay họ hàng của ngươi, hay bởi nhng n sĩ hay nhng vbà la môn, hay bởi nhng vị tri. Hành vi tội li này ngươi đã tự mình làm, và tự ngươi skinh nghim quả của nó.

Bn kinh vnghiệp chỉ ra rng có một sự tương quan giữa nn (kamma) và quả (phala/vika). Mc dù vy, có thể cho thy rng, khi svic xy ra trùng hợp với sự liên hệ này, thì được hiu rng mối liên hệ này hot động phù hợp với lut duyên khởi (paicca-samup- pāda). Do đó, giáo lý đo đức Pht giáo nguyên thủy chỉ rõ mối liên hệ giữa nn và quả là kng xác định. Mối quan hệ giữa nn và quả có thể được tóm tt như sau: “Dựa vào bn cht của nh động và trường hợp mà nó liên quan, có nhng kết quả riêng.” Điu này có ý muốn nói rõ là giáo lý đo đức Pht giáo nguyên thủy phủ nhận kng chỉ kng khoan nhượng với thuyết quyết định (niyati-vā- da) mà còn kng khoan nhượng với thuyết vô định (ahetu-appac- caya-vāda/ adhicca-samuppanna-vāda). Vsau hai quan đim bị coi là phi Pht giáo này bị xem là lý thuyết mang tính cht suy đoán vay mượn, bị xem như là vô nghĩa khi áp dụng vào đời sng đo đức của cá nn và xã hội. Thuyết quyết định về mối liên hệ nn và quả nói rõ một người kinh nghim quả của một nh động chính xác theo cách mà người đó đã to ra nó. Một bn kinh đưa ra (AN I, tr.249) quan đim này như sau: “Như một người đàn ông to một nn rồi chính anh ta kinh nghim quả của nó.” Như một sn tnh vic hoàn trả thuyết quyết định hoàn tt giữa nn và quả. Nếu là trường hợp này, như Đức Pht chỉ ra, đời sng tôn giáo là vô nghĩa bởi vì kng có cơ hội để tiêu trừ hoàn toàn đau kh. Sự tương quan giữa nn và quả mà Đức Pht chỉ ra, tuy thế, để nói vvic chc chắn phải hoàn trlà ý nghĩa mà Pht giáo đề cp. Điu này được nói rõ trong bn kinh (AN I, tr.149) như sau: “Đúng như người đã gieo nn và nhng kết quả sẽ được kinh nghim một cách chc chắn (yathāvedaniyam), như thế người đó kinh nghim chính nhng kết quả (assa vipākam).Nếu trong trường hợp này, đời sng tôn giáo là có ý nghĩa, và ở đó scó cơ hội để hoàn tt sự tiêu trđau kh.

Hơn na, theo giáo lý đo đức Pht giáo này, mọi hành động ssn sinh nhng kết qu, nhưng tt cả nhng kết quả này skng giống nhau. Có rt nhiu điu kin khác có thể can thip vào sự quyết định mối quan hệ giữa nhân và qu. Điu kin này của quả được Đức Pht minh ha qua sso sánh sau đây (AN I, tr. 250):
 


Nếu một người cho một cục muối vào một chiếc ly nhỏ đy nước, nước ở trong ly nước đó slp tức trở nên mn và kng thể uống được. Mặc dù thế, nếu người đó bỏ cục muối tượng tự xuống dòng sông Hằng, bởi vì sông Hằng rng lớn, nước nhiu, chỉ by nhiêu muối skng bị mn và có thể uống được.Tương tự, Đức Pht nói rằng (AN I, tr. 250): “Một người vì phm một li nhỏ nht có thể dn người đó xuống đa ngc. Nhưng nhân li nhỏ tương tự người khác phm phải có thể trả quả ngay trong chính đời này, có thể nhẹ hơn hoc kng trsanh na.Vì sao có skhác bit này? Đức Pht giải thích rằng: người kia đã kng tu dưỡng đúng đn về thân, khu và ý; người đó hạ lit, đáng khinh, cuộc đời người đó ngn ngủi và khổ sở; vì người đó thm chí đã gây chỉ phm li nhỏ cũng dn hn xuống đa ngc. Mặc dù vy, một người mà đã tu dưỡng đúng với thân, khu và ý, người đó cao thượng và đáng trng, người đó được phú cho cuộc sng th, nhng quả của li đã phm được kinh nghim ngay trong chính đời này, và đôi lúc có thể kng xut hin chút nào.Sgiải thích nguyên văn có ý truyn tải là điu đó phụ thuộc vào hn cnh trong hin tại của người phm lỗi, quả của nhng hành động nào đó đôi khi có thể kng trở nên trầm trng thm chí kng thy trổ qu. Theo như giáo lý đo đức Pht giáo, đôi khi nhng quả của một hành vi có thể được kinh nghim ngay trong đời này, và đôi khi trong đời tương lai.
  1. QUẢ / KIRIYA-VĀDA

Nn tố thhai của giáo lý đo đức Pht giáo nguyên thủy là qu(kiriya-vāda), điu đó khuyến khích mọi người to ra nhng nh vi đo đức tốt. Đức Pht nói rng giáo lý đo đức của ngài thúc giục mọi người hướng tới nh động đo đức trong khi nhng người khác thiếu nh động đo đức và kng m (akiriya) nh động đo đức. Ví dụ, theo thuyết quyết định được n tnh vào thời Đức Pht tuyên bố rng (AN I, p. 173): “Bất cứ điu gì người này kinh nghim - dù vui sướng, đau khổ hay kng-kh-kng- vui tt cả điu đó từ nguyên nn vì đã từng gây ra trong quá khứ” (pubbekata-hetu-vāda). Đức Pht đã hỏi vphạm vi của quan đim này bt đu rng học thuyết đo đức như thế hướng mọi người tới vic kng nh động vì đo đức. Ngài cũng ppn quan đim thần học vnguyên nn của đo đức đã tuyên bố rng (AN I, p. 173): “Bất cứ điu gì mà người này kinh nghim, tt cả đu là do
 


hành động sáng to của Chúa tri.(issara-nimmāṇa-vāda). Đối với Đức Pht, quan đim này là nguyên nhân dn mọi người tới đời sng thiếu hot động đo đức. Cũng thế, ngài bác bỏ thuyết vô định tuyên bố rằng (AN I, p. 173): “Bt cứ điu gì người này kinh nghim, tt cả điu đó xy mà kng đến tnguyên nn hay điu kin(ahetu-appaccaya-vāda). Đi vi Đức Pht, nm gihọc thuyết này ng là nguyên nn dn ti kết quthiếu nh động đo đức.

Giáo lý đo đức ca Đức Pht nhắm ti vic khuyến khích mi người không chchấp nhận quca nh động mà còn chọn lọc những nh vi tốt. Châm ngôn ca ngài là một người có thtrnên vĩ đại qua vic m những điu vĩ đại. Li dn trong bn kinh, đọc là (SN II, p. 29): Mt người đt ti scao thượng qua vic m những điu cao thượng, không m những điu hlit.Những nh động cao thượng đồng nghĩa vi nhng nh động thin nh đo đức (kusala-kamma); vì thế skhuyến khích ở đây là m những nh vi thin nh. Bn kinh chrõ nhiu cách thức ca những nh động thin nh mà chúng ta có thm. Trong sđó, một danh sách vi mười thin hạnh phbiến thường được nêu và tho lun trong những bn kinh. Những điu đó được nói rõ như stiết chế tbnhững nh vi bt thin ca tn, khu và ý. Stiết chế những nh vi bt thin tnó to cơ hi đthực hin những nh vi thin nh. Do vy, có ba thin nghip qua nh động ca tn, bốn thin nghip qua nh động ca khu và ba thin nghip nh động ca ý.

Ba thin nghip qua nh động ca tn được nêu như sau (AN V, tr.266-268):

Có người tb, đon tn vic giết hi những sinh linh; tbgy và vũ khí; biết tàm quý, có ng từ, sng thương t đến hạnh phúc đi với tt cchúng sanh và loài hữu tình.

Có người tb, đon tn vic ly ca không cho; không ly trộm ca cải và i sản ca người khác trong ng và trong rng.

Có người tb, đon tn tà hạnh trong các dục, không tà hạnh với những người nđược che chbởi cha m, có anh chem ruột hay họ ng che chở; đã kết hôn, đính n hoc được pp lut bo v.
Bốn thin nghip qua nh động ca khu là:
Có người tb, đon tn lời nói di; không nói di khi được hi
 


như người làm chng; không thy lin nói di là thy nguyên nhân là vì mình, hoặc nguyên nhân là vì người; hoặc nguyên nhân là vì một vài quyn lợi gì.

Mt người tb, đon tn nói lời hai lưỡi; nghe điu gì ở chnày, không đi đến chkia nói, đsinh chia rẽ ở những người này; ng không nghe điu gì ở chkia, đi đến nói vi những người này, đsinh chia rẽ ở những người kia. Như vy người y sng hòa hợp vi những kly gn, tăng trưởng những khòa hip, thích thú hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp.

Có người tb, đon tn nói lời độc ác; nói những lời nhu hòa, êm tai, dthương, thông cm đến tâm mi người, đp ng nhiu người và vui ý nhiu người.

Có người tb, đon tn nói lời phù phiếm; nói đúng thời, nói cn tht, nói điu ý nghĩa, nói vPháp, nói vLut, nói những lời đáng được gigìn, đúng thời, thun lý, mch lc, lợi ích.
Có ba thin nghip qua nh động ca hạnh là:

Có người không tham ái, không tham lam i vt ca kkhác và không nghĩ rằng: Ôi! Mong rằng mi i vt ca người khác trtnh ca mình.Có người có tâm tt, có người không khởi lên hi ý, hại nim mà nghĩ rằng: Mong rằng những loài hữu tình này sng không oán thù, không n hận và nhim lon,mong rằng tt cđược an lc!”

Người có cnh kiến, không có tư tưởng điên đo và tin vào ng- hip quca nh động, có nh vi thin và ác; các bc đo hạnh những người đã cn cnh tnh tựu qua tri kiến và truyên bcho đời này và cho đời sau.

Mt người có thchđộng to những nh vi đức hạnh cho mình không? Khi vấn đnày được hi, Đức Pht đã trả lời rõ ràng: Có, có th.” Nhiu bản kinh trình bày rằng mọi người nói chung, có tự do trong suy nghĩ và hành động với nhng giới hn tự đt bản thân vào khuôn khổ trong nhng giai đoạn đu của sự thực hành. Mặc dù vy, khi nhng đệ tử dn tiến bộ qua sự hiu biết lời dy của Đức Pht, nhng giới hn áp đt này bt đu tự tan rã. Qua hiu và thực hành, người đó tự nâng dn khnăng chiêm nghim và hành động tự ti. Ví dụ, mục đích chính của Đạo Pht và thực hành là để đt được kh năng kim soát tâm (AN IV, p. 34): “Một nhà sư hướng
 


tâm tới chí nguyn mà kng hướng tâm tới điu mình muốn.Vào cuối ngày, hành giả nên phải tự soi xét bản thân mình. (SN I, p. 132): Tôi chính là bc đo sư của mình.Bằng cách này, giáo lý đo đức Pht giáo nguyên thủy tán thành nguyên nhân của vic đang thực hin cao thượng hay hạ lit tùy thuộc vào cá nhân đó. Đem điu đó vào thực hành, người đó chính là vị thy của mình (Dhp, v. 165): Làm điều ác ng bởi ta; Nhiễm ô ng vậy, tạo ra bởi mình; Và khi m nhng điều lành, Hoc là thanh tịnh do mình tạo ra; Chính ta tự tạo, ai mà khác đâu!”

Yếu tố chính trong giáo dục học của giáo lý đo đức Pht giáo nguyên thủy là nhân tố động cơ thúc đy. Điu đó hiu rằng động cơ của con người là điu cn thiết. Khi có động cơ, họ nhanh nhy hơn và tp trung. Ví dụ, nhng bản kinh nguyên thủy dn nhiu ví dụ khi Đức Pht thúc đy nhng đệ tử của ngài tăng trưởng nhng thái độ tích cực (SN V, tr. 417-418): “Đừng dễ dãi với nhng tâm nim bt thin tiêu cực; đừng để cho tâm bt thin tiêu cực dn dt cuộc đời ông.Chúng ta thy rt nhiu bản kinh trong đó lời nói thúc giục này của Đức Pht đã được báo trước. Ví dụ, Đức Pht đưa lời khuyên cho nhng đệ tử vvic từ bỏ tội li với câu nói (AN I, tr. 59): “y từ bỏ tội lỗi, này các đệ tử! Người đó có thể đoạn tn tội lỗi, hỡi các đệ tử. Nếu kng thể từ bỏ tội lỗi, ta skng nói các ông hãy làm như vy. Nhưng có thể làm được, bởi vy, ta nói, “y đoạn trtội li!” Nếu sự từ bỏ tội li này gây hại và khổ đau, ta đã kng nói các ông hãy đoạn trừ nó. Nhưng nếu đoạn trstội li mang lại bình an và hnh phúc, bởi vy, ta nói: “y đoạn trtội li!” Tương tự ngài khuyên các đệ tử hãy tu dưỡng điu tốt lành (Ibid. tr.59): Tu dưỡng điu tt, này các đệ tử! Người đó có thể tu dưỡng điu lành, hỡi các đệ tử. Nếu kng thể tu dưỡng điu lành, ta skng nói các ông hãy làm như vy. Nhưng có thể làm được, bởi vy, ta nói, “y tu dưỡng điu lành!” Nếu sự tu dưỡng này gây hại và khổ đau, ta đã kng nói các ông hãy tu dưỡng nó. Nhưng nếu đoạn trstội li mang lại bình an và hnh phúc, bởi vy, ta nói, ‘y tu dưỡng điu lành!”

Giáo lý đo đức của Đức Pht cũngn tho tiêu chun để chỉ rõ nhng hành vi đo đức và kng đo đức, hành động nào được phép làm và hành động nào kng được phép làm. Làm sao chúng ta biết hành động nào là tốt và hành động nào là xu? Có một s
 


tiêu chun suy xét để quyết định phm cht đo đức của một hành động. Ví dụ, một bản kinh đưa ra ba tiêu chun (AN I, tr.147): “Người đó cn suy phải nghĩ liu có sự tự cân nhc khi thực hin hành động đó (attādhipateyya); liu người trí có phn đối điu đó (lokādhipateyya); hay liu hành động đó có vi phm lut pháp của cng đồng (dhammānupateyya). Mặc dù vy, trong rt nhiu bản kinh chúng ta thy Đức Pht ly nhng hu quả để tiếp cn đời sng đo đức (SN I, tr.57): “Người đó nên gieo nhân thích hợp khi người đó biết rằng nó hướng tới hnh phúc của chính bản thân.Hu hết đưa ra nhng suy nghĩ về nhng kết quả ngay tức khc cũng như kết quả vsau. Quy tc vàng của Đức Pht trong vic đưa ra quyết định đo đức được chỉ rõ như sau: Tôi kng muốn X xy ra cho mình. Người khác cũng vy họ kng muốn X xy ra cho h. Tôi kng làm cho người khác cái tôi kng thích làm cho bản thân mình. Bởi thế, tôi kng làm X).” Qui tc vàng này phn ánh trong nhng chỉ dy đo đức của ngài dành cho các đệ tử. Ví dụ chúng ta đọc trong một câu k(DMP, k. 129-130): “Sợ thay gy gc, gươm đao; Sợ thay thn chết hi bao cuôc đời; Suy lòng mình ra lòng người; Chnên giết hi hoc xui giết người.” Sợ thay gậy gc, gươm đao; Yêu thương mm sng, khát khao cuc đời; Suy lòng mình ra lòng người; Chnên giết hi hoc xui giết người.Lp lun nguyên do đo đức này được nêu chi tiết hơn trong bản kinh như sau (SN V, tr. 353-354): “Điu mà, chủ nhà, tự Pháp có mô tả thích hợp cho điu đó kng? Ở đây, chủ nhà, một đệ tử ưu tú phn ánh như sau: Tôi thích được sng, tôi kng thích bị chết. Tôi khao khát hnh phúc và kng muốn điu bt hnh. Giscó người muốn giết tôi, dù tôi muốn được sng và kng muốn bị chết, điu đó skng làm tôi vui mng và hnh phúc. Gistôi cũng phải giết người khác mà người đó muốn được sng và kng muốn bị chết, người đó khao khát được hnh phúc và kng muốn điu bt hnh, điu đó cũng slàm người đó kng vui mng và hnh phúc. Điu đó kng làm tôi vui và hnh phúc hay người khác vui và hnh phúc. Làm sao tôi có thế bt người khác phải chịu điu làm tôi kng vui và kng hnh phúc? Qua phn ánh theo cách này, người đó từ bỏ vic sát sinh; động viên người khác cũng kng sát sinh; nói vsự từ bỏ vic sát sinh. Như thế, hết thy đo đức của người đó trở nên thanh tịnh theo ba cách.
 
 
  1. TINH TN / VIRIYA-VĀDA

Toàn bộ con đường thực nh Pht giáo tùy thuộc vào sự thệ nguyn của chúng ta trong thực nh. Như một bn kinh có nói (KPC, k. 276): “c ngươi phi tự gng công; Chư Pht chlà thy dy mà thôi. Con đường giác ngộ tuyệt vời, Tngươi thiền đnh theo nơi đng đường, Thoát ra khi lưới Ma Vương.Hơn na, trong một bn kinh khác, Đức Pht chỉ rõ (SN II, tr.29): “Kng bởi điu gì m cho ta hạ lit, hay trở nên cao thượng; mà bởi cao thượng có thể đt được cao thượng. Xng đáng được ca tụng là cuộc đời tnh thin này. Vị thy đã tới trước mt con đây. Vì để khuy động ng lực để con có thể chiến thắng cái chưa từng chiến thắng, để con có thể đt được điu chưa từng đt được, để con có thể ngộ nhập điu chưa từng chng ng.” Nn tố thba trong giáo lý đo đức Pht giáo là tinh tấn (viriya-vāda), nn tng lực rèn luyn, là sự cam kết và chuyên cn của người đó. Điu đó cho thy sphát sinh ng lực cgng của ba nn tố để đt được kết quả cuối cùng. Trong nỗ lực ban đu, được yêu cu là ta áp dụng ng lực khởi đu(ārambha). Khởi đu của một nh động đem lại cho chúng ta sự tha thích (assāda). Đây cũng là lý do mà chúng ta thích mo him trong nhng svic mới. Mc dù vy, trong suốt scgng lúc ban đu, như hoàn cnh thường thy, chúng ta đối mt với rt nhiu kkn và chướng ngại (ānava). Bởi vy, trong giai đon này, yêu cu là chúng ta áp dụng ng lực vượt qua” (nikkama). Cuối cùng, để được kết quả tnh công (nissarana) từ lúc khởi đu, yêu cu chúng ta tự chng lực tiến xa hơn” (parakkama) vì kng dựa trên nguyên lý áp dụng dng ng lực này chúng ta thy mọi người thường từ bỏ giữa chng khi gn tới lúc gt quả. Như Đức Pht chỉ ra, nn loại tự chủ cả ba loại ng lực thúc đy này và còn nhiu hơn thế. Ví dụ, một bn kinh nhận din sáu dng ng lực (AN III, tr. 337-338): yếu tban đu, yếu tố bn b, yếu tcgng, yếu tsức mạnh, yếu tố tiếp tục và yếu tố thúc đy. Dựa vào sự hin din của nhng ng lực này, chúng ta có thể quan sát nhng nh động ban đu của mọi người, bn bỉ trong nh động, tự cgng trong nh động, nh động mạnh m, tiếp tục nh động, và thúc đy nh động. Bn kinh này ghi lại một cuộc đối thoại thú vgiữa Đức Pht và một vbà la môn. Người đó đi tới gp Đức Pht và nói rng: “Đo sư CĐàm, tôi có một đề tài và thy thế này: ‘Kng có tự-bt
 


đu (natthi attakāro); kng có khởi đu được đem tới bởi người khác (natthi parakāro).’” Câu trả lời của Đức Pht đáp là: “Này Bà la môn, ta chưa từng nhìn hay nghe thy bt cứ ai nắm giữ đề tài và quan đim như vy. Bởi vì, m sao mà một người có thể tự [s] đến và [s] đi nói (kathañhi nāma saya abhikkamanto, saya paṭik- kamanto eva vakkhati): “Kng có tự-bt đu; kng có khởi đu được đem tới từ người khác?” Ngài hỏi người ba là môn kia một số câu hỏi khác và khiến cho người đó hiu rng nn loại có rt nhiu loại ng lực.

Ngươi nghĩ sao, này bà la môn? Liệu có năng lực đu tiên (ārab- bha-dhātu) hiện hữu hay không?”
Dạ có, thưa ngài.”

Khi mà năng lực đu tiên hiện hữu, có được thy qua hành đng ban đu không?”
Dcó, thưa ngài.

Khi nh động ban đu được nhìn thy hin hữu bởi vì ng lực ban đu hin hữu, đây là tự-khởi đu của nn loi; đây là khởi đu được đem đến từ người khác.

Trong trường hợp này, năng lực khởi đu nói đến chức năng qua đó một hành động bt đu.

Ngươi nghĩ sao, này bà la môn? Liu có năng lực bn bỉ (nikka- ma-dhātu) hin hữu hay kng?”
Dcó, thưa ngài.

Khi mà năng lực bn bỉ hin hu, có được thy qua hành động bn bỉ kng?”
Dcó, thưa ngài.

Khi nh động bn bỉ được nhìn thy hin hữu bởi vì ng lực bn bỉ hin hữu, đây là tự-khởi đu của nn loi; đây là khởi đu được đem đến từ người khác.

Năng lực bn bỉ ở đây nói đến dạng năng lực cn thiết để cgắng trong hành động.

Ngươi nghĩ sao, này bà la môn? Liu có năng lực cgắng (parak- kama-dhātu) hin hữu hay kng?”
 


Dcó, thưa ngài.

Khi màng lực cgng hin hữu, có được thy quanh động cgng kng?”
Dcó, thưa ngài.

Khi nh động cgng được nhìn thy hin hữu bởi vìng lực cgng hin hữu, đây là tự-khởi đu của nn loi; đây là khởi đu được đem đến từ người khác.

Năng lực cgắng ở đây nói đến dạng năng lực cn thiết để hn thành một hành động.

Ngươi nghĩ sao, này bà la môn? Liệu có năng lực sức mạnh (thāma-dhātu) hiện hữu hay không?”
Dạ có, thưa ngài.”

Khi mà ng lực sức mạnh hin hữu, có được thy qua nh động sức mạnh kng?”
Dcó, thưa ngài.

Khi hành đng sức mạnh được nhìn thy hiện hữu bởi vì năng lực sức mạnh hiện hữu, đây là tự-khởi đu ca nhân loi; đây là khởi đu được đem đến từ người khác.”

Dù cho con người có nhng loại năng lực này, nếu như họ kng tăng trưởng được nhng knăng thích hợp để áp dụng vào đúng thời đin và đúng cách thức, họ vn tht bại kng đt được nhng mục đích mà họ mong muốn. Bởi thế, điu thiết yếu là chúng ta cn phát trin nhng knăng này để áp dụng nhng năng lực phát sinh kng chỉ vào đúng thời đim và đa đim mà còn đúng cách thc.

Nhng bản kinh của Đức Pht chứa đựng mênh mông nhng chỉ dy mà ngài ban cho các đệ tử để rèn luyn năng lực. Một bản kinh với sbt đu của Đức Pht như sau (SN II, tr.28-29): “Pháp đó đã được ta giải nghĩa rõ ràng, giải thích cn k, phơi bày, đưa ra ánh sáng, đã cởi phăng từ sự chp vá, điu đó đủ cho một thành viên đã tiến vphía trước đã mt nim tin tự khơi dy năng lực của mình như vy: Dù có phải chết, xẻ thịt và xương, du thịt và máu có khô cn trong thân tôi, nhưng tôi skng dừng năng lực của mình cho tới khi tôi chưa đt được điu có thể đt được qua sức mnh của thân người, qua năng lực của thân người, qua ssgắng
 


của thân người! Nhng kẻ lười biếng chìm trong đau kh, ô uế bởi nhng hành động bt thin tội lỗi, và hết sức thờ ơ với vic tốt. Nhưng người nghị lực trần ngp hnh phúc, đoạn tn nhng hành động bt thin tội lỗi, và cao thượng là trở thành người tốt. Kng bởi điu gì làm cho ta hạ lit, hay trở nên cao thượng; mà bởi cao thượng có thể đt được cao thượng. Cuộc đời thánh thin này như tinh hoa của món đồ uống. Bậc thy đã tới trước mt ngươi. Cho nên, nhng đệ tử, ngài thức tỉnh năng lực của ngươi khiến ngươi có thể chiến thắng điu chưa từng chiến thắng được, khiến ngươi có thể đt được điu chưa từng đt được, khiến ngươi chng ngộ điu chưa từng được nhn ra.

Dù cho nhng đệ tử được khuyến khích chuyên cn để đt được mục đích của mình, mỗi người phải tự tìm sự cân bằng thích hợp trong vic áp dụng năng lực. Cho nên, Đức Pht thường luôn bt phải (MN III, tr.159-160) áp dụng cân bằng năng lượng (tinh tấn
- viriya) tránh nghiêng quá nhiu hay chỉ một chút vhai cực (ac- cāraddha-viriya). Một là, với vic quá cgng, ngài so sánh như một người đàn ông kp cht một con chim cun cút và m nó chết ngt. Một là ng lực quá yếu, ngài so sánh với một người đàn ông giữ con chim cút lỏng lo m nó bay mt khỏi tay mình. Lời khuyên của Đức Pht dành cho Sona cũng minh ha rõ đim này (AN III, p. 375):

Hãy nói ta biết, Sona, trước kia khi ông còn ti gia, có phi ông rt gii chơi đàn luýt đng không?”
Dđng vậy ”.

Vy ông nghĩ sao, Sona? Khi ông để dây đàn quá cht, thì giai điệu có hay ông và ông có dễ ng gảy đàn không?”
Dkhông, thưa Ngài.”

Khi ông để dây đàn quá lỏng, thì giai điệu có hay và ông có dễ ng gảy đàn không?”
Dkhông, thưa Ngài.”

Nhưng này, Sona, khi mà dây đàn ca ông không cht cũng không lỏng, được điều chỉnh ở mức độ vừa phi, thì giai điệu có hay và ông có dễ ng gảy đàn không?”
 


Dạ đúng thế, thưa Ngài.

Cũng thế, Sona, nếu như ng lượng bị khuy động quá mạnh mẽ thì dn tới bồn chồn, và nếu ng lượng quá lỏng lo thì dn tới uể oi. Cho nên, Sona, quyết m giữ ng lượng cân bng giúp đt được khng tinh thần bình thản, và thu suốt đối tượng.

Đời sng Pht giáo mu mực được mô tlà một cuộc đời mà hành động được thực hành với ssc bén khôn ngoan nhm đt được nhng mục đích của bản thân ở đây và ngay bây giờ. Chỉ quan sát mà kng hành động thì chỉ như một gic mộng. Dù Đức Pht có chỉ ra, mà các đệ tử kng chc chn đt được nhng mục tiêu của bản thân chỉ qua vic cu nguyn hay mong ước. Có năm điu đáng ao ước, dễ chịu và vui thích nhưng hiếm có nơi thế gian: sng lâu, đp đ, hnh phúc, danh tiếng và tái sinh tốt lành. Mặc dù vy, nhng điu này kng thể đt được chỉ qua sự cu nguyn và mong ước. Đức Pht có nói rằng (AN III, pp. 47-48): Ta kng dy rằng họ đt được qua sự cu nguyn (āyācanā-hetu) hay qua mong ước (patthanā-hetu). Nếu một người có thể đt được mong muốn qua sự cu nguyn hay mong ước, vy ai cu nguyn và mong ước cho h?” Ngài nói tiếp: Với người đệ tử ưu tú mà mong cu có một cuộc sng thọ lâu, tht là kng ích lợi gì khi mà người đó cu nguyn để sng lâu và vui thích trong vic làm đó. Người đó thà rằng theo con đường của thế gian đưa đến sự trường th. Đi theo con đường đó họ sđt được đời sng trường th, trở thành chư thiên hay làm người.Cùng một cách áp dụng cho bốn điu kia.

có thể thy được điu đó từ nhng bản kinh, giáo lý của Đức Pht chuyên chở theo đó một tư tưởng tích cực mnh mẽ tới vic thúc giục nhng đệ tử phát trin thái độ tích cực cho sự thực hành của chính h. Ví dụ, stăng trưởng chánh nim trong cái chết chyếu được nêu ra để phát trin một cm xúc cp bách thực hành trong Đạo Pht. Như một bản kinh có nói (AN IV, tr.320-322), người đó nên quán chiếu mỗi sáng/ti: Tôi vn còn nhiu tội li; nếu tôi chết hôm này/tối nay đó slà điu rt tổn hại đối với tôi. Cho nên, trước sáng nay/đêm nay tôi phải thực hin mãnh lit, cương quyết, cgắng, nỗ lực và ráng sức, chiến đu, chánh nim, bình thn gạt bỏ nhng tội li và tâm thức bt thin này.” Như chúng ta có thể thy trong chính nhng bản kinh, nhng đệ tử của Đức Pht là một tp hợp nhng người tích cực và năng n, họ hướng tới sự chuyên cn
 


từ bỏ sự lười biếng. Đối với h, mỗi thời khc đu đáng quý bởi vì họ phn đu để đt tới sự tiến bộ tinh thn ngay trong đời này, trước khi chết. Nhng đệ tử cho rằng họ chỉ còn rt ít thời gian với cơ hội vàng mà họ có được khi tái sinh thân người, vào thời Đức Pht xut hin nơi thế gian. Đức Pht tiếp sinh lực cho các đệ tử của ngài với lời tuyên bố rằng (Sn, vv. 331-333): Thẳng người lên! Ngồi thẳng lên! Điu các ông cn có phải là ng kng? Nghỉ ngơi dành cho kẻ ốm, hãy chích bằng gai để thy đau và tỉnh táo. Thẳng người lên! Ngồi thẳng lên! Trèn luyn bản thân chuyên cn để thành tựu bình an… Đừng bỏ lỡ cơ hội; nhng kđã bỏ lỡ cơ hội giờ đây đang sng trong khổ đau.
  1. KT LUN

Trong đề tài này, ý định của tôi là giới thiu giáo lý đo đức Pht giáo nguyên thủy qua nghiên cứu nhng bản kinh nguyên thủy của Đức Pht, với mối lin hệ qua ba nhân tố căn bản của quả qua hành động tác ý, gieo nhng nhân tốt và rèn luyn năng lực thực hin nhng nhân tt, nhm truyn tới độc gigiáo lý đo đức Pht giáo nguyên thủy là phm cht tốt lành cn được áp dụng vào giáo dục đo đức tn cu. Đim tranh lun chính là giáo lý đo đức Pht giáo nguyên thủy bao hàm ba chiu của giáo lý đo đức kng chỉ ở nhng đt nước có truyn thống Pht giáo mà thôi. Ở nhng quốc gia theo truyn thống Pht giáo, mô hình Đạo Pht được thực hành là nghiệp quvới ý nghĩa ban đu là để cho kiếp sau, hướng dn nhng môn đồ thu gom công đức theo cách ích kỷ để được tái sinh lên nhng cõi trời trong nhng kiếp sau. Cho nên, giáo lý đo đức của truyn thống Pht giáo này thiếu đi biu lộ tinh thn nhân văn có trong nhng lời chỉ dy của Pht giáo nguyên thy. Nhng giá trvsau này là nhân loivà đề xướng ý tưởng của công dân tn cuvà cng đồng tn cu,” thừa nhn rằng nhng cá nhân, nhng hội nhóm và cng đồng với skhác bit vsở thích, ngôn ngữ, nhn thức và li sng, rằng đó là với skhác bit vđc tính văn hóa, có thể chung sng và nh hưởng ln nhau với stôn trng và lòng bao dung. Dựa trên kinh nghim này, điu đó được nhn xét rằng giáo lý đo đức tán thành trong truyn thống Pht giáo đương thời gọi là xu hướng riêng bit và chnghĩa dân tộc trong khi giáo lý đo đức Pht giáo nguyên thủy là tiếng nói về chnghĩa tng th, thuộc đa svà mang tính nhân loi. Vì thế, điu đó mang bao hàm rằng giáo
 


đo đức Pht giáo nguyên thủy slà phm cht tốt cho sgiáo dục đo đức tn cu, kng chỉ là thực hành riêng trong nhng quốc gia theo truyn thống Pht giáo.



TÀI LIỆU THAM KHO

Andersen, Dines, and Smith, Helmer (eds.) 1913, The Suttanipāta, The Pali Text Society, London.

Bodhi, Bhikkhu (tr.) 2000, The Connected Discourses of the Buddha: A Translation of the Sayutta Nikāya, Translated from the Pāli, Wisdom Publications, Boston.

Bodhi, Bhikkhu (tr.) 2012, The Numerical Discourses of the Buddha: A Translation of the Aguttara Nikāya, Translated from the Pāli, Wisdom Publications, Boston.

Feer, Lèon (ed.) 1884-1898, The Sayutta Nikāya, 5 vols, The Pali Text Society, London.

Hinüber, O. von, and Norman, K. R. (eds.) 1994, Dhammapada, The Pali Text Society, Oxford.

Karunadasa, Y. 2015 (2013), Early Buddhist Teaching: The Middle Position in Theory and Practice, Centre of Buddhist Studies, The University of Hong Kong, Hong Kong.

King, Sallie B. 2005, Being Benevolence: The Social Ethics of Engaged Buddhism,  University  of  Hawaii  Press,  Honolulu.
Morris,  Richard,  and  Hardy,  Edmund  (eds.)  1885-1900,  The
Aguttara Nikāya, 5 vols, The Pali Text Society, London.

Ñāṇamoli, Bhikkhu, and Bodhi, Bhikkhu (trs.) 2001 (1995), The Middle Length Discourses of the Buddha: A Translation of the Majjhima Nikāya. Translated from the Pāli, Wisdom Publications, Boston.

Norman, K. R. (tr.) 1992, The Group of Discourses (Sutta-Nipāta) Volume II Revised Translation with Introduction and Notes, The Pali Text Society, Oxford.
Norman, K. R. (tr.) 2004, The Word of the Doctrine (Dhammapada).
Translated with an Introduction and Notes, The Pali Text Society,
Oxford.

Trenckner, Vilhelm, and Chalmers, Robert (eds.) 1888-1896, The Majjhima-nikāya, 3 vols, The Pali Text Society, London.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây