32 VĂN HÓA DUNG HỢP VỚI CÁCH TIẾP CẬN CỦA PHẬT GIÁO VỀ SỰ LÃNH ĐẠO TOÀN CẦU HIỆN NAY

Thứ tư - 08/05/2019 18:58
ĐĐ. Thích Hạnh Tuệ* ĐĐ. Thích Thanh Quế
459






 
VĂN HÓA DUNG HỢP VỚI CÁCH TIẾP CN CA PHT GIÁO VỀ SLÃNH ĐTOÀN CU HIỆN NAY

ĐĐ. Thích Hnh Tuệ* ĐĐ. Thích Thanh Quế**






TÓM TT

Dung hợp và tiếp biến là một trong nhng nét đc trưng của văn hóa Pht giáo nói chung, văn hóa Pht giáo Vit Nam nói riêng. Ngay từ nhng năm đu Công nguyên, tinh thn dung hòa Tam giáo, thể hin rõ trong tác phm Lý hoc luận của u c. Một trong nhng yếu tố quan trng góp phn to nên thành công hin hách trong cách điu hành đt nước và lãnh đo giáo hội Trúc Lâm của Pht Hoàng Trần Nhân Tông chính là chủ trương dung hòa Tam giáo mà Pht giáo là trục trung tâm. Tự tin ở chính mình, kng ỷ li, nương tựa và bt cứ cái gì và tinh thn dung hợp Pht – Đạo – Nho to nên nhng kỳ tích cho đt nước và Đạo pháp thời Trần. Tinh thn dung hợp tiếp biến giữa tư tưởng Pht – Đạo - Nho được thin sư Hải Lượng, Tn Nht… tiếp tục kế thừa và phát huy.
  1. VĂN HÓA DUNG HỢP

Sự tương tác qua lại giữa các hệ tư tưởng triết học nếu chúng có cơ hội giao lưu là một vn đề mang tính tt yếu. Tức là nếu có giao


*. Pgm đốc Trung tâm Nghiên cứu Văn học Pht giáo – Vin Nghiên cứu Pht học Vit Nam; y viên Ban giáo dục Pht giáo Trung ương – GHPGVN; Giảng viên Học vin Pht giáo Vit Nam; y viên Ban chấp nh Hội Nghiên cứu giảng dy Văn học TP.HCM; Hiu trưởng Trường Ngoại ngữ Thanh Nn; Giảng viên Đại học.
**. y viên Vin Nghiên cứu Pht học Vit Nam; Giảng viên Học vin Pht giáo tại TP. HCM.
 


lưu t có sự tiếp thu, tiếp biến. Mối tương quan giữa Pht giáo (n Đ) và Nho giáo và Lão - Trang (Trung Quốc), vốn được xem là nhng cái nôi của nn văn minh nhân loi, cũng kng đi ngoài quy lut này. Trong lịch svăn hóa tư tưởng, mối quan hệ giữa Pht – Đạo – Nho vô cùng phức tp, có giao lưu, giao thoa, có điu hòa, có tiếp biến, thm chí có cnh tranh, nhưng xu hướng ch yếu vn là hòa đồng, dung hợp. Xu hướng này có lẽ đã manh nha từ khi Pht giáo từ n Độ truyn vào Trung Quốc. Đngười dân bản xứ dễ tiếp nhn Pht giáo, các nhà sư thường mượn nhng thut ngữ của Nho gia và Đạo gia tương tự với tư tưởng Pht giáo, vốn đã rt quen thuộc với người dân ở đây. Ngược li, các Nho sĩ, Đạo sĩ cũng thy được sự bổ túc cn thiết của tư tưởng Pht giáo vào skhiếm khuyết của Nho gia và Lão gia, nht là phương din hình nhi thượng học.

Xu hướng dung hòa Tam giáo đã nh hưởng rt lớn đến đời sng của dân tộc Trung Quốc, trên từ vua, quan, danh sĩ, trí thức đến các thin sư, nho sĩ, đo sĩ, bình dân.

Thời Nam Bắc triu vua Lương Vũ Đế - vvua hộ pháp, với Tam go đng nguyên thuyết, ông chính thức đề xướng tinh thn Tam giáo đồng nguyên” trên nn tảng Pht giáo. Khi nhà Đường thống nht Trung Quốc, triu đình đã áp dụng chính sách quân bình Pht
- Nho - Đạo, nhiu ln tổ chức cho Nho sĩ, Đạo sĩ, Hòa thượng tranh bin vsự ưu lit trong tư tưởng triết lý của ba nhà. Đến thời Tng, tình hình học thut có nhiu biến chuyn. Lý học Nho gia đã tiếp thu, cải biến một số nội dung tư tưởng trng yếu của hai nhà Pht và Lão - Trang, nht là tư tưởng Đại thừa Pht giáo. Vì vy, tư tưởng Pht – Nho dn dn hòa ln vào nhau làm xut hin xu thế dương Nho âm Thích. TBắc Tng đến Nam Tng, xu hướng Tam giáo hợp nht ngày càng phổ biến. Tng Lý Tông từng đề xướng Tam giáo nht đo” trong Văn thy chân kinh ngôn ngoi chỉ. Nhà Nguyên sùng tín Pht giáo Tây Tạng và có chính sách hợp nht Tam giáo nên tư tưởng này vô cùng phát trin. Đào Cữu làm Tam go nht nguyên đồ trong Nam thôn xuyết đc đ. Ông đem “Lý, Tính, Mnh” của Nho gia phối với Giới, “Định, Tu” của Pht gia và Tinh, “Khí, Thần” của Đạo gia; đem “Nhân, “Nghĩa, “L, Trí,
Tín” của Nho phối với Sc, Th, Tưởng, “Hành, Thc, của Pht và “Luân, “Nguyên, “Đình, “Li, Trinh” của Đo. Cuối thời Nguyên đu nhà Minh cho đến gn hết đời Minh tư tưởng Tam
 


giáo hợp nht vn được lưu truyn rng rãi, tiêu biu là tác phm Vô n thgiải của Trương Tam Phong. Ông sử dụng các khái nim, từ ngữ, thut ngữ cả ba nhà như sc kng, sinh dit, viên giác, chánh pháp nhãn tạng, niết n diu tâm… của Pht; kim đan, linh bo trí, thêm mễ nguyên châu… của Đạo; minh đức, th dân, thái cực, quân tử… của Nho, to nên Tam giáo hỗn hợp lun. Lý Triu Ân sáng lp “Đại Tnh giáoly tư tưởng hòa hợp Tam giáo là tông ch. Đầu đời Thanh sự dung hợp Tam giáo vn rt phổ biến, xut hin nhiu nhà lý lun Tam giáo. Từ cuối nhà Thanh cho đến nay, xu hướng Tam giáo đồng nguyên dn mai một nhưng vn còn sức nh hưởng kng nhỏ trong đời sng xã hội.

Vit Nam ta, từ thế kỷ thII, thin sư u c đã viết Lý hoc luận (195-198). Đây là tác phm đu tiên ở Vit Nam n về mối quan hệ giữa ba hệ tư tưởng Pht – Đạo – Nho. Lý hoc luận gồm có 37 điu: 3 điu đu trình bày vPht giáo; 8 điu lun vLão giáo; 1 điu tng kết, còn lại 25 điu tp n về mối quan hệ giữa Pht giáo và Nho giáo. Điu này giúp chúng ta thy được, ngay từ cuối thế kỷ thII mối tương quan giữa Pht và Nho đã trở thành một vn đề được nhiu người quan tâm.

Pht giáo khi bt đu vào Vit Nam ta, bằng con đường lan ta văn hóa, các nhà sư đã dung hợp tinh hoa tư tưởng Pht giáo với văn hóa tín ngưỡng đa thn bản đa, văn hóa Nho, Đạo đã to nên một nn văn hóa Pht giáo, văn hóa từ bi dung hợp vô cùng phong phú và đc sc trên mnh đt Vit Nam chúng ta.

Các tác phm như Tham đồ hiển quyết của thin sư Viên Chiếu (999-1090) đời Lý, rồi Thiền tông chnam tự của Trần Thái Tông (1218-1277); Trịnh Tuệ (1701-?) viết Tam go nht nguyên thuyết; Tn Nht (1757-1834) viết Tam go nguyên lưu ký.. đu là nhng tác phm n về nhng vn đề tương quan của Pht – Đạo – Nho.

Thin sư Trí Thin bày tỏ quan đim Pht Nho nht trí, nhưng nhn mnh rằng, chỉ có Pht giáo mới tht sự thóat khổ được: “Lời nói của Như lai chẳng phải là lời nói sng. Các pháp ở trên thế gian này đu là hư o, kng thực, chỉ có đo mới là thực, ta còn cn gì nữa; vli, Nho gia nói đo vua tôi, cha con; Pht pháp nói vcông đức của các vị Bồ tát, Thanh văn. Hai giáo tuy có chỗ khác nhau nhưng quy về một mối mà thôi. Chỉ là, muốn vượt qua nỗi khổ sinh
 


tử, dứt khỏi scố chp hữu vô, ngoài Pht giáo ra thì kng thể nào đt được” [1, tr.6].

Trong Thiền tông chnam t, Trần Thái Tông dn ý của lục t Huệ Năng: Cố Lc Thữu ngôn vân: Tiên đại thánh nhân dđại sư vô biệt, tắc tri ngã Pht chi go hựu gitiên thánh dĩ truyền ư thế dã (Cho nên Lục Tcó nói: bc đại thánh và đại sư đời trước kng khác gì nhau, như thế đại giáo của đức Pht ta phải nhờ tiên thánh mà truyn lại cho đời) [2, tr.26]. Ông còn lý giải sự tương đồng của Pht - Nho vmt tích đức, hành thin như sau: Nho điển thi ân báo đc, Đo kính ái vt hiếu sinh, Pht duy giới sát thị trì(Sách Nho dy thi ân bố đức, kinh Đạo giáo dy yêu mọi vt, quý ssng, đo Pht dy giữ giới kng sát sinh) [3, tr.49]

Hunh Công Bá nhận xét về mối đan xen tư tưởng trong một s danh Nho tiếng m trước và trong thế kXVIII: khuynh hướng Nho giáo kết hợp với tư tương Lão - Trang mà tiêu biểu là Nguyễn Bnh Khm; có khuynh hướng Nho giáo kết hợp với Đo giáo mà tiêu biểu là Nguyễn Dữ; li có khuynh hướng Nho giáo kết hợp với Pht giáo mà tiêu biểu là Ngô Thì Nhm; và cũng có khuynh hướng kết hợp Nho giáo với Pháp gia mà tiêu biểu là Lê Quý Đôn. Hiện tượng tam giáo đng nguyên trên nền tng Nho giáo là xu hướng lớn ca giai đon này. Nhưng hiện tượng đó cũng y nên sphn ứng trong mt số nhà Nho ở cui thế kỷ XVIII như Bùi Dương Lch, Phm Nguyễn Du, Phm Qúy Thích, Bùi Huy Bích” [4, tr.96].

Do có nhng đim tương đồng và gn gũi với tín ngưỡng dân gian bản đa nên tư tưởng Tam giáo nhanh chóng được dân chúng chp nhn, đến thời Lý - Trần thì triu đình đã tổ chức khoa thi Tam giáo để chọn ra người tài đức để giúp nước. Có người cho rằng chủ trương Tam giáo đồng nguyên là có tính cht chính trị hơn là vmt triết học[6, tr.29]. Theo thin ý ca chúng tôi, ngoài nhng yếu tkhác, ni m tư tưởng và mục đích cu cánh ca ba htư tưởng này vn có những đim tương đồng, bsung cho nhau, ng là một trong những yếu tđsản sinh ra quan nim Tam giáo đồng nguyên.

Daine Morgan nói: “CLão go và Khng go đều sdụng nhiều thuật biểu tượng âm dương. Khái niệm vâm dương là nền tng triết hc ca cKhng go và Lão go. Hai truyền thng này, dù đi chi nhau ở nhiều lề thói, nhưng chai gn với ý tưởng vsự trao đi đng
 


nền tng giữa các lực bsung” [8, tr.177].

Trong phần viết vĐi chân Viên giác thanh, Thái cực và Vô cc, Lý và Khí của bộ Việt Nam Pht giáo sluận, Nguyn Lang khẳng định đây là một tng hợp Nho – Pht khá độc đáo [9, tr.655]. Nhng sđc về Nho học được thin sư Hải Lượng đưa vào trong các đề tài thin quán. Vì vy nhiu lúc ta thy nhng giáo lý của Pht giáo được trình bày qua cái nhìn của một nhà Nho, như Nguyn Lang nhận xét: “Ðng vphía Pht hc mà nói thì không là thtính ca vn hữu, bt sinh bt diệt, không từ đâu tới cũng không đi vđâu (vô sở tòng lai dic vô sở khứ), kng thdiễn tbng ngôn ngkhái niệm (vô thanh chi thanh). Ðng vphái Nho hc mà nói thì không là Thái Cực là khí hn nguyên (hn đn). Ðó là âm thanh thnht mà nhóm Hi Lượng mun đánh lên” [9, tr.655].

Lê Văn Siêu nhận xét vĐi chân viên giác thanh rng: “Đây là sphi hợp tinh hoa ca Nho, Pht và Đo gia to thành mt đồ hình theo cửu cung bát quái có công dụng thực tế, mà riêng phn sáng tác thì có sphù hợp với toàn btác phm trong mt kiến trúc cht ch Rng phn quan niệm ra 24 thanh, trừu tượng trong cái trừu tượng phi kể là mt công phu tuyệt vời. huống còn nhng lời ging vnhng thanh y, bng nhng u chuyện ngngôn hóan dụ, hay nhng điển tích rút ra trong kinh sách Pht hay Nho, cũng như nhng lý luận đt ngt trong cuc đàm thoi giữa đại thiền sư và đồ đệ, ta thy tác giqulà người thông thái, mà sáng tác phm đã đáng kể là tiêu biểu cho mức tiến hóa tinh thn ca người Việt ở thế kỷ XVIII” [17, tr.880-881].
  1. SỰ DUNG HỢP, GIAO THOA TƯ TƯỞNG PHT GIÁO VÀ NHO GIÁO

Txưa đến nay, các nhà lãnh đo Vit Nam nói chung, lãnh đo Pht giáo nói riêng rt chú trng xu hướng dung hợp Tam giáo, Pht
- Nho nht trí, phát huy nguyên khí, tinh hoa sức mnh đn kết tn dân tc. Phan Đăng cho rằng, thời chúa Nguyn, Nho và Pht đã kết hợp một cách nhun nhuyn, to ra một phong cách đc bit trong giới cm quyn cũng như trong qun chúng.

Cuối thế kXVIII, tác phm Trúc Lâm tông chnguyên thanh ra đời do thin sư Hải Lượng Ngô Thì Nhm và các pháp hữu đệ tử chủ trương, đã lun giải rt logic, cht ch, tư tưởng dung hợp Tam giáo nói chung, Pht – Nho nht trí nói riêng một cách có hệ thống.
 


Hải Huyn Ngô Thì Hoàng đánh giá rt cao tư tưởng của thin sư Hải Lượng Ngô Thì Nhm hàm chứa trong tác phm lun thuyết quý giá này, nht là tư tưởng Pht – Nho nht trí:

Chương này đem Nho và Thích đúc li làm mt, đó là chtâm đắc và nht quán ca Đi thiền sư ta, phát huy nó ra làm mt trong hai mươi bn thanh, là mt áng văn chương cao cả, mt pho ngh luận lớn lao, nào phi ly ống hóp mà nhìn, ly võ hến mà đong được.” [7, tr.265]. Lời m huyết trên rt đáng để chúng ta suy ngm, cn trng trong khi đọc, tìm hiu và nhận xét, đánh giá vgiá trvà tư tưởng của tác phẩm lun thuyết triết học đm cht áo bí này.

Trúc Lâm tông chnguyên thanh bt đu bng Không thanh. Kng thanh trong tác phẩm của Ngô Thì Nhậm ứng với phạm trù Thái cực, có gốc từ Vô cực của Nho gia và triết lý Tính kng của Pht giáo. Nếu Pht giáo quan nim rng tính knglà tht tướng của vạn pp, thì Nho gia xem thái cực là nguồn gốc phát sinh của vạn vt. Ngô Thì Nhậm quả là sâu sc khi chọn Không thanh là thanh đu tiên của hai mươi bốn thanh .

Lý và Dục là hai vn đề lớn được nêu ra trong thanh đu tiên này. Đây kng chỉ là hai phm trù triết lý cơ bản được các Nho gia xut sc đời Tng tranh lun, mà còn là nhng vn đề cốt lõi của tư tưởng Pht giáo . Dấu n của lý học Tng Nho để lại trong tác phm thể hin rõ nht thông qua cách giải thích vLý và Dục của Hải Lượng. Nếu đại biu của phái Lý học – Chu Hi cho rằng Tính là Lý thì đại biu của phái Tâm học – Lục Tượng Sơn khẳng định Tâm là Lý. Chu Hi cho rằng: “Lý là i có trước và nhnó mới sinh ra vn vt. Như i lý của thuyền và xe, i gi là phát minh ra thuyền và xe chng qua là phát hiện ra i Lý của thuyền và xe, ri dựa theo Lý y tạo ra thuyền và xe trong thực tế” [10, tr.600].

Mối quan hệ giữa Nho và Pht là vn đề trng yếu nht của tác phm. Tinh thn dung hợp giao thoa giữa Nho và Pht có thể thy được ngay trong lời tựa của tác phm Trúc Lâm tông chnguyên thanh do Bảo Chân đo nhân Phan Huy Ích viết: Go lý ca Thích Ca tuy nói là không tch hư vô nhưng đi yếu vn là trbhết mi chướng lũy, thy rõ cn như. Cho rằng minh m kiến nh là vic cn kíp nhất, nếu đem so sánh với hc thuyết thành ý trí tri ca nhà Nho ta, thật chẳng có gì trái ngược. Ta nghe đức Phu tử nói ‘Tây
 


phương có bc đại thánh nhân’. Thế thì Phu tử vn chưa hchê bai đạo Pht là dị đoan” [7, tr.141].

Tuy kng đkích Pht giáo cực đoan và phiến din như Bùi Dương Lịch, Phm Quý Thích, Phm Nguyn Du, Bùi Huy Bích
nhưng Phan Huy Ích vn có ý đề cao Nho gia hơn Pht giáo:
性而窮理驅釋以入儒使梵王八部不出素王宮墻 Tn  tính  nhi
cùng lý khu Thích dĩ nhập Nho sử Phn vương bát bbt xuất Tvương
cung tường. (Tn tính nhi cùng lý, khu Thích dĩ nhp Nho, ông đã
khiến cho tám bộ Phn vương kng ra ngoài cung tường của T
vương) [7, tr.143].

Nếu Phan Huy Ích cho rng: “Khu Thích dĩ nhập Nho(đưa đo Pht vào đo Nho) là xu hướng chính của Hải Lượng thin sư Ngô Thì Nhậm khi viết nên tác phẩm này, Thì Nguyn Lang Thích Nht Hnh có cách nghĩ khác về quan đim này của Phan Huy Ích: Hi Lượng đã vượt qua hàng rào kỳ thchia cách. Đi với ông, cuc sống là quan trọng, tugiác nm trong lòng sự sống, hình thái ý thức hkhông còn quan trọng nữa. Thế nhưng Phan Huy Ích không hiểu được ông, vn khăng khăng nói rng, tác phm Trúc Lâm tông chnguyên thanh là mt công trình đem đạo Pht vvới đạo Nho, đâu biết rng đi với Hi Lượng, sphân biệt không còn hiện hữu nữa” [9, tr.637].

Quan đim của thin sư Thích Nht Hnh rt xác đáng. Bởi vì, rõ ràng là ngay trên tiêu đề tác phm này đã thể hin rõ nội dung chính của tác phm là khôi phục và xin dương tư tưởng Pht giáo Trúc Lâm. Nếu như quả tht cm hng chđo của tác phm là đưa đo Pht vào đo Nho, thì có lẽ nên đổi tên tiêu đề của tác phm, hoc gitác phm này đã kng cn có mt như ta thy hin nay. Điu này càng được khẳng định chc chn hơn qua lời của Ngô Thì Hoàng ở thanh đu tiên:

Thy ta xử thế bng đạo Nho, xuất thế bng đạo Thiền, không phi là biện luận quá mà làm cho người đời kinh hãi. Vì thy ta tự ti trong lý y, ri vượt ra ngoài cái lý y. Chỉ có thy ta mới thấu sut chân lý, nên mới ly thuyết này phá tan mi nghi ngờ.” [9, tr.117].

Ở chương Thoát thanh, Hải Lượng thin sư nói: “Pht Thích Ca Mâu Ni sinh sau Đế Thuấn hNgu, cho nên tiếp thu được cái phép phá ngc [ca Thuấn] để mà tế độ chúng sinh… HNgu ly phép “Tinh nhtmà phá nó. Thích Ca Mâu Ni ly cái phép “Tinh tiếnmà phá
 


nó. Sau này, Nhan Hi nói Khc k”, Đi Tu nói Sát hi”, chai đều dụng công ở trên chTinh, cho nên cái tinh lực để đánh phá địa ngc là thanh bo kiếm Kim cang”…

Chỉ nghe nhà Pht giảng giải về đa ngục và phương pháp phá đa ngục, chứ chưa từng thy trong kinh đin nhà Nho đề cp đến vn đề này. Như, thn chú mt tông dùng để phá đa ngục: “Phá địa ngc chơn ngôn: Án dà ra đế da ta bà ha” [11, tr.170], hay trong kinh
Đa Tng, Btát Đa Tng phát nguyn: 眾生度盡方證菩提地獄未
空誓不成佛. Chúng sinh đtn, phương chng bđề, Đa ngc vkhông,
thbt thành Pht. hết chúng sinh mới chứng qubđ, Đa ngục
ca hết ti nn, nguyn không tnh Pht). Nên Hi Lượng nói phá
ngc chính là phá vstrói buộc, cchấp trong tâm mình.

Nói Pht Thích Ca u Ni vì sinh ra sau Đế Thun nên học được phép phá ngục của họ Ngu e rằng hơi khiên cưỡng. Khiên cưỡng trong cả nghĩa thực và nghĩa n dụ của phép phá ngc. Bởi vì, nhà Nho có cách tu tâm dưỡng tính, tồn tâm hướng thin của nhà Nho. Nhưng chyếu nhà Nho dy người tu “Nhân đo” thuộc Dục giới. Nhà Pht giảng giải rõ ràng vTam giới (Dục giới, Sc giới và Vô sc giới ), Lục đo luân hồi (Đa ngục đo, Ngạ quỷ đo, Súc sinh đo, Nhân đo, Atula đo, Thiên đo) và phương pháp tu tp giải thóat ra khỏi sràng buộc trong Tam giới và Lục Đạo. Nhà Pht cho rằng Vô minh tham ái là ngục tù lớn nht trói buộc, giam cm con người. Chỉ có gươm báu trí tuệ mới cht đứt được phin não Vô minh tham ái đưa con người đến bờ an lc giải thóat.

Thin sư Hải Lượng giảng giải về lý bình đng của Pht so với nghĩa đại đồng của Nho gia: Ta nghe Khổng Tnói chim muông (ta) không thcùng by được, nếu không bn bè với người thì ta còn bn bè với ai? Kinh Liên hoa nói rng, ta xem hết thy đều bình đẳng, không có lòng yêu này ghét n. Ta không tham cái gì cũng không có cái gì hn đnh và trngi (ta) cả. Đó là cái nghĩa đại đng ca Nho gia)” [7, tr.174]. Rõ ràng, cái nghĩa đại đồng của Khổng tử thiết lập trên bình din con người với con người, loại bỏ muôn thú ra ngoài. Còn cái nghĩa bình đng của nhà Pht là tt cả chúng sinh đu bình đng, bao gồm cả Pht trời thần tnh. Như vy cái nghĩa bình đng của Pht giáo đã bao m cái nghĩa đại đồng của Nho gia.
Trong chương Định thanh, Hải Lượng còn đưa ra cách lý giải
 


vsự tương đồng và dị bit trong quan nim quân tử và tiu nn của Nho gia và Thích gia: “Nho thì có Nho quân tử, Nho tiểu nhân; Thích thì có Thích quân tử và Thích tiểu nhân. Nho quân tử thì vị k, Nho tiểu nhân thì vnhân. Thích quân tử thì vnhân, Thích tiểu nhân thì vị k... Ông trả lời câu hỏi Nhân và Kỷ có khác nhau không? của học trò rng: Ch Kvà chNhân trong luận chng ca nhà Nho là đng vmt Tâm Tính mà nói. Thích quân tử thì xả kỷ (bmình) để tế độ người, Thích tiểu nhân đe dongười để nuôi mình, đó là đng ở mt Lý và Dục mà phân Nhân và K. ChNhân và chKca đàng này (Pht) so với chNhân và chKca đằng kia (Nho) thì công phu và tác dụng không giống nhau nhưng quy kết vtâm tính thì là mt mà thôi. Vì vy, cho nên nhà Nho nói Chính Tâm , nói Thành Tính, nhà Pht nói Minh Tâm, nói Kiến Tính đều là có nghĩa Đo người quân tử rộng khắp mà kín đáo (Quân tử chi đạo phí nhi n)… Pht gia thì nói Tướng Kim (thân như hoàng kim), Nho gia thì Phương Kim (Tây Bc thuc kim). Cất chứa Kim trong cái vô dụng, đó là cái đạo ca trời, chỉ có người quân tử mới biết được” [7, tr.177]. Xưa nay, chỉ nghe nhà Nho xem trng khái nim quân tử và tiu nn, chứ chưa từng nghe nhà Pht nói đến. Nếu nhìn từ góc độ thin – ác của Pht giáo, thì quân tử là thin, tiu nn là ác.

Lun vsự tương đồng trong quan nim về tính mnh và schết giữa Chu Dịch và kinh Lăng già, Hải Lượng cho rng: “Chu Dịch có sáu mươi bn quẻ, mà chcho qukhn được chTMnh. Lăng già có tám thức mà chcho ý thức được chNiết Bàn. Nho không cho phép người ta coi nhcái chết. Thích cũng không cho người ta coi nhcái chết. Ý Thức và cái tượng ca quKhn giống nhau. i tượng ca quKhn là nước nhgit ở dưới chm, là nước a khi chm: Ý Thức như bni gió, ni lên vô số đợt sóng. QuKhn phi là Tmnh, Ý thức là Niết bàn. Vì vy cho nên nhà Nho ly Nghĩa tinh nhân thc’ làm quý. Nhà Thích ly ‘Tminh ý caolàm quý. Nếu nhân nghĩa không tinh thc, trí ý không cao minh, không qua được cửa i sinh tử, thì làm sao chế đnh được cái mnh sinh tử ca con người? Khổng tử là chca tính mnh, Pht Thích Ca Mâu Ni là khách ca tính mnh. Một đôi chkhách y, có từ khi trời đất mới mra” [7, tr.198].

Sng chết là vn đề muôn thuở của con người. Các hệ tư tưởng, các triết gia đu quan tâm giải quyết. Pht giáo xem sinh tử là vic lớn nht trên đời, Nho gia xem trng, giữ gìn thân thể do cha mẹ
 


sinh ra, khuyến cáo mọi người kng thể xem nhẹ cái chết. Liên quan đến quan nim vsng chết, mc dù tư tưởng Lão - Trang cũng được các tác giả tiếp thu, tm nhập, dung hoà dưới tông chỉ Tam giáo đồng nguyên, nhưng đây đó trong tác phẩm vẫn có chỗ nhng người cng sự của tác giphần chính văn ppn thậm chí là đkích Đo gia. Hải Âu nói: Trang - Lão có thuyết diều quạ kiến b(người chết thì đng chôn, cứ để cho diều quạ kiến băn) thì li là bừa bãi, quái gở, không hợp với đạo. Từ xưa đến nay, Thiền gia vn ly Viên Tch làm siêu thóat, ly Xả Thân làm chân tu, điều này vn hàm ý sâu xa mà ít người biết” [7, tr.207]…

Nói Pht Thích Ca là khách của tính mnh vì Pht Thích Ca đã đt đến Niết Bàn, vượt ra ngoài, vượt lên trên ssng chết. Tức là vn đề sng chết kng còn trói buộc được Pht Thích Ca. Còn Khổng tử đã đến cnh giới tri thiên mnh” nên có thể chế định được thiên mnh, làm chvn mnh. Con người có thể làm ch được vn mnh của chính mình, Pht Thích Ca cũng là con người bình thường, nhờ nỗ lực tu tp, tìm ra chân lý, vượt qua bin khổ sinh tử luân hồi, đến giải thóat Niết Bàn; Khổng tử cũng là con người bình thường, nhờ kng ngng học hỏi, tu dưỡng đo đức, mới có thể tri thiên mnh được. Điu này thể hin quan đim tích cực của Hải Lượng trong vic khẳng định giá trcon người và tin tưởng vào năng lực con người.

Thin sư Hải Lượng còn cho rằng Nho gia và Pht gia tương đồng cả về hình tướng thể hiện: 說皇帝王霸佛說聖神魔鬼 其致一爾 Nho thuyết Hoàng Đế Vương Bá, Pht thuyết Thánh Thn
Ma Qy kỳ trí nht nhĩ. (Nho thì nói Hoàng Đế, Vương Bá, Pht thì nói Tnh Thần Ma Quỉ cũng là nht trí thôi) [7, tr.188].

Sự tương đồng của Pht gia và Nho gia còn thy được qua nội dung uyên áo của kinh Lăng già và cái huyn hư của kinh Dịch:
佛演楞伽,易之玄虛也. Pht diễn Lăng già, Dịch chi huyền hư dã.
(Pht din giảng kinh Lăng già, tức là giảng cái u huyn của Chu
Dịch) [7, tr.285]. Hơn na, đến cả cài thô và cái tinh trong vic học Pht , học Nho cũng kng khác nhau: 儒家詞章之學釋家齋醮 之學是攻乎異端也佛聖道理之端何常有異然舜章齋醮 釋之粗. Nho gia từ chương chi hc, Thích gia trai tiếu chi hc thị công
hdị đoan dã Pht Thánh đạo lý chi đoan hà thường hữu dnhiên. Thuấn chương trai tiếu Nho Thích chi thô (Cái học từ chương của
 


Nho gia, cái học chay cúng của Thích gia y là chy theo dị đoan. Cái đoan(hệ thống) đo lý của Pht và của Tnh có bao giờ d (khác) đâu, nhưng từ chương và chay cúng là cái thô của Nho và Thích” [7, tr.285]. Hải Lượng cho rng tiến trình nhận thức kể cả
Nho và Pht đu phải theo thứ tự từ thô vào tinh: 非始於粗道理
之精無自而入Phi thy ư thô đạo lý chi tinh vô tự nhi nhập (Nếu
kng bt đu từ cái Thô thì cái Tinh của đo lý kng do đâu mà
vào được.) Cách nghĩ này có lchđúng vi Nho học và Pht học ở cp
đNn thừa, chca phù hợp vi tôn chTc tâm tức PhtThin
tông nói chung, Pht tại tâmca Thin phái Trúc Lâm nói riêng.

Bảo Chân đo nhân Phan Huy Ích đón đu sphn bác của Nho khi đọc tác phm này như sau: Thuyết tân thanh của ông, bọn tục Nho nghe thy chc sđâm ra nghị lun, mà ví ông như Xương Lê (Hàn Dũ) trước thì bài Pht, sau lại nghiêng theo. Tượng Sơn (Lục Cửu Uyên) chủ trương tịnh chính là bt gốc ở đo Thin. Đem nhng lời ức đn tm thường như thế để phm bình ông thì làm sao mà đánh giá được sở học của ông!, đồng thời còn lun giải rõ s nht quán của Nho - Pht trên con đường thể nhp đo lớn: “Đo lớn phát ra tự tri, lưu hành khp vũ trụ, phân tán thành vn vt. Cái ththì đồng, nhưng cái dụng thì d. Đng là gốc, còn dị là ngọn, xem bề ngoài thì tưởng như khác đường khác no, nhưng thống hội lại cho đến chỗ cực kỳ tinh vi thiết yếu thì chẳng có gì là vượt ra ngoài đo lớn kia được. Giáo lý của Thích Ca tuy nói là kng tịch hư vô, nhưng đại yếu vn là trừ bỏ hết mọi chướng lu, thy rõ chân như. Cho rằng minh m kiến tính là vic cn kíp nht, nếu đem so sánh với học thuyết thành ý trí tri của nhà Nho ta tht chẳng có gì trái ngược” [7, tr.141]…

Thin sư Hải Lượng chỉ ra phm vi tác dụng rng lớn của Pht gia và Nho gia: “Khổng Tử tịch tĩnh bt động, nhưng có tác dụng với scố trong thiên h. Đại Thế Chí Bồ tát vào trong vô lượng ng- hĩa, ở trong tam muội, thân tâm bt động , png ánh sáng bch hào nơi lông mày chiếu rọi một vn tám nghìn thế giới ở Đông phưong khp hết mọi ch, như thế gọi là Pp gia” [7, tr.174].

Trong chương Nht thanh, phn Thanh dẫn, Hải Huyn Ngô Thì Hoàng dung hợp Nho và Pht trong nghĩa chNht: “Nht là tinh cht, kng tp, hợp tt cả muôn vic trong thiên hlại làm một. Ý nghĩa y bao gồm rt rng. Thái Cực tóm âm dương lại làm một, Âm
 


Dương tóm ngũ hành lại làm một. Đạo lý vn xoay, đi đâu chẳng phải là một (Nht). Nhà Nho nói: kng có hai bên cùng phi kng có hai phải tức là Nht (một). Thích có bất nhị pp môn, bt nhị cũng là Nht (một). Nho có cái gọi là nht cá lý, Thích có cái gọi là nht thiết pp, nht nọ với nht kia đu là Nht c. Vì vy cho nên làm Hoàng Đế, làm Vương Bá, cũng là một Nho y, làm Tnh Thần, làm Ma Quỷ cũng là một Thích y, làm Nho hay làm Thích cũng là một đạo y” [7, tr.187-188]…
  1. DĨ NHO GII PHT

Như tiêu đề của nó, tông chỉ của tác phm lun thuyết triết học Trúc Lâm tông chnguyên thanh là skế tha, xin dương tinh thn vô ngã, nhp thế cứu đời của Thin phái Trúc Lâm Yên Tử do Điu ngGiác hoàng Trần Nhân Tông sáng lp. Tuy vn kế thừa tinh thn hoà hợp Tam giáo của Thin phái Trúc Lâm, nhưng theo xu hướng dĩ Nho giải Pht(ng triết lý nhà Nho để lý giải tư tưởng Pht giáo). Đây cũng là một trong nhng đc đim to nên nét rt riêng của tư tưởng tác phm.

Tgiữa thế kXIV đến thế kXV, Nho gia dn dn chiếm vị trí quan trng trên chính trường, Nho giáo ngày càng có nh hưởng lớn trong xã hội. Đến nửa cuối thế kXVIII, nội chiến liên miên giữa các thế lực Lê - Trịnh - Nguyn, rồi phong trào nông dân khởi nghĩa đã làm cho nhân dân thêm khốn kh, cơ cc. Lúc này cư Nho m Phtvẫn là quan nim sống được tng lớp trí thc chọn lựa, có ảnh hưởng sâu rng trong đời sống xã hi. Nếu ở đời Trn, tư tưởng Pht giáo thin tông Trúc Lâm là tư tưởng chính thống thì thời knày luân lý Nho giáo chiếm vtrí chđạo. Phi chăng, chính skhinh hay trọng tư tưởng Pht hoc Nho là một trong nhng nguyên nhân dn đến hqulà shưng hay suy ca dân tc ta?

Hải Hòa Nguyn Đăng Sở lý giải vsự nht trí của Pht và Nho bằng cách dùng học thuyết Nho gia để giải thích nhng triết lý uyên áo của nhà Pht: Vch ra cái lý huyn diu, mở cái tâm sâu kín để trỏ cho người ta, y là công vic thứ nht của thin gia. Thế mà phải dùng lun thuyết của nhà Nho để lun thuyết điu đó, đó là chỉ vì đo chỉ có một mà thôi. Chỗ huyn diu của nhà Nho tức là Thin, chỗ tác dụng của Thin tức là Nho. Gt bỏ văn từ kxo (Nho) và
 


giới hnh tm thường (Pht) mà tìm cái gọi là Đạo, thì Nho và Pht có thể nht quán được” [7, tr.149].

Thin sư Hải Lượng dùng lý lun nhà Nho giải thích thuyết Luân Hồi của nhà Pht nhm giúp mọi người dễ hiu hơn: “Luân (cái nh xe) cho nên Hồi (xoay vòng), cũng như nhà Nho nói Tun Hn, vì Hn (cái vòng) cho nên Tun (ven theo), kng phải cái vòng thì kng xoay. Nhà Pht nói Luân (cái nh xe), nhà Nho nói Hn (cái vòng). Luân và Hn là đo trời vyTròn là cái thể của tri, nht, nguyt, ngũ tinh đu tròn, cho nên chu lưu, vn hành được. Thích Ca u Ni chuyn cái nh xe Vô Ngi, Khổng Tử đi xe vòng quanh các nước. Đi xe vòng quanh tức cũng là luân hồi... nhà Nho có chBiến Thông, Cm Thông, Hội Thông; nhà Pht có chữ Thần Thông, cùng một nghĩa như nhau” [7, tr.217]

Vì sao trong giai đoạn lịch snày, Hải Lượng và các pháp hữu phải làm như vy? Có lẽ vì trong thời đim này, Nho sĩ rt thịnh, chiếm vị trí quan trng trong chính trường, có một bộ phn lớn Nho sĩ, do kng thông hiu triết lý nhà Pht và có sn thành kiến cố chp, nên kịch lit đkích Pht giáo, đến nỗi một Nho sĩ bác học như Lê Quý Đôn phải lên tiếng ngăn cn. u thun, chia rẽ của các nhân sĩ trí thức thuộc Pht giáo và Nho giáo là một trong nhng nguyên nhân chính làm cho nguyên khí quốc gia bị phân tán, suy yếu, dn đến nội chiến lon lc trong một thời gian dài.

Thin sư Hải Lượng Ngô Thì Nhm cùng các danh sĩ Bắc Hà bt nht trong giai đoạn này đu cho rằng, muốn phát huy tinh hoa nguyên khí của đt nước, sức mnh của tn dân tộc để phục hưng đt nước trong thế kXVIII, thì kng gì hơn là, phục hưng tinh thn dung hợp Tam giáo trên cái nn thin học Pht giáo theo con đường Pht Hoàng Trần Nhân Tông và thin phái Trúc Lâm đã làm trước đó năm thế k.
  1. THAY LI KT

Văn hóa từ bi dung hợp một trong nhưng nét đc trưng quan trng của văn hóa Vit Nam nói chung, văn hóa Pht giáo Vit Nam nói riêng. Các nhà lãnh đo Vit Nam, lãnh đo Pht giáo Vit Nam từ xưa đến nay đu quan tâm đc bit như Lý Thái T, Lý Tnh Tông, Lý Nhân Tông Trần Thái Tông, Trần Tnh Tông Tuệ Trung Thượng sĩ, Trần Nhân Tông, thin sư Hương Hi, thin sư Chân
 


Nguyên, chúa Hưng Long Nguyn Phúc Chu, thin sư Hải Lượng Ngô Thì Nhm, thin sư Tn Nht… Chủ trương dung hòa tịnh hành Tam giáo Pht – Đạo – Nho mà Pht giáo là trục trung tâm của Pht Hoàng Trần Nhân Tông đã góp phn to nên một thời k huy hoàng của Pht giáo Vit Nam và ghi lại nhng trang svàng của dân tộc Vit Nam thời Trần. Văn hóa dung hợp với nhng bài học giá trị thực tin lịch sđáng để chúng ta suy ngm nht là trong thời đại công nghệ tri thức, công nghệ thông tin phát trin như hin nay. Chúng ta hân hoan chào mng lễ Vesak 2019 tại Vit Nam với chủ đ, Cách tiếp cn của Pht giáo vslãnh đo tn cu và trách nhim cùng chia svì xã hội bn vng thì vn đề văn hóa dung hợp là rt đáng suy ngm.









***
 


 

Tài liệu tham kho


Thiền uyển tập anh, bn Vĩnh Thịnh, Thư vin Vin Hán Nôm, ký hiu A. 3144, tr.6.

Nguyn Huệ Chi chủ biên (1989), Thơ văn Lý - Trn, Tp II, Quyn thượng. Nxb. KHXH, H.
Trần Thái Tông (2003), Khóa hư lục (Thích Thanh Kim dịch).
Nxb. Tôn giáo, H.
Nhiu tác giả (2007), Lch sử tư tưởng Việt Nam, Thun Hóa, Huế.

David E. Cooper (2005), c trường phái triết hc trên thế giới (Ai dịch?). Nxb. Văn hóa – Thông tin, H.
Mai Quốc Liên (Chủ biên) (2003), Ngô Thì Nhm – c phm, Tp
    1. Nxb. Văn học, H.
Mai Quốc Liên chủ biên (2003), Ngô Thì Nhm – c phm, Tp 3.
Nxb. Văn học, H.

Diane Morgan (2008), Triết hc và tôn go phương Đông, Lưu Văn Hy dịch. Nxb. Tôn giáo, H.

Nguyn Lang (2000), Việt Nam Pht go sluận, Tái bản. Nxb. Văn học, H. (trọn b)

Phùng Hữu Lan (2006), Lch sử triết hc Trung Quc, Tp 2 (Lê Anh Minh dịch). Nxb. KHXH, H.
Nhiu tác giả (2008), Kinh nht tng. Nxb. Tôn giáo, H.
Lâm Giang (Chủ biên) (2008), Ngô Thì Nhm toàn tp, Tp 5. Nxb.
KHXH, H.

Thích Hnh Tuệ (2018), Trúc Lâm tông chnguyên thanh trong văn hc Pht go Việt Nam. Nxb. KHXH, H.

Nhiu tác giả (2015), Nho - Thích - Đo chi triết hc đi thoi. Thương vn thư quán, Bc Kinh (Tiếng Trung).

Thích Hnh Tuệ (2018), Văn hc Pht go Việt Nam – mt hướng tiếp cận. Nxb. KHXH, H.



Vương Hng Quân (2008), Trung cổ thời kỳ Nho – Thích – Đo chỉnh hợp nghiên cứu, Thiên Tân nhân dân xut bản xã (TiếngTrung).

Lê Văn Siêu (2006 ), Việt Nam văn minh s, Tái bản. Nxb. Văn học, H.

Daisetz Teitaro Suzuki (1992), Nghiên cứu kinh ng già. Thích Chơn Thin và Trần Tun Mn dịch. Nxb. Tôn giáo, H.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây