3. TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH CỦAPHẬT GIÁO VÀ GIÁTRỊTƯTƯỞNG ẤY TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Thứ sáu - 03/05/2019 04:42
Cao Xuân Long* & Thích Minh Mẫn
41
 
TƯỞNG ĐO ĐỨC GIA ĐÌNH
CAPHT GIÁO VÀ GIÁTRTƯTƯỞNG Y TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Cao Xuân Long* & Thích Minh Mẫn



M TẮT
Đo Phật đã hình thành, phát triển hơn 2600 năm qua, đã chứng tỏ một tôn giáo lớn của nhân loại với tinh thần xuất thế tinh thần nhập thế tích cực nhằm hướng đến cuộc sống tốt cho con người. GiáoPhật giáo cùng phong phú, sâu sắc hệ thống trên nhiều phương diện khác nhau. Một trong những nội dung quan trọng, cốt lõi trong kho tàng giáo pháp đồ sộ của đức Phật chính là nhng lời dy vđo đức gia đình. Trong bi cnh tn cu hóa, quốc tế hóa, trong điều kiện của cuộc cách mạng công nghiệp lần th đã tạo ra những c động tích cực, lẫn tiêu cực đến những vấn đề đạo đức gia đình hiện nay, cho nên việc nghiên cứu những giá trị to lớn trong quan điểm đo đức gia đình của Phật go một việc m ý nghĩaluận sâu sắc ý nghĩa thực tiễn thiết thực.
***
Đo Phật đã hình thành, phát triển hơn 2600 năm qua, đã chứng tỏ làmộttôngiáolớncủanhânloivitinhthnxutthếvàtinhthn nhập thế tích cực nhằm hướng đến cuộc sống tốt cho con người. Go Phật go vô cùng phong phú, sâu sắc hệ thống trên nhiều phương diện khác nhau. Một trong những nội dung quan trọng, cốt




*. TS., P Trưởng Khoa Triết Học, Trường Đại học Khoa học hội Nhân văn TP.H C Minh, Việt Nam.
**. T kheo, Thạc sĩ.
 


lõi trong kho tàng giáo pháp đồ sộ của đức Phật chính những lời dạy về đạo đức gia đình. Bởi, gia đình đóng vai tr tế bào của hội, nhưng bản thânlại giống như một hội thu nhỏ. Do vậy, quan hệ đo đức trong gia đình cái khởi đầu cho quan hệ đo đức trong hội. Tuy nhiên thể thấy rằng đức Phật không đưa ra một định nghĩa hoàn thiện, đầy đủ về phm trù tưởng đạo đức gia đình. Nhưng thông qua những c phm, những lời dạy, những nội dung tưởng đo đức của Phật giáo, chúng ta hiểu Tư tưởng đạo đức gia đình của Phật giáo những quan điểm, quan niệm của Phật giáo về những con đường, chuẩn mực mỗi người phải kiên trì tu dưỡng, thực hiện trong mối các mối quan h ở gia đình nhằm đem lại bình an, hạnh phúc an lạc trong cuộc sống giúp hội phát triển.
Đ thực hiện những chuẩn mực đạo đức gia đình, Phật giáo đã đặt con người trong các mối quan hệ khác nhau của gia đình, như: vợ - chồng; cha mẹ - con; anh - em thân tộc; .., tùy theo từng mối quan hệ thì có nhng quy định vchun mực đo đức khác nhau. Trong đó:
Thứ nhất là, mối quan h được Phật giáo c định nền tảng, xuất phát điểm của một gia đình chính mối quan h vợ chồng. Theo Đức Phật nền tảng của một mối quan hệ vợ - chồng bền vững chính tình u, sự thấu hiểu chia sẽ của người chồng người vợ, Ngài dạy từ lúc yêu thương đến lúc chung sống với nhau thì phải phù hợp với các chuẩn mực đạo đức của hội, phải hợp với đạolàm người. Trong kinh Đi Bo Tích, Đức Pht đã nhận định rng: “Nếu mt người đàn ôngth tìm được một người vợ, người phụ n thích hợp hiểu biết; người phụ nth tìm được một người đàn ông thích hợp hiểu biết, cả hai thực sự may mắn”. (Kinh Đại Bảo Tích, dịch giả: HT. Thích T Tịnh, NXB. Tôn giáo, 1999, tập 1, tr.35). Như vậy Đức Phật đã không bác bỏ vấn đề hôn nhân gia đình cn đề xướng hôn nhân dựa trên sự tìm hiểu lẫn nhau, hiểu biết về nhau giữa nam nữ, sự phù hợp lẫn nhau giữa hai người rồi mới đi tới hôn nhân chứ không phải hôn nhân do sự ép buộc hoặc những lý do không chính đáng. Nếu hai người không phù hợp với nhau vẫn phải chung sống với nhau thì như vậy không may mắn cho họ, họ sẽ rất khó được hnh phúc trong đời sống hôn nhân của mình.
Hai người thương yêu nhau tiến đến hôn nhân một nhân duyên lớn. Hôn nhân này hạnh phúc hay khổ đau phụ thuộc vào phẩm cht đo đức, nn cách của đôi vợ chồng. Trong đời sng
 


hôn nhân rất nhiều vấn đề nảy sinh, lắm chuyện phũ phàng, nằm ngoài dự tính của con người, nếu như hai người đã trang bị sẵn sàng những đức tính bao dung, cần mn, chân thành, nhẫn nại vàkhiêm tốn, thương yêu tôn trọng lẫn nhau, trách nhiệm về đời sống của nhau thì chc chắn cuộc hôn nhân của hai người sẽ được hạnh phúc.
Đối với đời sống vợ chồng, đức Phật đã nói về vị trí, vai tr của người chồng người vợ trong gia đình. Theo Đức Phật, người chồng người chủ, trụ cột trong gia đình để cho vợ con nương tựa; người chồng tấm gương sáng soi khắp những nỗi lng uẩn khúc của vợ. Người chồng phải luôn luôn biết thương yêu, đối xử công bằng, đứng đắn chăm chỉ để kiến lập gia đình, nhằm đem lại sự kính thuận tinh tấn của người vợ. nh hưởng của người chồng đối với người vợ, đối với công việc trong gia đình không phải nhỏ.
Còn đối với người vợ, trong gia đình họ người đem nguồn sống nhân từ, bác ái đượm nhuần khắp cõi lng thân thể con cái, giọt nước cam lồ để an ủi những nỗi lng lo lắng cho chồng, tấm gương sách tiến chí khí cho chồng đạt tới sự vẻ vang trên trường đời. Ảnh hưởng, giá trị của người vợ đối với gia đình, hội không phải một sự quá thp m như nhiều người lầm tưởng, nếu người vợ hiểu biết thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.
Đ cho đời sống gia đình được hạnh phúc thì cả người vợ người chồng đều phải thực hiện nghiêm túc những bổn phận trách nhiệm của mình, giữ được mối tương hệ tốt đẹp với nhau.
Đấy những phép ứng xử rất hợp tình hợp , nếp sống đo đức lành mnh, nhân t tạo nên hạnh phúc trong đời sống gia đình.
Một trong những nguyên nhân chính của sự bất hòa trong gia đình sự nghi ngờ mất lng tin ở nhau. Đ cho gia đình thực sự hòa hợp, thực sự mái m hnh phúc thì cả người chồng lẫn người vợ phải tỏ bày sự tin tưởng lẫn nhau cố gắng không những điều mật giữa hai người. Những điều giấu kín thường tạo n sự nghi ngờ, nghi ngờ dẫn đến ghen tuông, ghen tuông tạo nên hờn giận, hờn giận tạo nên hận thù hận thù thể dẫn đến sự chia lìa, làm khổ nhau thậm chí tàn hại lẫn nhau.
Nếu một cặp vợ chồng thể chia sẻ nỗi đau khổ niềm vui trong đời sống hàng ngày cho nhau thì họ thể tiếp thêm sức sống cho nhau, đem đến hnh phúc cho nhau giảm thiểu ti đa những
 


lời than vãn, trách móc. Những vấn đề được đem ra bàn thảo với nhau sẽ mang lại cho họ niềm tin để sống cùng nhau trong sự hiểu biết thương yêu nhau.
V chồng cần sự thoải mái với nhau khi đương đầu với những vấn đề những khó khăn trong cuộc sống. Những cảm giác bất an dao động sẽ biến mất cuộc sống sẽ càng ý nghĩa hơn, hạnh phúc, thú vị hơn nếu như cả vợ chồng đều sẵn lng chia sẻ gánh nng của kẻ nhau.
Trong kinh Thi Ca La Việt (Sìgalovàda sùttra), Pht dy bổn phận làm chồng 5 điều đối với vợ làm vợ cũng 5 điều đối với chồng; bổn phận làm cha mẹ 5 điều với con cái con cái cũng 5 điều với cha mẹ. C̉ng hạn:
V thờ chồng năm việc: Một chồng đi đâu về phải đứng dậy nghênh tiếp; Hai khi chồng đi khỏi phải lo mọi việc nấu nướng, quét dọn chờ chồng về; Ba không đượclòng dâm dục với người khác, chồng trách mắng cũng không đượcthái độ trách mắng lại; Bốn hãy làm theo lời chồng răn dạy,nhặt được vật cũng không được che giấu; Năm khi chồng ngủ nghỉ, phải lo sắp xếp xong rồi mới ngủ.
Chồng đối với vợ cũng năm điều: Một đi đâu phải cho vợ biết; Hai việc ăn uống đúng giờ, cung cấp áo quần cho vợ; Ba phải cung cấp vàng bạc châu u; Bốn những vật trong nhà nhiều ít đều phải giao phó cho vợ; Năm không được ngoại tình, bằng cách nuôi dưỡng, hầu hạ, chuyển tài sn.1
Thứ hai là, mối quan hệ giữa cha mẹ con cái, đấy một mối quan hệ quan trọng, cội nguồn cho sự phát triển của một gia đình. Theo Ngài việc chăm sóc giáo dục con cái bổn phận của cha mẹ, trong đó người mẹ đóng vai tr quan trọng. S thành đạt cũng như đức hạnh của con một nhân tố quan trọng góp phần làm cho gia đình hạnh phúc. Chính vậy, vấn đề giáo dục con cái cũng góp phần không nhỏ trong việc tạo dựng hạnh phúc cho gia đình. Bởi, cha mẹ là nhng người thy đu tiên của con cái. Trong đó vai tr của người mẹ quan trọng hơn cả. Chuẩn mực của người mẹ yêu


  1. Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt), NXB. Tôn giáo, năm 2012, Kinh trường bộ “Dìgha Nikàya”, bài 31. Kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt (Sigàlovàda sutta), tr.122.
 


thương, chăm sóc bo vệ con cái với bất cứ giá o, trong lời dạy của Đức Phật về mẹ trong kinh Tâm Địa Quán như sau:
M hiền n sống mặt trời giữa trưa chói ng M hiền khuất bóng mặt trời đã lặn
M hiền còn sống mặt trăng sáng tỏ Mhiền khuất ri là đêm tối âm u.2
Cha mẹ trách nhiệm nuôi nấng mang lại sự tốt lành cho con cái. Trong kinh Đnh Lu Phương, khi nói về bổn phận của cha mẹ đối với con cái, Đức Phật đã dạy: Cha mẹ phảibổn phận khuyên bảo con cái tránh xa điều xấu, khuyên bảo con cái làm điều tốt, tạo cho con cái một nền giáo dục tốt, tạo điều kiện cho chúng lập gia đình với những người ph hợp, trao tài sản thừa kế cho chúng vào thời điểm thích hợp”.3
Qua những bổn phn này chúng ta thấy được phương pháp go dục, chăm sóc toàn diện của cha mẹ đối với con cái Đức Phật đã dạy. Cha mẹ không chỉ chăm lo cho con về phương diện vật chất cả phương diện tinh thần, nhân cách đạo đức của con nữa. Chỉ sự chăm sóc giáo dục toàn diện như thế mới mong giúp con trở thành những người con ngoan, tr giỏi, người công dân tốt, hữu ích cho hội.
Trong phương pp giáo dục của mình, cha mẹ phải đem tt cả tình thương yêu của mình đối với con để giáo dục con. Tuy nhiên cha mẹ cũng không nên quá chiều chuộng con. Nên nhớ thương yêu nhưng không chiều chuộng, thương yêu nhưng cũng cần phải sự nghiêm khắc, kỷ luật trong quá trình giáo dục con. Một đứa trẻ bị thiếu tình thương yêu của cha mẹ, của những người thân thì chẳng khác cây xanh bị thiếu nước, không thể phát triển bình thường được. Vì thế, các bậc cha mẹ cần phải dành thời gian quan tâm, chăm sóc giáo dục con cái để được một mái ấm hạnh phúc. Còn đối với cha mẹ hai đấng sinh thành, đức Phật dạy

  1. Kinh Đại thừa bản sinh Tâm Địa Quán, Hán dịch: Đời Đường, Tam tạng pháp Bát Nhã, người nước Kế Tân, Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Tạng Kinh, quyển 3, Phẩm 2: Báo Ân, NXB. Tổng hợp, tr.17.
  2. Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt, NXB. Tôn giáo, năm 2012, Kinh Trường Bộ “Dìgha Nikàya”, bài 31. Kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt (Sigàlovàda sutta), tr.120.
 


bổn phn m con phải hiếu kính, phụng dưỡng, xem cha mẹ như vị trời Phạm Thiên. Trong kinh Go thọ Thi Ca La Việt, đức Pht đã dạy rằng: Bổn phận của con đối với cha mẹ kính yêu, phụng dưỡng cha mẹ, giúp những việc cha mẹ cần làm, giữ danh d truyền thống gia đình, giữ gìn tài sản, sự nghiệp của cha mẹ”.4
Thứ ba là, trong mối quan h anh em thân tộc. Khi một cộng đồng dân được hình thành thì cùng lúc ấy, mối quan h anh em thân tộc được xuất hiện, định hình. Tùy theo không gian sống bối cảnh n hóa tính chất của quan hệ anh em, thân tộc, thay đổi. Với Phật giáo, để quan hệ anh em, thân tộc được giữ gìn phát triển thì đòi hỏi phải hoàn thiện một số đức tính sau: một là, đoàn kết, theo Đức Phật, nếu như bất cứ một gia đình, dng tộc, anh em biết tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, làm việc trong niệm đoàn kết, thì không ai thể làm tan mối quan hệ của họ. Vốn đây một trong bảy pháp bất thối được Phật dạy cho dân Vajji, nhưng nếu như linh động mở rng ứng dụng trong quan hệ thân tộc, anh em, thì vẫn tạo n c dụng: sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Vì lẽ, sự đoàn kết làm cho những cá thể hợp thành một khối sẽ tạo nên sức mạnh tổng hòa. Với sức mạnh đó, thể thực hiện được nhiều việc tốt cho bản thân cho tha nhân, cho cộng đồng. Chuẩn mực sống chung theo nguyên tắc Lục hòa một trong những yếu tố góp phần tạo nên tinh thần đoàn kết vững mạnh, bất kể đó tập thể nào.
Ở một chừng mực nào đó, sự đoàn kết biểu hiện sinh động của bước đầu chinh phục tự ngã. Khi cái ta nhỏ lại thì người ta dễ dàng chấp nhận nhau, hoan hỷ với nhau thể đến với nhau trong một tập thể lớn. Câu chuyện về đàn chim cùng đoàn kết bay n, o theo cả tấm lưới của người thợ n được Đức Phật khéo dn dụ trong kinh Tiểu bộ minh chứng sống động về sức mạnh đoàn kết. Skhẳng định của Đức Thế Tôn: Các bà con không nên tranh cãi nhau. Tranh cãi nguồn gốc diệt vong”.5
Một khi các cá thể trong một gia đình, dng tộc, gần nhất


  1. Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt, Trường Bộ kinh II, kinh Giáo thọ Thi Ca La Việt, NXB. TP.HCM, 1991, tr.131.
  2. Kinh Tiểu bộ, Truyện Tiền thân Đức Phật, tập 4, phm Kulavaka, chuyện th 33, truyện Tiền thân Sammodamàna, NXB. Tp.HCM, 1999, tr.56.
 


anh em, biết vận dụng tinh thần tuy khác thân nhưng giống như đồng một tâm, sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm thì đó dấu hiệu hưng thịnh của một gia đình, dng tộc. Với thân tộc, anh em, tinh thần đoàn kết đức tính rất mực quan trọng.
Hai tương kính, nhường nhịn sẻ chia, trong quan hệ anh em cùng một nhà thì đức tính này cần phải nỗ lực vận dụng. Thương nhau nhưng phải kính trọng nhau. Đó ngun tắc bắt buộc trong mọi mối quan hệ hội theo quan điểm Phật giáo, đây quan hệ anh em, thân tộc. Phật dy: Với mẹ với cha/ Với anh nhiều tuổi hơn/ Với thầy thứ tư/ Không nên sanh kiêu mạn/ Nên kính trọng vị ấy/ Nên tôn kính vị ấy/ Cúng dường họ, tốt lành”.6 Phật giáo rất chú trọng đến trật tự đạo đức. Trật tự đạo đức này được xây dựng trên tinh thần thương nhau trong tương kính nhường nhịn cả đôi bên. Câu chuyện xem ai nhiều tuổi hơn giữa con voi, con khỉ chim đa đa được Phật thuyết giảng trong bộ Cullavagga đã cho thấy tinh thần kính trọng các bậc trưởng thượng chuẩn mực ứng xử cần trong quan hệ thân tộc. Nhờ sự tương kính nhường nhịn này, mặc dù đôi khi sự tranh cãi hay va chạm giữa anh em, thân tộc, nhưng sau đó mọi chuyện dễ dàng được tha thứ mối quan hệ nhanh chóng được hàn gắn ngay. T sự kiện đệ tử của giáo phái Nigantha Nathaputta không nhường nhịn nhau, tranh cãi nhau, xung đột nhau chia rẽ nhau saukhi giáo ch của họ tạ thế, Đức Phtđãdy cho Sa-di Cunda: Này Cunda, các ngươi hãy hội họp với nhau trong tinh thn hòa đng và tương kính, không có tranh lun nhau”.
Ba giữ vững nếp nhà, nếp nhà được hiểuđây truyền thống đạo đức của gia đình, của dng tộc, những giá trị tinh thần được thiết lập củng cố từ nhiều thế hệ trước đó. Ngay như bn thân của Đức Phật, qua sựtả của Bà-la-môn Sonadana trong kinh Trường bộ, cho thấy Ngài một nếp nhà trong sạch vững chãi: Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama thiện sanh cả từ mẫu h phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời T phụ không bị một vết nhơ nào, không bị một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh,điểm này thật không xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiến chúng ta,

  1. Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Kinh Tương ưng, tập 1, chương VII, Tương ưng Bà-la-môn, phẩm cư sĩ, Mànatthada, NXB. Tp.HCM, 1999, tr.145.
 


trái lại tht xứng đáng cho chúng ta đến yết kiến Sa-môn Gotama.7
Như vậy, để được một đời sống gia đình hạnh phúc quả không đơn giản. Mọi người cần phải chuẩn bị tâm thế cho mình trước khi bước vào đời sống gia đình. Bằng trí tuệ lng thương yêu, đức Phật đã chỉ dạy những vấn đề hết sức thiết thực trọng yếu để tạo lập một cuộc sống gia đình hạnh phúc. Dù ở quốc gia nào, hay thời đại nào đi nữa, những lời dạy của đức Phật về gia đình vẫn phù hợp rất giá trị.
Những lời dạy về đạo đức gia đình của đức Phật mang đậm tính nhân n, hợp với c chuẩn mực đo đức của hội, đúng theo đo làm người, hướng mọi người đi theo con đường Chân - Thiện - M. Đấy bài học chung cho tất cả mọi người chứ không riêng một nhóm người nào cả.
Chúng ta không n để bức tường thành kiến, phân biệt chia cắt để rồi bỏ qua những bài học giá trị, bỏ qua hội quý báu để thể hoàn thiện bản thân, vun đắp cho hạnh phúc của cuộc sống. Đem tất cả năng lực tâm hồn của mình để xây dựng gia đình, tạo lập cuộc hnh phúc, đem đến hnh phúc cho những người thân yêu của mình trong đời sống hàng ngày cũng nghĩa mình đã m những việc tốt, mình đã tu tập.
Hiện nay, vấn đề đạo đức gia đình trong quan điểm triết lý Phật giáo đã góp phần làm cho hội trên toàn thế giới cũng như Việt Nam hướng con người đến những giá trị chânthiện – mĩ. Với triết lý từ bi, hỷ xả, khuyến khích con người hướng thiện, đạo đức về gia đình của Phật giáo đã dễ dàng đi vào lng người, tác dụng hoàn thiện nhân cách đạo đức, hướng con người đến lối sống, vị tha, bình đẳng, bác ái. Tính hướng thiện của Phật giáo một trong những nguồn gốc của chủ nghĩa nhân đo,tưởng bình đẳng, hòa bình của Phật giáo phù hợp với xu hướng hòa đồng liên kết giữa các dân tộc trên thế giới trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, lng từ bi, bác ái góp phn cứu giúp người hon nn, giữ vững tinh thn lành đùm rách của dân tộc, triết lý thường, ngã giúp con người giảm bớt cái tôi vị kỷ. Những giá trị tích cực trong quan niệm đo đức gia đình của Phật go ng được nhân n với những hành

  1. Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt, Kinh Trường bộ, tập 1, kinh Chủng Đức, tr. 67.
 


động cụ thể như kẻ đói được cho ăn, kẻ rách được cho mặc, người ốm đau bệnh tật được chăm sóc,tưởng đạo đức trong gia đình Pht giáo khuyên con người luôn nhớ đến đo hiếu, ly chữ hiếu làm đu: Hạnh hiếu là hạnh Phật, tâm hiếu là tâm Phật, mn vic thế gian không gì hơn công ơn ni dưỡng của cha m. Thêm vào đó, những không gian chùa chiền của Phật giáo luôn thu hút con người tìm về chốn tĩnh m, nơi chiêm nghim và cm nhận.Tt cả những điều đó những giá trị đo đức tích cực, thiết thực góp phn giáo hóa con người, giúp cho thế hệ trẻ vững bước trước cám dỗ của cuộc đời, khích lệ họ quan tâm đến số phận của cộng đồng, sống lương thiện, coi trọng tính nhân văn, coi trọng thiên nhiên. Bên cạnh đó, lối sống Phật giáo nêu cao tinh thần “cư trần lạc đạo” đã góp phn xây dựng lối sống trách nhiệm với một ý thức không tham quyền cố vị, không bám lấy lợi ích vật chất, sống thanh cao tự tại. Bởi theo định nghĩa của đức Phật, tham sân hai năng lực tiêu cực mạnh mẽ nhất trong tâm thức con người, chúng che khuất tầm nhìn làm nhiễu loạn Phật tính của ta, cho nên, cũng theo Ngài, diệt trừ được tham n đích thực một thành tựu rất to lớn của con người. Như thế tư tưởng đạo đức gia đình của Phật giáo đã đóng góp những giá trị văn hóa tích cực vào việc xây dựng đạo đức lối sống cho con người, nhất cho tầng lớp trẻ hiện nay. Đặc biệt, đạo đức Phật giáo cn góp phần rèn luyện một lối sống kham nhẫn, khắc kỷ. Đó những hình thức tu tập kiên nhẫn, vượt qua những cám dỗ của cuộc đời để lng được thanh cao, tâm hồn được giải thoát.





***


 

Tài liệu tham khảo

Kinh Đại Bảo Tích, dịch giả: HT. Thích Trí Tịnh, NXB. Tôn giáo, 1999.
Đi Tng Kinh Việt Nam Nam Truyền, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Vit, NXB. Tôn giáo, m 2012, Kinh Trường bộ “Dìgha Nikàya, bài 31. Kinh Go thọ Thi-ca-la-việt (Silovàda sutta).
Đi Tng Kinh Việt Nam Nam Truyền, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Vit, NXB. Tôn giáo, m 2012, Kinh Trung Bộ I, II.
Đi Tng Kinh Việt Nam Nam Truyền, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt, NXB. Tôn giáo, năm 2012, Kinh Tương Ưng I.
Đi Tng Kinh Việt Nam Nam Truyn, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt , Tiểu Bộ kinh tập I, kinh Tp, NXB. Tp.HCM, 1999.
Đi Tng Kinh Việt Nam Nam Truyền, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Tăng Chi Bộ kinh I, chương Ba pháp, phẩm S giả của Tri, kinh Ngang bng với Phạm thiên, VNCPHVN n hành, 1996.
Đi Tng Kinh Việt Nam Nam Truyền, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Vit , Trường Bộ kinh II, kinh Giáo thọ Thi Ca La Vit, NXB. TP.HCM, 1991.
Đi Tng Kinh Việt Nam Nam Truyền, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt , Tăng Chi Bộ kinh III, chương Bảy pháp, kinh Bảy hạng vợ, VNCPHVN, 1996.
Kinh Đại thừa bản sinh Tâm Địa Quán, Hán dịch: Đời Đường, Tam tạng pháp Bát Nhã, người nước Kế Tân, Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Tng Kinh, quyn 3, Phẩm 2: o Ân, NXB. Tng hợp).

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây