3 PHẢN ỨNG ĐỐI VỚI NỀN CÔNG NGHIỆP 4.0 MỘT BƯỚC TIẾN TRIỂN QUYẾT ĐỊNH

Thứ tư - 08/05/2019 12:04
Geoffrey Bamford



 
PHẢN ỨNĐỐI VỚI NỀN CÔNG NGHIỆP 4.0 MT BƯC TIẾN TRIỂN QUYẾT ĐỊNH
 

Geoffrey Bamford*






LI MĐẦU

Nn công nghip 4.0 là một tên gọi mang tính quy ước cho một scông nghệ mới. Một cuộc đàm lun phức tp về tương lai của loài người xung quanh nó đã trở nên rõ ràng.

Bài tho lun này nhân tin đề cp đến tác động tiêu cực của đin thoại thông tin/truyn thông, nhưng kng quan tâm quá chi tiết. Nó tp trung vào vic tho lun về tính quyết định của công nghệ và kinh tế.

Điu này kng phải mới. Kể từ thời văn minh bt đu, con người cm thy chính mình phụ thuộc vào nhng hệ thống máy móc, cả công nghệ và qun tr. Hệ lụy khổ đau của họ được nêu ra trong nhng cuộc tho lun vsphn và ý chí tự do. Nn công nghip 4.0 lặp lại một chuyn cũ.

Trong thời kỳ đức Pht, stổn thương còn mới. Nhng vị du sĩ phụ thuộc nhiu vào uy tín cá nhân, nhưng tt cả đu phải đưa ra một câu chuyn vvic làm thế nào sphn của con người được quyết định và liu rằng/tại sao/như thế nào để c gắng trở nên tốt.

Đức Pht luôn phủ nhn nhng câu hỏi về thuyết tin định. Có rt nhiu câu trả lời sai, và chỉ một vài câu trả lời đúng. Tại sao phải lo lắng vvic cuộc sng của chúng ta đã được quyết định trước. Vn đề kng phải là quyết định nhng sự tht, mà là lựa chọn,


*    Người dịch: Liu Pháp và Ngân Phm
 


chọn lựa và phát trin hành vi của mình theo nhng cách có ích. Một số lựa chọn, một số cách suy nghĩ và cm nhn, là hữu ích, và nhng cách khác thì kng.

Tuy nhiên, nhân quả kng phải là một chủ đề nóng. Có phải nhng hành động của bạn nh hưởng đến nhng kinh nghim tương lai, nếu đúng như vy thì bằng cách nào.

Đức Pht tp trung vào skế tục giữa các tác nhân và người chịu hu quả của nó. Có phải có một cái Tôi trường tồn? Kng! Có phải kng có gì còn lại khi chúng ta chết đi? Một ln na, kng.

Ssuy đn như thế kng giúp chúng ta trong vic điu gì có ý nghĩa. Nhng gì có ý nghĩa là phá vỡ chuỗi nhân quả ràng buộc chúng ta.

Đó là cách làm thế nào chúng ta có thể hiu và phn ứng lại nn công nghip 4.0. Nó có thể cn nhiu nỗ lực.
  1. GIỚI THIỆU

Bài tham lun này trình bày nn công nghip 4.0 trong bối cnh lịch sdài hn, nó cho thy nn công nghip 4.0 xut hin từ cách mạng khoa học và cuối cùng từ dự án văn mình của chính nó.
    1. Văn minh và khoa học

Tồn tại đồng thời với nn văn minh là dự án lớn của con người để hiu môi trường vt lý và cũng để khai thác trit để hơn. Kể từ trước thời kỳ đức Pht, chúng ta đã phát trin vmặt kỹ thut và chúng ta phải hiu ý nghĩa của từng cp độ hiu biết kỹ thut mới, và nhng gì nó cho phép chúng ta làm.

Nn công nghip 4.0 xut phát từ nhng quá trình lịch sử như vy. Nó cũng được pha trộn với chnghĩa vlai, như chnghĩa k thut hin đại ở Châu Âu hin tại trong suốt một thế kỷ qua. Đi xa hơn na, nó tìm cách tái to lại chnghĩa thực nghim trí tuệ trong buổi đu của nn khoa học hin đi. Cuối cùng, đây là một dự án văn minh, sự tiếp nối nhng gì đã được bt đu trong thiên niên kỷ thứ nht trước Công nguyên.

Nó phn ánh một ý thức h, ở đó nhng thành tựu của loài người và quá trình tiến tới nhng điu kng tưởng mang tính khoa học bằng cách phụ thuộc một cách máy móc vào một số quy lut tn học (thut tn, đại khái). Điu này đã chữu trong xã hội
 


tn cu của chúng ta - nó là bá chủ trong nn kinh tế và trong vic hoch định chính sách nói chung, chẳng hn như trong vic qunkhoa học. Nó mang tính máy móc và quyết định, và nó thúc đy con người tự tìm kiếm và tiếp thu. Nhiu người tiếp thu nó, mong muốn tin rằng điu này sẽ chng mình và đm bo syêu thích của họ đối với công nghệ và tiếp thu nó nói chung.

Nó cũng có nhng nhược đim. Công nghip dự định giải png con người bằng cách cơ giới hóa cũng làm nô lệ con người, biến họ trở thành nhng công cụ của máy móc. Nn công nghệ 4.0 đại din cho một đỉnh cao của xu hướng này.
    1. Nhng suy nghĩ của đức Pht

Sau đó, chúng ta liên hệ bài phân tích mang tích lịch snày với nhng suy nghĩ trong thời kì đu của đức Pht. Nn văn minh đang phát trin, nn kinh tế đang bùng n, nhưng mọi người lại rối tung. Ngôn ngvà cuộc sng cũng đu phàm tục hơn nhng gì chúng đã từng và mọi ngưởi cm thy bt ổn. Sphức tp của của sn xut và qun trị trong một xã hội văn minh đặt ra nhng hn chế mới. Đã có một số nhà duy vt thun túy xung quanh - ngày nay hu hết là nhng nhà triết học đơn gin và nhng kđu sỏ tự nhn cm thy tự do như ở nhà. Nhng Pht tử muốn tnh suy nghĩ này - và họ luôn muốn tnh khỏi nhng tiêu chun thay thế, cái mà có thể hướng đến chnghĩa lý tưởng hóa.

Nhân loại dễ dàng bị mc kt trong nhng cái by nhị nguyên. Chẳng hn như, bạn thy mình là vĩnh cữu hay bạn nghĩ mình hữu hn. Nhng ý kiến về quan hệ nhân qu, đặc bit là hướng đến một hoặc cả hai giả thuyết này đu bị đức Pht phủ nhn.

Ý tưởng của họ là để xem xét một vài khía cnh về nhng câu hỏi này, và để cân nhc trong một bối cnh. Bi cnh là cách mà tt cả chúng ta lp đy cuộc sng của mình trong mỗi khoảnh khc và có thể làm điu đó ít nhiu có ích. Một điu có ích mà chúng ta có thể làm là cgắng kng phn ứng lại một cách tự động, và vì vy chúng ta chú ý đến cách chúng ta vp vào nhng phn ứng tự động như vy - lý do đu tiên được quan tâm trong chuỗi nhân quả là có thể phá vỡ nhng cái có thể by chúng ta.
  1. NỀN CÔNG NGHIỆP 4.0
    1. Bối cảnh dài hạn: khoa học và chnghĩa khoa học
 


Khi Pht pháp phát trin, với lời dy của đức Pht (Sasana), khi nn văn minh (ng được biết đến như lịch sử) đã bt đu phát trin theo một cách rng lớn. Nhân loại gọi đó là thời đại Trc.

Ở nhng nơi, mt độ dân stăng mnh, các hệ thống kinh tế - xã hội trở nên phân tầng (và tương tự như hệ thống tri thc) - thành phố phát trin và vic viết lách cũng vy. Mọi người sử dụng ngôn nghàm súc hơn, và cũng trừu tượng hơn, vì vy thế giới giờ đây đy nhng thvà khái nim hơn nó đã từng. Trong sự bùng nổ kinh tế vĩ đại đó, chnghĩa duy vt hin tại đã nm giữ cả về triết học và thực tin, và cũng là khuynh hướng đối nghịch với chnghĩa duy tâm trừu trượng.

Trong hai thiên niên krưỡi ktđó, các mô hình định cư, các t chức xã hi, các cu trúc quyn lựcđã phát trin n định - ng như n hóa. Tư tưởng duy vt/duy tâm đã trtnh chđthường xuyên.

Trong 500 năm qua, nhng nỗ lực của nhân loại để hiu và kim soát môi trường vt lý đã vượt qua ngưỡng. Văn hóa đã bị chi phối bởi khoa học, xã hội và công nghip.

Dn dn, nhng giống loài của chúng ta đã bị biến đổi. Sphức tp của suy nghĩ, hành vi và hình thức thể chế mà nhiu người bây giờ gọi là STEM (Khoa học, Công nghê, Kỹ thut và Tn học) đã rt quan trng ở đây, cũng như kinh tế học. Máy tính đã đã cng c khuynh hướng tt nhiên của các thut tn.

Có thể có một nơi cho tt cả nhng điu này. Nếu, bằng cách thực hin vic đo lường hợp lý, chúng ta có thể xây dựng các bộ dữ liu mà chúng ta có thể phân tích để xác định tính thường xuyên, sau đó chúng ta có thể giả thuyết và kim tra nhng mối liên hệ nhân quả có thể xy ra. Bằng cách này, chúng ta có thể tìm ra điu gì hiu quđiu gì xy ra nếu chúng làm vic này hay vic khác và vì vy làm thế nào để to ra một hiu ứng cụ th. Vmặt hiu qu, chúng ta có thể to ra cu trúc nếu thì, vô số chúng được lồng ghép với nhau theo một cách phức tp. Khi kết hợp lại với nhau, nhng điu này có thể đưa ra một mô tcó giá trvvũ trụ - một bức tranh của thế giới mà đúng vì nó giúp chúng ta điu chỉnh các yếu tố của môi trường vt lý một cách đáng tin cy.

Tuy nhiên, kng một bức tranh nào đưa ra một sự hiu biết đy đủ về nhng gì nó biu hin. Cũng như, mặc dù nhng mô hình
 


tn học có thể giúp chúng ra đối pvới thế giới vt cht, nhưng nó ít liên quan (và chc chn kng đy đủ), khi nói đến cuộc sng của chúng ta - để theo dõi và điu chỉnh hành vi cá nhân và trong xã hội.

Đó là một sự tht lớn lao. Tht kng may, bởi vì nó kng giống với định lut chuyn động của Newton - chúng ta có khuynh hướng đánh mt nó - một sbt lợi của chúng ta. Tt cả cũng khá dễ dàng, chúng ta bị cuốn vào nhng suy nghĩ máy móc, quyết đn, xa lánh, bằng cách nào đó tôi là chính tôi bởi vì DNA của tôi, và bởi vì cách các loài phát trin, và nếu tôi suy nghĩ tôi trải nghim một cuộc sng có cht lượng cao (nói theo một cm xúc”), thì đó là một s o tưởng - hai loại hóa cht vừa hòa ln vào bộ não của tôi. Chúng ta phủ nhn, tù túng chính mình. Hoch định tm nhìn mang tính quyết định của chúng ta lên môi trường vt cht và xã hội, thì chúng ta to ra cho chính mình một thế giới kỹ thut, mà giả định rằng loài người thiếu tác dụng, và vì vy đm bo họ sẽ thiếu nó. Cuối cùng, chúng ta xem đây là trt tự tự nhiên của mọi thứ.

Đây là một vn đề cho tt cả chúng ta. Nó đã dn dn đặt ra cho chúng ta từ xa xưa.

Kể từ ln bt đu đu tiên của văn minh, sự thay đổi vvăn hóa và xã hội gn lin với cái mà chúng ta gọi là khoa học và công nghệ hin nay đã cho thy loài người đã mt liên hệ với nhng quá trình trải nghim và trở nên ít có khnăng đưa ra nhng lựa chọn khôn ngoan ngay lp tức. Sự thoái hóa này đi cùng với nhng tiến bộ mà chúng đã thực hin trong vic kim soát ngn hn môi trường vt lý - nhng gì từ một khía cnh của sự tiến bộ dường như xut hin từ một góc độ khác là thoái lui. Chúng ta bị chia r, và sự chia rẽ đó trở nên đáng chú ý - bây giờ nó đang đe da stồn tại của loài người chúng ta, thực slà tn bộ sinh quyn.

Vn đề là, chúng ta đã c gắng quá sc. Chẳng hn như, người châu Âu đã có một cuộc đu tranh ngay từ đu để thúc đy mọi người áp dụng Phương pháp khoa học được ban cho, vì vy bt buộc họ phải từ bỏ tt cả mọi thcòn li. Bây giờ, trên tn cu nhng người có học thức kìm nén khía cnh chủ quan của thực tế sng, và khi làm như vy, chúng ta hủy hoại khnăng uốn nn cuộc sng của chính chúng ta.
Đphát trin xã hội công nghip và tiêu dùng, chúng ta từ bỏ
 


nhng khnăng này (nhn thức và thể cht, tự nhiên và điu kin, đo đức và tôn giáo), mà qua lịch sử trước đó đã từng được sử dụng để ngăn cn chúng ta kng làm hại chính mình, vì vy chúng ta đang phá vỡ nhng rào cn. Bên ngoài, điu này xy ra trong cuộc khng hoảng sinh thái. Cơ bản hơn, chúng ta đang khám phá rằng có nhng giới hn đối với khnăng thích ứng tâm lý của chúng ta.
    1. Bối cảnh ngn hạn: nhng cuộc cch mng và tính phi thường.

Nhng người đang lèo lái sphát trin của chúng ta thường nhn thức mp mờ về điu này, mặc dù hiếm khi kng muốn thừa nhn một cách công khai. Điu này có thể giúp giải thích tại sao họ quan tâm đến nn công nghip 4.0

Nhng tư tưởng của khoa họcđã từng thường xuyên khuyến khích sphủ nhn nhng gì mà hu hết mọi người đếu biết đến như nhân loại - nhưng điu này đang din ra trên quy mô lớn. Như đã biết, nhân loại chính thức kng còn phù hợp với mục đích, kng có khnăng thích nghi với nhng thay đổi nhanh chóng, chúng ta bây giờ đang bị thay thế bởi các lại máy móc gn như con người với trí tuệ nhân to (AI). Thực sự, chúng ta bị biến đổi bỏi sự tương tác gn gũi hơn và mãnh lit hơn một cách liên tục với nhng robot này. Kết lun li, đó là nn công nghip 4.0

Dường như có một sgiải pháp. Có l, chúng ta kng cn quá căng thẳng để duy trì dự án khoa học kỹ thut của chúng ta - thay vào đó, chúng ta có thể chuyn giao trách nhim cho máy móc mà chúng ta đã nỗ lực to ra. Thay vì phải vt lộn để thích nghi chính mình với môi trường máy móc, chúng ra bây giờ skhiến máy móc thay đổi chúng ta một cách trực tiếp.

Cuộc cách mạng ng nghip lần thứ nht kng có gì tvị - nhng nmáy ti tăm và tàn áctri dài trên đt lin, trong khi, nhng đứa trsuy dinh dưỡng đang tự đào cho mình nhng ngôi mti tàn. Cuộc cách mạng ng nghip thứ hai liên quan đến đin, hóa cht và dây chuyn sản xut, chng minh vẫn n n ào
- cn một ct xao ng, nhân loi đã sẵn ng đm hu hết mi th, vì vy đã gây ra Thế Chiến. Cuộc cách mạng lần thứ ba, với máy tính và internet, đã cung cp nhiu thứ lấp lánh nhưng kng có giá trị, nhưng nhng câu chuyn vtrm cm và sri lon phân ly skng biến mt và vcách kết hợp đin thoi thông minh/truyn thông m giảm khả năng tri nghim của chính
 


cng ta.

Xã hội tiêu dùng tn cu đã lôi kéo nhiu người cuộc sng như một chuỗi các thnghim/kho sát trc nghim. Tuy nhiên, bây giờ điu này dường như kng còn đủ, thay vì quyến rũ, giờ là lúc bt buộc mọi người. Chào mng đến với nn công nghip 4.0

Cho đến bây giờ, nhng nỗ lực của chúng ta để định lượng nhng quy trình xã hội, để gim thiu chúng thành một trò chơi mà chúng ta có thể thắng, để liên hệ đến một số loại trao đổi giữa các cá nhân. Khi một khách hàng gọi đến trung tâm hỗ trợ, hay khi Facebook quyết định đăng tải nhng video của h, con người được liên hệ với nhau - dù cho bị phân tâm môi trường máy móc của mỗi các nhân, tuy nhiên dù sao đi na, họ cgắng để giao tiếp với nhau. Bây giờ, kng còn na, đây là lúc để cho sự tương tác giữa con người và máy móc rng rãi. Hoặc, có lẽ nên là tương tác con người
- máy móc. Dn dn, máy móc được lp trình để chủ động hơn, để to ra nhưng sự thay đổi vhành vi được mong muốn - nhng thay đổi trong hành vi của chúng ta, hành vi của người dùng. Điu này có lẽ đặt con người dưới áp lực theo cách mà ban đu kng ai có thể nhn ra, chứ đừng nói là hiu.

Khi mà cuộc sng của chúng ra mở ra nhiu trong thế giới của thut tn, thì chúng ra chỉ quan tâm đến mình hơn, buồn chán và khó tính. Ở cp độ vĩ mô, xã hội của chúng ta kng giải quyết được nhng bt thường nổi bt trong tài chính, hệ sinh tháiNó như thể một cuộc khng hoảng tâm lý tp thể đang din ra.

Vì vy nhng lời hoa hoa msự độc nht. Hướng tới bước ngoặt của thiên niên k, nhng nhân vt nổi tiểng trong IT đã bt đu tự hỏi sự tiến hóa nào có thể cho con người. Cho là nhng thành tựu đã đt được, họ mong muốn nhng điu lớn lao, chúng ta stồn tại theo một nghĩa hn tn mới, trí tuệ và trừu tượng.

Kho chứa trí tuệ được to ra bởi nhng bộ não được liên kết với nhau qua Internet, có thể bằng cách nào đó có một cuộc sng riêng cho minh. Hoặc, với vic sử dụng hợp lý di truyn học, AI, cy ghép chip, thực tế o (VR) và nhng gì có, bạn và chúng tôi có thể hướng đến sự tiến hóa của chúng ra để to ra một chng tộc siêu phàm mới. Trong bt cứ trường hợp nào, một bước nhy về tiến hóa mnh mẽ là vin cnh - một sự độc nht.
 


Suy nghĩ ngây thơ này đã được nung nu ở thung lũng Silicon và vn có nh hưởng đáng k. Mọi người đã bình lun nó giống như trào lưu - học thuyết Kyto giáo của Rapture, theo đó các tín đồ chân chính sẽ đột nhiên bị bt vào thiên đàng để chun bị cho ln tái sinh thhai của Chúa Kyto. Tht thú vkhi hai hệ thống nim tin bổ sung cho nhau - giống như nhng kđp phá kinh thánh tưởng tượng cơ thể của các tín đồ bị cướp khỏi xe của họ khi đang lái, vì vy trào lưu kỹ thut mong chờ ngày khi tâm trí của họ sẽ bị thu hút vào thiên đường cơ học như con người theo một cách kng thể tưởng tượng được. Giống như các tín đồ bỏ lại phía sau nhng gì đã từng trong tâm trí của h, thay vào đó được lp đy với tinh thn thiêng liêng, vì vy nhng người xut chúng skng còn vướng vào thân. Rõ ràng, có một điu gì đó cn làm với thân-tâm.
    1. Nhng Sự Phát Trin Hin Tại

Thut ngnn công nghip 4.0” được Klaus Schwab - một nhà kinh tế học người Pháp phổ biến, người có tinh thn hot động đằng sau Din Đàn Kinh Tế Thế Giới. Mô trằng:

tập hợp ca.. trí tunhân to (AI), robot, internet vn vt (IoT), xe tự lái, in 3D, công nghnano, công nghệ sinh hc, khoa hc vt liệu, lưu trữ năng lượng và điện toán lượng tử…”
Chúng ta được biết, cuộc cách mạng này,
không đòi hi gì hơn là mt cuc biến đi ca loài người.”
Giáo sư Schwab nói rằng:

nền công nghiệp 4.0 mt cách cơ bn đang thay đi cách chúng ta sống, làm vic và liên hvới nhau.”

Công thức cuối cùng tht hp dn. Nó gán một cơ quan vào một thực thể trừu tượng. Chúng ta được biết thực thể này sẽ thay đổi chúng ta một cách cơ bản và được mời để chp thun. Nó gn như là một công thức tôn kính.

Schwab kng nghi nggì nữa mà tuyên bố rằng đây chỉ là hình thức tu từ, và sự tht rằng ông y chỉ đơn gin tuân theo nhng nguyên tc thông thường mà chúng ta phải thích nghi với môi trường chúng ta. Tuy nhiên, một ssự cải tiến công khai rõ ràng của nguyên tc đó là bằng chng ở đây.
Môi trường được cho rằng thay đổi với khnăng phát trin của
 


kỹ thut, vì vy chúng ta kng còn lựa chọn nào khác, ngoại tr đi theo đến bt cứ nơi nào nhng cải tiến kỹ thut mới nht có thể dn đến. Sphát trin của nhng kỹ thut mới được xem như một tiến trình tự din ra. Nó kng phụ thuộc vào sự lựa chọn của con người - cũng như sự lựa chọn của người phát trin ra nó, hoặc của người đu tư và chỉ đo nó. Đây là cách chúng ta hiu chính mình khi đu ng cơ chế con người trước một sự trừu tượng như nn công nghip 4.0 - đối với nhng nhà tư tưởng như Schwab, sự hiu biết khoa học vượt qua ngoài ý muốn của chúng ta. Nó mở ta theo động lực của chính nó, và công nghệ tự động theo sau.
Dĩ nhiên, có một vài stht trong này. Cũng có một scường điu. Các nhà nghiên cứu hàng đu, làm công vic như ban đu,
thường bt ngvkết quả các câu hỏi khoa học của họ - và nếu như
vy, họ đi theo đến nới mà các skin mới được tiết lộ dn dến. Và,
đúng như vy, trong cùng thời gian, hu hết các nhà khoa học làm
vic theo đơn đặt hàng từ các nhà tài trợ.

Nhng nhà tài trcó thể yêu cu phân bổ ngân sách một khách quan, tức là phù hợp với sự đồng thun phát trin khoa học (điu mà một ln nữa được nói theo sau nơi nhng phát hin dn đến) - và điu này có thể đúng trong một vài trường hợp. Tuy nhiên, thông thường sự đồng thun phn ánh quá trình chính trị trong các t chức chuyên nghip, mà ngược lại phn ứng lại nhng áp lực bên ngoài từ vũ đài chính trị lớn hơn, hơn tt cả từ lợi ích doanh nghip. Thậm chí, nhng nhà nghiên cứu gii nht, nguyên bản nht cũng có thể bị hn chế - như khi Barbara McClintock bị cm tiếp tục công trình vcác yếu tố di truyn vn động, công trình đã nhn được giải Nobel 30 năm sau đó.

Nếu ngay cả công vic chúng ta phân loại như là khoa học thun túy kng chỉ theo sự tht, thì chúng ta có thể tưởng tượng có khá ít trường hợp khi nhng phát hin khoa học được áp dụng để phát trin nhng hệ thống và thiết bị kỹ thut mới - nhng sn phm thương mai. Trong cuộc n lun về nn công nghip 4.0, quá trình này cũng được cho là tự động, chỉ tuân theo nhng lựa chọn của con người - chúng ta có một sphm vi điu khin nhng nguồn lực một cách tự động thúc đy cuộc cách mạng, và để bù đp cho một shu quả kng mong muốn, nhưng trong chính, chúng ta đơn gin phải tuân theo logic của thị trường.
 


Giống như khoa học, nn kinh tế được khái nim hóa như một động lực tuân theo nhng lut lệ vốn có, kng thay đổi được và hướng chúng ta theo một cách hiu quả dù muốn dù kng - một sự tuân thủ quái d, mà giữ nhân loại trong thế giới của nó. Tương tự như vy, nn công nghip 4.0 bt đu trông giống một một vị thnng ti, tim năng có ích nhưng lại đáng sợ.

Chúng ta đã có một sbáo trước về nhng gì chúng ta trông đợi. Như chúng ta được biết, hồi cuối của cuộc cách mạng công nghip ln thứ 3 là sra đời đồng thời của đin thoại thông minh và truyn thông xã hội. Có bằng chng rằng sphát trin đã nh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tinh thn của thế hệ phát trin sau đó.

Chúng thiếu cm giác của sự tự chủ - hay ho mà. Tiếp tục từ đó, dường như chúng ta nuôi dưỡng con người ngày càng có ít khnăng thân mt, và vì vy to ra nhng thế hệ sau, (một bình lun đáng chú ý trên cơ srằng truyn thông xã hội slàm cho nhng người có ng chí hướng dễ dàng kết nối với nhau hơn). Sphát trin của từ sơ sinh dường như là trt tự của mỗi ngày.

Do đó, vn đề được tiết lộ dường như vn còn chính xác hơn khi chúng ta đọc rằng nn công nghip 4.0 kng chỉ được nhìn nhn như một động lực độc lp, bên ngoài thực thể con người, mà tht sự theo quan đim phổ biến,

nhng cách mới sdụng công nghệ để thay đi hành vi, đưa ra khnăng trgpnhng môi trường tự nhn

Nhng người điu khin tiến trình này rõ ràng muốn tt cả chúng ta nm bt sự thay đổi được áp đặt bởi các máy móc n tự động, máy móc một phn như con người - bằng cách này, họ hy vng khiến cho mọi người chp nhn nhng cải cách được bt buộc to ra từ hệ sinh thái. (Điu này có một số đim chung với câu chuyn máy bay kng người lái).

Sự thay đổi trong trin vng được trình bày như là kng theo ý muốn, được đưa ra theo lịch sử. Tt cả đu được khuyến khích tham gia nhng bộ óc tốt nht để làm cho nó hot động. Đlàm cho nó hot động, đu tiên chúng ta phải vượt qua nhng kkhăn trong vic chp nhn tiến trình được xác định trước nhng skin, sau đó chúng ta hướng khnăng của nn công nghip 4.0 vào vic tái thiết nhân loại theo nhng cách đúng đn, theo nhng cách qun lý phù
 


hợp. Chương trình này to ra vô khối đu ra cho phương tin truyn thông, như nhng gì xoay quanh vic ra mt một thiết bị đin tử mới chỉ lớn hơn.

Điu gì thực scó vn đ, đằng sau sự hỗn độn? Skết hợp hin tại của sn phm cao cp AI và qun lý được tp trung nói đến, (có thể nói, nn công nghip 4.0 ở dạng phôi thai) phục vụ để ngăn chúng ta với một sgiả định kng có căn cứ.
  1. đời sng con người là
  2. một sn phm của các yếu tvt cht, và vì vy
 
  1. được xác định bởi nhng động lực từ kinh nghim của chúng ta; và
  2. nhng động lực đó thúc đy một quá trình tiến hóa
 
  1. vì vy, nhng ssp xếp vxã hội và kinh tế hin tại gn chúng với mức cao nht - hin trạng là đỉnh cao của:
  2. quá trình của nhân loại thông qua nn văn minh
  3. quá trình tiến bộ của trí tuệ thông qua khoa học
viii. quá trình phát trin của vt cht thông qua kthut/công nghip. ràng rằng mi thnhư chúng đang là bởi vì chúng phi như
vy, ng giống như chúng ta. Theo đó, chúng ta được định sn để
tri qua nhng gì mà nn công nghip 4.0 đang u trcho chúng ta.

Đó là câu chuyn. Chúng ta hãy xem xét trong ánh sáng của truyn thống Đạo Pht - và xem xét cách nhân loại có thể học hỏi từ khía cnh này.

Sau đó, chúng ta có thể xác định hệ tư tưởng đã được xác định đang giữ tt cả chúng ta trong tình trạng kkhăn kng? Nếu chúng ta cgắng làm theo và mô phỏng suy nghĩ của đức Pht, chúng ta thm chí có thể ct xén nó hn tn kng?
  1. CHÚNG TA CÓ THỂ HC ĐƯC GÌ TỪ TAM TNG KINH ĐIỂN?
    1. Nhận xét chung
      1. Nhng nguồn kinh đin truyền thống

Hệ tư tưởng về thuyết quyết định lun vkỹ thut đã n đi quyn lực của các mô hình kinh kế và chính tr. Điu này giúp giải thích tại sao nn công nghip 4.0 được mô tả như sự tht, một điu gì đó
 


bên ngoài chúng ta mà chúng ta phải phn ứng li. Tuy nhiên, vn đề đó là ý nghĩa thứ cp.

Đúng là mọi người thao túng và khai thác ln nhau và nn văn minh khuyến khích điu này. Tương tự, ssng còn là một s bt buộc mnh mẽ hơn bt kì điu gì - và, khi nn văn minh con người đt đến đim đỉnh đim này, tt cả chúng ta theo nhiu cách đu nhm ln tương tự về cách mà chúng ta muốn tồn ti. Điu này áp dụng với cả người bị khai thác và người khai thác.

Nn công nghip 4.0 là một dự án xã hi/chính trị/kinh tế, tùy thuộc vào con người, phục vụ cho nhng lợi ích riêng bit và phn ánh nhng thái độ và giả định cụ th. Cùng lúc đó, nhiu giả thuyết liên quan cũng ăn sâu vào suy nghĩ của mi người - chúng đu phổ biến cho tt cả mi người.

Sẽ tht hữu ích khi nhn thy nhng giả định đó, và khi cn thiết để tách chúng riêng ra. Truyn thống của đức Pht mang đến nhng nguồn tài nguyên mà chúng ta có thể sử dụng để làm như vy
      1. Ngôn nghọc

Để đối pvới nhng thách thức của nn văn minh, đức Pht tp trung vào các trạng thái của tâm. Điu này đã dn đến sự quan tâm vngôn ngvà cách nó có thể làm chúng ta nhm ln.

Vic sử dụng ngôn ngữ định hình cách chúng ta suy nghĩ, và cách chúng ta trải nghim cuộc sng của mình. Nó thường khuyến khích chúng ta chia tách thực tế thành nhng thực thể riêng r, vt và người với nhng phm cht cn thiết (chúng ta giả định) đồng nht và tồn tại và có thể dựa vào. Thực thể nguyên mu là “tôi” - tôi nghĩ bản thân mình là trường tồn, cố định, kng thể suy gim, một đim độc nht của thế giới, một bước ngoặt để điu khin. Nhng thực thể khác sau đó dường như theo cùng khuôn mu.

Nếu chúng ta đặt tên cho một thứ, chúng ta cho rằng chúng phải tồn tại theo cách vt cht này. Đức Pht là một nhng người đu tiên trong lịch sử đưa ra rằng đây có thể một vn đề (Lão Tvà đồ đệ của ngài có thể được so sánh)

Có phải tt cả mọi người trong mọi thời đim đu phải chịu ng nhng ràng buộc này? Có l, kng chính xác. Xem xét nhng người sng cách đây hơn hai ngàn năm, vào thời kỳ đức Pht - họ có thể kng quá tp trung vào các thực thể quá cố định.
 


Ít nht điu này có vẻ hợp lý trong quan đim về nhng gì chúng ta biết về cách sử dụng ngôn ngữ của h. Chúng ta có nhng bản lưu trữ tiếng nói từ cng đồng ngôn lun n - Aryan thời đó. Nó đến với chúng ta trong nhng bài kVĐà.

Ngôn ngVĐà so sánh một cách nổi bt với ngôn ngPali. Nó mnh về hình thức lời nói, và nó quá đa nghĩa, tượng trưng và liên tưởng, thơ ca và hình tượng. Vào thời của Pali, nhng quy ước vvic sử dụng ngôn ngđã thay đổi đáng k, và trở nên ít huyn o hơn, nhiu cu trúc, kng quen thuộc từ thời kì trước, là phổ biến và ngôn ngữ nhìn chúng rõ ràng và dễ hiu hơn. Phân loại nhị phân có cũng nhiu bằng chng hơn.

Điu này có ý nghĩa: Các dân tộc VĐà đã có một cuộc sng du mục, ứng biến, chăn nuôi gia súc và tìm kiếm thức ăn, nhưng Magadha/Kosala trong thời kì đức Pht đã trở nên định cư và có t chức hơn. Hsử dụng kim loại để khai hoang rng, làm thủy lợi, vì vy sn lượng tăng nhanh chóng, với dân số thì cũng xp xỉ - cơ s nhà nước và hệ thống qun lý dĩ nhiên cũng phát trin. Mọi người tp trung vào khai thác môi trường vt cht và xã hội để làm giàu. Nhng tiến bộ kinh tế đáng kể đi kèm với siêu hình học thực th, được phn nh trong ngôn ngvà quá trình suy nghĩ. Đây là tình huống mà đức Pht đã chỉ ra. Ngôn ngữ trở nên kém thích nghi với nhu cu phi vt cht của con người.

Trong bối cnh đó, một sngười muốn từ bỏ nhng thành ng thực tế trong cuộc sng đương đại hàng ngày và thay vào đó để phân tích nhng bài kinh V Đà huyn diu. Đức Pht hiu rằng nhng người đó đang đánh lừa chính mình, vì rằng shuyn diu đó đã kng còn nữa - bt cứ điu gì đã từng xy ra một ln, bây giờ nó chỉ còn là một ý tưởng.

Dường như đối với h, chỉ còn lại một điu để nói nhng gì bạn có, nói nhng gì bạn có thể - và kng gì hơn na. Sự im lặng truyn tải nhiu ý nghĩa mới là điu quan trng.
      1. Nền văn minh, duy vật và nhng i kinh thực tế

Ở một khía cnh nào đó, người dân trong thời đại đức Pht dễ dàng so sánh với người VĐà tin nhim của h. Nn văn minh đang phát trin mnh ở thung lũng sông Hằng lịch sử.
Mặc dù, có một sđánh đi. Ngôn ngữ của htiết lmột thế giới
 


vt cht n là quyn lực, thc ththay vì quá trình, cđịnh thay vì quan hdthay đi - một thế giới của nhng mi quan hxác định, hu như là máy c thay vì tương tác, thương lượng và cá nhân.

Sau đó như bây giờ rõ ràng rằng, nhiu người cm thy thực tế thuộc về bên noài. Nó tuân theo quy lut của riêng nó, độc lp, và nó chi phối cuộc sng của chúng ta, vì vy vai trò của chúng ta là phù hợp với nó, để theo đuổi lợi ích cá nhân ở mức độ vừa phải nht có th.

Sau đó như bây giờ, suy nghĩ này gợi lên nhiu phn ứng ln lộn. Mọi người sẽ tuân thủ theo một mức độ thực tế, hu như kng cn thiết phải nghi nggì - dân svới mt độ như thế này có thể tự duy trì chỉ nếu như mọi người tuân thủ theo các chương trình, vì vy sphát trin xã hội - kỹ thut hu như là ưu tiên hàng đu. Cùng lúc đó, thị trường cho tâm lý trị liu, duy trì tinh thn hay nhng gì có mà bạn bùng nổ - vì vy chúng ta có thể suy lun rằng, mọi người đang cm thy căng thẳng như ngày nay.

Tt cả có vẻ hin đại một cách kì l. Trường phái nguyên tử (Āvikas) và nhng người khác phản ánh một bầu kng kmạnh mẽ của tư duy về thuyết tin định. Nn vt chính của kinh TTúc (Pāyāsi Suttanta) là một nhà duy vt tự nhiên, cứng rn - nếu được tái sinh trong thời đương đại California, người ta có thể hình tượng vy như là người qung bá mạnh mẽ cho nn công nghip 4.0.

Để duy trì năng sut và lợi ích của người tiêu dùng, ý tưởng chung là giữ sự tiến bộ của nn văn minh - và điu này có nghĩa gim thiu rối lon tâm thn cá nhân và tp th, và giải quyết nhng gì có thể gim thiu được. Ngược li, điu đó có nghĩa là phát trin nhng kiu suy nghĩ và hành vi mới, và nhng câu chuyn theo khuôn khổ mới, nhng cách mới để nói và suy nghĩ về bối cnh của cuộc sng con người.

Trong nhng din văn công khai, hai thái cực hòa trộn vào nhau. Chúng ta thy chúng ở n Đ.

Có nhng nhà lý lun và người thực thi quyn lực - là nhng nhà duy vt rõ rt. Sau đó, chúng ra cũng thy nhng nhà duy tâm, nhà tư tưởng trừu tượng, suy đn theo phong cách VĐà.

Đức Pht tuyên bố nn tảng trung đo. Xem xét một cách cn thn, mục đích tht sự của họ là làm suy yếu tt cả các bài kinh.
 
 
      1. Chống chnghĩa nhị nguyên thực tế.

Con đường trung đo (majjhima-patipadā) xut hin trong bài kinh Chuyn pháp luân (Dhammacakkappavattana), bài giảng đu tiên của đức Pht. Đức Pht khuyên nên tnh thái cực của vic hưởng lc và hành xác.

Đó là bối cnh cho nhng cách sử dụng khác, chẳng hn như trong mối liên hệ với đoạn kiến và thường kiến. Nó kng chỉ là v cách bạn hiu về thế giới, mà nó là về cách chúng ta tự xử lý.

Đúng là có nhng khía cnh lý thuyết cho nhng giáo lý này, đức Pht muốn nói rằng chẳng hn như luân hồi giữa một kiếp sng này và một kiếp sng khác, kng ngụ ý cho một cá thể tiếp tục, và điu đó là một đim khá lý thuyết, và trong cùng một thời đim, trong thực tế đim mu chốt kng phải là để quá tự đc hay hạ b. Thỉnh thoảng, cuộc sng của bạn skiến nghị rằng thế giới là để cho lợi ích vĩnh cửu của bạn, thỉnh thoảng kng gì đáng để dựa vào - và ng kng sự thúc đy nào giúp ích. Nếu bị kéo quá vào một luồng suy nghĩ, bạn có lẽ xem xét cái khác để mà hướng vcon đường trung đo.

Thực tế, trong mọi sự tương phn như thế giữa duy vt và duy tâm, cả hai đu bị từ b. Vì vy sự lựa chọn là giữa chúng - kng s lựa chọn nào có thể áp dụng và sự chọn lựa là vô nghĩa. Nhưng dù sao, nó là một câu hỏi thực tế, kng phải về triết học. Nó kng phải thiên về một vài cuộc tranh lun là đúng hay nhng các khác là sai - mà nó thiên nhiu về cách suy nghĩ giúp chúng ta ở trong một tình trạng tốt trong tâm trí của chúng ta. Đáng để tnh các thói quen có tính khái nim mà kéo chúng ta vhướng mà chúng ta kng muốn đi đúng cách - thay vào đó, phát trin nhiu thói quen có ích.

Cách tiếp cn cơ bản của đức Pht có thể được áp dụng một cách rng rãi. Nó mở rng cho tt cả các tương phn nhị nguyên.

Thông thường, ngôn ngữ của chúng ta hu hết khiến chúng ta suy nghĩ theo hai trạng thái logic, và điu này to ra căng thẳng (mà có thể được giải quyết phn nào bằng các chọn một bên, nhưng phải đánh đổi bằng cách mc vào cái by nhị nguyên). Kng có ích để giả định như thế này, trong một cuộc tranh lun, một bên phải đúng và còn lại phải sai. Khi nói đến vn đề quan trng, kng phải cả người theo chnghĩa thường kiến hay đoạn kiến là đúng, đó là
 


cách sng chúng ta có thể học hỏi từ đó.

Đó kng phải là điu mà chúng ta có thể dễ dàng xác định bằng ngôn ngữ tham chiếu và hin thị. Nếu bạn thích, nó là một tiêu chun định lượng mà mọi người đu ngm ý thức và cgắng áp dụng. Chúng ta gọi nó là pháp.

3.1.5 Chống thuyết tiền định


Vn đề của suy nghĩ về thuyết tin định được kết nối. Nếu mọi thứ được quy định bởi quyn lực bên ngoài và vt cht, thì ở một đim nào đó nhng quyn lực này có thể ngng áp dụng, vì vy chúng ta nghĩ đến đoạn kiến.
Mt người nh động, mt người khác tri nghiệm (hu qu)
Đau khđược tạo ra bi mt người nào khác (n là người chu đau kh) Nếu chúng ta cân nhắc như vậy, nó giống như tin vào đoạn kiến.
Điu này cho thy tại sao suy nghĩ về thuyết tin định thu hút chúng ta. Nó đưa ra cái cớ cho vic thiếu tự tin làm cho chúng ta xa lánh cuộc sng của chính mình, kng thể chủ quan sng theo nhng kinh nghim nht thời của mình. Kng quan trng chúng ta làm gì, chúng ta bo chính mình - kng gì có thể thay đổi (sđau khổ của tôi). Điu này dường như phn nh một xã hội mà trong đó mọi người cm thy thiếu kim soát cuộc sng của h.

3.2.Thuyết nn quả trong đạo pht

3.2.1 Tính kết nối
Trong kinh Tương Ưng, phm 2 bài 25, chúng ta đọc rằng:

c Như lai xuất hiện hay không xuất hiện, giới này (đạo lý này) vốn thường trú, đó là tính an trca pp (pp tr tánh), tính quyết đnh ca pp (pp vtánh), và tính y duyên (tương y tương duyên).
Nhng bình lun của Kalupahana

Không có sự trùng hợp ngu nhn, mi vic trên thế giới đều do duyên khởi và duyên sinh.

Chc chn, đoạn kinh này cho thy nhng kinh nghim của mình kng bị cô lp, mà thay vào đó tt cả đu liên kết với nhau theo nhng cách phức tp. Đó kng phải chính xác là nhng gì chúng ta đang n đến. Thay vào đó, nó tp trung nhiu các pháp.
 


Pp là một thut ngphức tp. Mt cách sdụng quan trng là trong kinh Kinh Nim X, đặt ra bốn giai đon trong thực tp thin được gi Sati. Pháp là những gì nh gitp trung trong giai đon th4.

Vì vy, nó dường như kcó lẽ rằng chúng ta kng giải quyết nhân quả ở đây theo bt kì nghĩa nhân quả nào. Trong tài liu Pali, chẳng hn như phép n dụ cơ bản cho các mối liên kết là tự nhiên.

Chging như mt ht ging, khi được gieo trên cánh đng sẽ phát triển nếu nó được cung cấp đđất và độ m, vì vậy 5 uẩn tổng hp, 8 xứ và 6 gc quan xuất hiện như mt nguyên nhân và biến mt khi nguyên nhân bị hy diệt.

Nguyên nhânlà một bản dịch được chp nhn của Pali ở đây - và tuy nhiên đt và độ m kng cn thiêt nhng gì chúng ra có thể suy nghĩ một các truyn thống như nhng nguyên nhân cho sphát trin của một ht giống. Chúng là điu kin, mà dựa vào đó nhng nguyên nhân khác vn hành, cái mà có thể xut phát từ phân tử và chức năng của tế bào.

Một đim mà chúng ta có thể học được từ điu này là quan hệ nhân quả một cách cơ học như quả bi-a là một trường hợp đặc bit. Sau đó, có một phm trù rng hơn về tính liên trên nhân quả mà trường hợp đặc bit này có thể nm trong đó.

3.2.2. Chuỗi duyên khởi:

Xem xét nhng dạng thức truyn thống,
Nếu cái này tn ti Thì cái kia tn ti i này phát sinh Thì cái kia phát sinh i này không tồn ti
Thì cái kia không tn ti i này diệt
Thì cái kia diệt.

Cái này như thế, thì cái khác din ra. Nó cho rằng nhng skin liên kết thành chuỗi. Điu này ngụ ý ?
Có phải nó mang hàm ý cho một tư duy khép kín”? Có phải
 


đức Pht quan tâm đến tình huống mà tt cả chúng sanh đu bình đẳng, một nhân tố được thêm vô có thể chịu trách nhim cho s thay đổi cho một nhân tmục tiêu. Kng, đó rõ ràng kng phải là sgiải thích nhân quả mà đức Pht đưa ra.

Trường hợp động lực khoa học là để tách bit nhng nguyên nhân cụ th, đức Pht xem xét nh hưởng chồng cht như thế nào, vì khi ni sư Sela nói rằng cơ thể phát trin chỉ khi một chuỗi nhân quả din ra cùng lúc, vì vy bạn kng thể tách bch một cách rõ ràng cũng như xem xét các yếu tvà động lực.

Công trình của đức Pht quan trng hơn là mọi người nên quan sát theo nhng chuyn động tinh vi của tâm mình (để nó kng bị xao nhãng). Mối liên hệ nhân quả trong tình huống này slà nếu một hành vi nhn thức bình thường có khuynh hướng to ra nhng trải nghim kng có ích. Hiu nó có thể giúp chúng ta tnh rơi vào hành vi đó - nếu bạn chú ý khi hành bi đó bt đu, sau đó bạn skng bị rơi vào by của nó. Vì vy, vn đề ở đây là kng phân tích làm thế nào nhng hành vi thế này thế kia có thể to ra hu quả như thế, chỉ để tnh nhng hành vi có lẽ kng có ích.

Công thức kinh đin cái này có có thể được hiu mà kng có mối liên hệ nhân qu.
Trong khi i này tồn ti Thì cái kia ra đời
Sau khi điều này xuất hiện Thì cái kia xuất hiện
Chng nào điều này không còn tn ti Thì cái kia không còn
Sau khi cái này tan rã Thì cái kia cũng tan rã
Tuy nhiên, nó thường được nhìn nhn như một ví dụ của tư duy nhân quả nâng cao. Kalupahana là tiêu biu ở đây.
Xem xét bình lun của Ngài trong kinh Tương ưng nói rằng: Do vô minh duyên hành
Vy nói rng
 


Nhân quhay nhân (paticcasamuppada), như được mô tả trong kinh Tương Ưng, là đng nghĩa với mi liên hnhân quả, chng hn, giữa vô minh ((avijjā) và hành (sankhāra). Mối liên hnhân quđược cho là có bn đặc tính.
  1. Tính khách quan (tathatā),
  2. Tính cn thiết (avitathatā),
  3. Tính bt biến (anñathatā,),
  4. Tính điều kiện (idappaccayatā).

Có phải ở đây đức Pht đang nói nhân quả trong nghĩa hin đi? Thậm chí ngài đang trình bày vic phân tích thế giới? Hay ngài đang đưa ra nhng lời chỉ dn làm thế nào để giải quyết thái độ và k vng của con người? Một cách khác để hiu đoạn kinh này là: tt cả hành của chúng ta quay trlại cách mình kng còn hiu biết (v nhng gì đang xy ra với chúng ta). Đó là nhng gì chúng ra gọi là duyên khởi - nó xy ra theo cách đó, nó kng xy ra khác, và kng có gì khác xy ra.

Điu này dường như kcó thể là về mối quan hệ nhân quả trừu tượng. Tuy nhiên, phương pháp khoa học vn còn tồn tại và tốt đp Magadha/Kosala trong nhng ngày này. Kinh Pāyāsi mô tả một bài kim tra Popperian vvic liu rằng linh hồn có tồn tại trong con người hay kng. Đây là một xã hội ngày càng được qun lý và tiến bộ khoa học kỹ thut, vì vy nhng mô hình nhân quả cơ học thịnh hành - chúng thm chí đã xâm chiếm lãnh vực triết học/tâm lý/tôn giáo, khi chúng ta thy trong kinh Sa môn quả (Sāmaññaphala), nơi nhng giáo lý của nhiu vị thy trích dn tp trung vào ý tưởng quan hệ nhân quả trải dài. Một số chp nhn điu này, nhng người khác phn đối. Một vài người nói lut nhân quả nghiêm ngặt quyết định nhng gì xy ra với h, và cách họ phn ứng - đối với nhng người khác, tuy nhiên cách mọi người hành xtốt hay xu kng có nh hưởng đến vic họ làm tốt như thế nào.

Theo Trung đo, Đức Pht phn đối vic chia tách sai lm. Đối với chúng, quan hệ nhân quả vt cht/cơ học đu rt tốt nhưng kng quá quan trng. Điu quan trng theo họ đề nghị là hiu nhân quả có thể giúp một người sng cuộc sng hn tn tỉnh thức trong mỗi khoảnh khc.
Đó là một điu có thể đt được skim soát mang tính công cụ
 


đối với nhng hn cnh bên ngoài. Đó là một cách khác để phát trin khnăng phục hổi tâm lý bằng cách cân nhc trạng thái tâm lý trong sự tỉnh thức hoản tn về cách mà chúng phát trin.

Bn nhìn vào nhng gì đang có. Nó din ra theo cách đó (tathatā), vy tại sao lại chống lại nó, phàn nàn nó là ngu nhiên hay gian ln. Thay vào đó, chúng ta có thể nhìn vào cách nó xy ra (avitathatā anaññathatā), và đặc bit nhìn vào chúng ta có thể học hỏi được gì từ đó.
  1. KẾT LUN

Theo quan đim của Đạo Pht, đim mu chốt trong chuỗi nhân quả là phá vỡ chúng. Nguyên nhân kng phải là một đu vào riêng bit, có thể đo đếm được cho một hệ thống, chẳng hn như có thể được áp dụng để to ra một kết quả riêng bit. Thay vào đó, nó là một skết hợp của nhiu nhân t, kng đo đếm nhưng có sn để trải nghim, điu mà một người có thể đề png và tác động li.

Giáo pháp liên tục hướng về cùng một đim - con người có lực tác dụng, nếu họ chỉ có thể nghĩ một hướng. Kng e ngại bị buộc tội vì nhng tranh lun xoay vòng, Đức Pht cũng bin minh rõ ràng cách tiếp cn của mình một cách chính xác trên cơ sở đó - chúng ta có thể biết điu này phải đúng vì nó để lại phm vi cho tác lực của con người.

Bây giờ, chúng ta đi mặt vi schuyn động mnh m, tn cu đlp đy cuộc sng của chúng ta vi robot và suy nghĩ mang tính robot (nn công nghip 4.0). Làm thế nào chúng ta hiu điu này?

Đầu tiên, chúng ta hãy nghĩ về nhng người đang thực hin chiến dịch này. Hđã có ước mơ, nhưng nó chưa hiu qu, vì vy bây giờ họ đang thúc đy mnh m.

Chế độ kỹ thut thân thin với doanh nghip được cho là công thức kì diu. Đột ngt, công thức kng hot động na. Hlàm gì, các nhà kỹ thut và bạn bè kinh doanh của h. Hshãi và cgắng hơn nữa - có một khía cnh tuyt vng trong câu chuyn về nn công nghip 4.0.

Số tin lớn đã lên tiếng, vì vy một điu gì đó sxy ra, nhưng kng ai biết câu chuyn sẽ din ra như thế nào. Mọi người có thể nói về nn công nghip 4.0 một lúc nào đó, nhưng mang câu chuyn này với nhiu ý nghĩa.
 


Chúng ta đang giải quyết vn đề gì ở đây? Mọi người đang tr nên quá tp trung vào vic hiu biết ám nh, phi văn hóa về các quá trình văn hóa, xã hội và kinh tế.

Nếu bạn thích, bối cnh họ thiếu là thực hành. Hoặc nếu bạn thích, nó là cách mà chúng ta vượt qua trngại để giải quyết với sự buồn chán, kit sức, ác quỷ và thm chí kng may mn. Hoặc, đó là sự hiu biết rằng một kế hoch hn ho kng còn tt, trkhi mọi người sẽ đi cùng với nó.

Nhng nguyên nhân và kết nối quan trng là nhng gì mô tvà nh hưởng cách mọi người thực shành xử, bt kể lý do hợp lý đã đưa ra của h. Sng thực tế quan trng hơn nhng phân tích trừu tượng.

Nhng nguyên nhân và kết nối quan trng nht là nhng cái khiến bạn vp ngã, nhng cái bạn có thể phá vỡ. Mặc dù, có thể vic phải làm là để phá vỡ chúng.




***






TÀI LIỆU THAM KHO
 
  1. Arnason, Eisenstadt & Wittrock (2005) Axial civilization and world history Brill Leiden
 
  1. Crick,  F.H.C.  (1994).  The  astonishing  hypothesis:  the scientific search for the soul.
  2. Dawkins, R. (1976) The selfish gene. Oxford University Press
 
  1. Duhem P.M.M (1906). La Théorie Physique. Son Objet, sa Structure. Chevalier & Rivière Paris
 
  1. Eisenstadt et al (1986) The Origins & Diversity of Axial Age Civilisations - SUNY Press New York
 
  1. Jaspers  K.  (1953)  The  Origin  &  Goal  of  History  Yale University Press
 
  1. Kalupahana DJ (1975) Causality: The Central Philosophy of Buddhism University Press of Hawai
  2. Lanier, J. (2010)You are not a gadget Alfred Knopf New Your
  3. Noble, D. (2006) The Music of Life Oxford University Press
 
  1. Schwab K (2016) The Fourth Industrial Revolution WEF Geneva

11. Spangenburg, R and Moser. D.K.(2008) Barbara McClintock Chelsea House, New York

12. Wilson, E.O. (1975) Sociobiology Harvard University Press

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây