3 LÃNH ĐẠO BẰNG CHÁNH NIỆM ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC AN LẠC BỀN VỮNG

Thứ năm - 09/05/2019 02:26
GS. TS. Binodini Das
37




 
LÃNH ĐO BNG CNH NIM ĐỂ ĐT ĐƯC AN LC BỀN VỮNG

 

GS. TS. Binodini Das



TÓM TT

Theo quan đim của đo Pht, Chánh Nim biu thị cho Chánh Định. Chánh nim là một trong nhng yếu tố chđo của trí tuệ Bát Nhã vBát Chánh Đạo. Vic thực tp chánh nim sáng suốt và đúng đn dĩ nhiên sphát trin kĩ năng lãnh đo, làm cho con người sng ở trong hin tại và vì vy họ có thể tp trung một cách có kỷ lut để thực hin mọi thứ. Trong slãnh đo có chánh nim, người ta slãnh hội được cách thức để tp trung nhng nguồn dự trữ nội tâm thông qua nhng phn ứng có chánh nim trong bt k hn cnh nào khi nó xy ra. Lãnh đo có chánh nim hướng đến vic đt được nn hòa bình bn vng bằng cách chm dứt xung đột bo lực và các vòng lun qun của sai lm. Lãnh đo có chánh nim còn giúp tăng năng sut, trong vic ra quyết định, lắng nghe và gim mức độ căng thẳng liên quan đến sphát trin của trí tuệ cm xúc, hình thành stp trung, phát trin khnăng tự ý thức cũng như lòng trc n. Để hn tn giải png khỏi nhng hoài nim, tiếc nuối và lo lắng, huyn hoc trong tương lai phát trin khnăng định tâm để đối pvới thử thách, Chánh nim là công cụ đc lực đt được bằng thin định, bằng hơi thở, yoga, bộ hành, âm nhc. Hin nay, các công ty tn quốc cũng như đa quốc gia như Google đang xem trng vic phát trin slãnh đo chánh nim nhm đt được môi trường hoà bình bn vng.

Tóm li, cn hiu rõ rằng kĩ năng lãnh đo có chánh nim rõ ràng sgim thiu tính tham, sân, si, ghen ghét, bo lực, tính vô cm và sự tiếc nuối. Điu này slà một tác nhân quan trng thúc đy sự hoà bình bn vng.
 


Từ khóa: Judicious, Skill, Discipline, Conflict, Cycles, Meditation, Breathing, Development, Avarice, Jealousy, Violence

1. GIỚI THIỆU

Một vn đề đang được quan tâm sâu sc về tình hình tn cu hin nay là tình trạng bi quan đang thịnh hành ở hu hết các quốc gia trên thế giới, đang bị đe da bởi chiến tranh ht nhân, bùng nổ dân s, tht nghip, ô nhim môi trường và kích thích liên tục các giác quan, v.v ... Đây là tình huống Pht giáo mô tả như nhng “Nội trin và ngoại trin, Chúng sanh bị trin phược(Silva, 1986, tr.12). Nhân loại bị trói buộc vào nhng tham luyến như vy. Cũng giống như tre và thích bị vướng vào nhng srối rắm của bụi tre, nên cả nhân loi, được biết đến như nhiu tầng lớp chúng sinh khác, bị vướng mc, bị mê hoc, bị lôi kéo vào cm giác thèm muốn đó (Tin, 1922, tr.1-2). Ái dục (taņhā) là nguyên nhân sâu xa để đánh mt an lc. Mục tiêu cuối cùng của mỗi cá nhân là hướng đến một đời sng An lc, biu thị một cuộc sng hnh phúc, hoà ái, vui sướng và nim vui mà kng gp bt kỳ trngại và can thip bởi một số cm xúc cơ bản kng cn thiết nào. Nhng cm xúc cơ bản này là sáu con slàm nn lòng tâm trí con người, làm xáo trộn sự bình yên của nó, khiến nó bồn chồn: vô minh, tham luyến, sân, kiêu hãnh, nghi ngờ si mê và nhng quan đim lch lc. Đây là nhng trạng thái tinh thn, kng phải là hin tượng bên ngoài.

Mục tiêu:


Mục tiêu chính của bài viết này là tho lun về lý do tại sao mỗi chúng sinh phải cgng m cho bn tn phù hợp với snh đo cnh nim theo cách của Pht giáo: Nỗ lực để đt được mục đích đt ra là ? Bng cách nào vic nh đo bng cnh nim được thực hin để tiêu trtt cả các thế lực tiêu cực m cho thế giới phải chịu đựng nhng đau kh, vướng mc, xung đột và tình trng rối ren, v.v .: và, cách thực nh của jhāna (thin ch) và vipassanā (thin quán) smang lại sự cân bng trong cơ thể và m trí để có thể thực nh nh đo cnh nim.

Phương pp lun:


Đviết bài này, hu hết các tài liu Pht giáo đã được tham kho như là nguồn tham kho chính với phân tích quan trng và đánh giá
 


trọn vn. Bên cnh đó, sách và các bài báo được xut bản trong các cuốn sách, tp chí, nghi thức và tp chí khác nhau được tư vn hết sức cn trng. Ngoài vic đến thăm các kho lưu trữ, bo tàng và thư vin khác nhau, chúng tôi cũng đã gp một sngười là nn nhân của nhng hn cnh bt thường khác nhau: ly d, cha mẹ đơn thân, nhng người thit mạng do u đ, nghin ma túy, nhng cuộc cãi vã ny sinh từ nhng chuyn vt vãnh dn đến nói xu ln nhau, v.v.

Tho lun:


Vic tiêu trhoặc loi bcác lực lượng bt lương và mt tập trung này cn trđđt được hòa bình bn vng có thđược thc hin thông qua slãnh đo cnh nim. Chánh nim được đánh giá tcác quan đim của Pht giáo biu thcho Stập trung đúng đn/ Chánh nim, một trong nhng tnh  phần chính củPrjācủBát cnđoThc ncnnim đúng đn gp con người được gii thoát khi nhng lo lng, phin não, áp lực và phát trin kng lãnh  đo  khiến  con người phản ng nhanh n vi mi ththách và nhđó có thể làm mi vic vi stập trung klut n. Trong lãnh đo cnh nim, người ta shọc cách vn dụng sc mạnh ni ti thông qua cnh nim phản ng vi bt ktình huống nào khi nó khởi lên. Lãnh đo cnh nim gp đt được hòa bình bn vng bng cách chấm dứt xung đột bạo lực và các chu klun qun lp đi lp li. Lãnh đo cnh nim gp ng ng sut, trong vic ra quyết định, lng nghe và gim mc đcăng thẳng liên quan đến sphát trin của schú ý và tập trung xây dựng trí tucm xúc, ng cường tnhận thc và sthu cm, v.v.

Tâm trí con người theo bản năng là đi tìm sự bình yên. Vic vic đi tìm sự hòa bình slà một điu xa vời nếu kng có skim soát tuyt đối trong suy nghĩ, trong lời nói và hành động. Tht kng khôn ngoan khi nghĩ rng kim st suy nghĩ là một điu thuộc vPhương Đông, hay Pht giáo. Nghiên cu vPht giáo có nghĩa là nghiên cu vbn cht ca tâm. Thay vì tp trung vào một sđng ti cao nào đó, Pht giáo nhn mạnh nhiu vấn đề thiết thc hơn, như m thế nào đhòa nhp tâm trí ca cng ta và m thế nào đgicho cuộc sống hàng ngày ca cng ta được an lc và khỏe mạnh (Yese, ed. Ribush, 1998, tr.7). Pht giáo kng nên chđược coi là một tôn giáo mà nó phi được coi
 


là tri thc kinh nghim - trí tuệ được làm giàu với triết học, khoa học hoc tâm lý học hơn là một số quan đim giáo điu.

Khi giải thích về nhng gì đang khiến một người đàn ông bt ổn, Đức Pht rt coi trng vic xét đn tâm trí của một người với trí tuệ tri thức nội tâm, điu đó skhiến người ta hiu rằng cm xúc cơ bản của anh ta là trung tâm của bản ngã. Tht kng khôn ngoan khi từ bỏ mọi shữu để vượt qua bản ngã. Shữu kng bao giờ làm cho cuộc sng kkhăn. Quá nhiu chp trước vào vt shữu là nguyên nhân sâu xa của sphin não: bản ngã và chp trước làm ô nhim tâm trí của con người, làm cho nó kng rõ ràng, kng biết gì và bị kích động, và ngăn ánh sáng của trí tuệ phát trin. Giải pháp cho vn đề này là thin. Thin là trạng thái cnh giác của tâm và trí tuệ làm cho con người nhn thức được mọi khoảnh khc của cuộc sng, ý thức đy đủ về nhng gì anh ta đang làm, và tại sao và làm thế nào anh ta đang làm vic này. Đây là một trong nhng giai đoạn phát trin slãnh đo chánh nim vì hòa bình bn vng.

Đto ra lòng tốt yêu thương đối với bạn bè, cha mẹ và đt nước, điu cn thiết là phải biết bản cht đc trưng của sgn bó và các đối tượng của nó. Làm tổn thương cha mẹ hoc bạn bè là do trạng thái tâm trí vô thc. Khi hành động trong sự tức gin, người tức gin hn tn kng biết gì về nhng gì đang xy ra trong tâm trí của mình. Giữ ý thức trong suy nghĩ của riêng mình, hành động và hành vi mang lại nim vui, hòa bình và hnh phúc to lớn cho bản thân và nhng chúng sinh khác: kng nhn ra được chính thái độ và tinh thn của chính mình làm mt tính người. Đức Pht dy rằng mọi người nên trở thành một nhà tâm lý học bằng cách cgắng biết tâm trí của chính mình vì mỗi con người đu có khnăng hiu được tâm trí của chính mình. Khi đã hiu thì điu khin tâm trí của mình theo tự nhiên. Trước khi làm bt cứ điu gì tâm trí nên được thm vn với ba câu hỏi, đó là, tại sao tôi nên làm điu đó? Tôi slàm điu đó bằng cách nào? Nguyên nhân là ? Vì vy, sự hiu biết vtâm trí với tính phân tích pphán và đánh giá giúp người ta dễ dàng giải quyết các vn đ. Nếu kng có vn đề có nghĩa là thúc đy hòa bình bn vng.

Vào cuối thp kỷ thhai của thế kỷ 21, thế giới bên cnh sphát trin vn còn hơn 3 tngười (gn 1/2 dân số thế giới) sng trong nghèo đói và hơn 1,4 tngười sng trong nghèo đói cùng cực và
 


hàng ngàn trem chết đói mỗi ngày. Với sự chăm sóc y tế và thuốc tiên tiến, thế giới hin tại đang chng kiến cái chết của mười một triu người mỗi năm do kng được điu trị đúng cách. Điu kl là nhân danh vic thúc đy các công nghệ phát trin hơn, thế giới đang cn kit nguồn lực kinh tế của mình trên các hành tinh khác trong khi by triu trem chết đói mỗi năm và 800 triu người bị suy dinh dưỡng nghiêm trng (Bodhi, 2000, tr.8). Tình trạng này khiến chúng ta hình dung ra thế giới hin tại đang phải chịu đựng vô src rối như thế nào.

Đgiải quyết nhng vn đề này từ các quan đim của Pht giáo kng phải là vội vàng đưa ra kết lun mà là điu tra các nguyên nhân cơ bản ở tt cả các cp đ, và tiếp tục cho đến khi đt được nguồn gốc sâu xa nht. Các vn đề xoay quanh xã hội, chính trvà tình hình kinh tế cn được mổ xẻ ở tm vĩ mô, để có thể đưa ra cách đối xử đúng đn và hợp lý để chữa lành vết thương vĩnh vin, hay nói cách khác là đt được hòa bình lâu dài hoc bn vng. Bodhi (2000, tr.9-10) tin rằng hip ước, giao thức, nghị định thư và bin pháp hiu quả kng phải đủ để chống lại các vn đề thách thức: Nghị định thư Kyoto (1977), Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khu (1993), và Tha thun Paris về biến đổi khu (2016), về các vn đề nóng lên tn cu: ngay cả khi, lực lượng cnh sát hùng mnh và cứng rắn cũng kng thể ngăn chn sxut hin của tội phm và bo lực: và cho đến nay, vic kim soát buôn n ma túy hiu quả hơn có thể kng kim tra được tình trạng nghin trong giới tr. Các bin pháp như vy thực scó thể là bin pháp bo vệ thiết thực chống lại các din tiến ngày càng nghiêm trng của các vn đề mà họ dự định skhc phục, chúng có thể có hiu quả ngn hn, nhưng chúng kng đm bo các giải pháp dài hn. Nhng gì họ có thể thực hin là điu trị thm m, các bin pháp ngăn chn kng nên được thực hin để sự thay thế cho các bin pháp khác chỉ có thể hot động ở cp độ sâu hơn của nguyên nhân gốc r.

Theo quan đim của Pht giáo, nguyên nhân sâu xa thực sđằng sau tt cả các vn đề nhức nhối như vy là do tâm kng kim soát được khiến cuộc sng của con người bị kích động và kng yên ổn. Tâm kng được kim soát giống như một căn bnh ác tính ăn mòn sức sng và khiến cuộc sng trở nên độc hại từ mt trận kinh tế xã hội đến các vn đề chính tr. Vì Pht giáo dy tt cả chúng sinh đu
 


bình đẳng, nên kng thể nói rằng, “Ngài kng là gì cả; Tôi đc bit. Điu này mang lại ô nhim xã hội thm chí nguy him hơn ô nhim môi trường. Loại cm giác như vy làm cho con người có khuynh hướng căng thẳng hơn và anh ta kng thể thư giãn hoc ngủ đúng cách mà kng có sự trgiúp của thuốc an thn. Mối quan hệ giữa các cá nhân đã trở nên dễ vvà dễ bị tổn thương đến mức tỷ lệ ly hôn càng ngày càng cao đến mức đáng báo động, do đó phát sinh một lot các vn đề xã hội như tr em kng nơi nương tựa, tội phm vị thành niên, tự tử, v.v. Vì vy cuộc sng trở thành gánh nặng và một giải pháp để làm cho cuộc sng trở nên dễ chịu hơn và thú vị hơn là cp thiết (Silva, tr.1).

Đối với sphát trin của snh đo cnh nim, Đức Pht giải thích về bốn thú vui được hưởng tt cả trong Pattakammavagga của Ańguttara Nikāya (A.N. II, 69) rt hữu ích và phù hợp với các vấn đề thời nay. Bốn loại thú vui là: atthisukha, nim vui có của cải vt cht; booseasukha, nhng thú vui từ shưởng thụ của cải vt cht; ananasukha, nhng thú vui kng nợ nần: và, annavajjasukha, nim vui của svô ưu. Con người phải to ra nghip lực thích hợp để tận hưởng nim vui gp bốn lần này. Trong một bài thuyết pp (A.N., VI, 63). Đức Pht đã nói Ý định là nghip. Khi con người có ý định, con người snh động thông qua cơ th, lời nói và m. Mỗi nghip đu có một vipāka. Kamma-vipāka có nghĩa là nn quả. Vipāka của nghip phi đo đức hu như là kphá hủy hòa bình bn vng ở một mt và mt khác, nó ngăn cn sphát trin của snh đo cnh nim. Do đó, vic thực nh bộ quy tc đo đức của Pht giáo, pañchīla (Năm giới)*, mang lại shài lòng đáng kvề một cuộc sng thin lương.

Đức Pht đã nói với chúng ta vhai siêu năng lực luôn cgắng cứu loài người khỏi thế lực đen ti. Đó là Hīrī (lương tâm) và Ottapa (stôn trng của chúng ta đối với người khác), hai phm cht sáng sa, cm giác xu hổ và slàm sai, bo vệ thế giới (dve sukka dhamma lokam palenti-A.N.II, 9). Điu cn thiết là phải khc sâu hai deva dhamma này (Hiri và Ottapa), luôn được tìm thy qun quanh trong sâu thm của tâm lý con người, chúng len li vào để ngăn chn nhng kẻ chmưu độc ác to ra nhng đau khổ của chúng ta và âm mưu phá hủy thế giới của chúng ta: điu này sgiúp phát trin lãnh chánh nim để mang đến hòa bình bn lâu cho thế
 


giới chúng ta. Svp ngã lớn nht làm cho quán tính Hīrī và Ottapa là Arī (thiếu lương tâm) và Anottapa ((thiếu tôn trng) và có s hin din của chúng quy nhiu sự bình an của tâm. Tuy nhiên, sự hin din của appamāda (Chú tâm), vīrya (skết hợp của năng lượng và sati (chánh nim), ba người bạn tuyt vi, phục hồi Hīrī và Ottapa về trạng thái trước đây được coi là nn tảng của tt cả các đức hnh. Sati (chánh nim) là sự hin din cnh giác của tâm, được trau dồi mnh mẽ trong thực hành thin định, cho phép con người nhn thức rõ hơn về trạng thái tinh thn của một người, bao gồm cả ý định và động cơ, Nó được bổ sung bởi sự hiu biết rõ ràng, ch thể hành vi để hướng dn hành vi thực tế của con người hòa hợp với lý tưởng và mục tiêu của con người (Harvey, 2000, tr.11).

Nguồn gốc của shủy dit hòa bình là nghip của tâm xut phát từ lobha (tham lam), dosha (hn thù) và moha (si mê) kng lành mnh và đáng trách. Điu này có thể làm phát sinh sự thèm muốn, ác ý và quan đim sai lm. Sgin dữ (patigha /kodha), ghen tuông (issā)), kng khoan dung (akkhanti), vô minh (avidyā), hành vi sai trái và nim kiêu hãnh (māna), v.v., dn đến nhng đau khổ v tinh thn và thể xác theo nhng cách khác nhau bt đu từ bnh tt tinh thn. Đây là nhng phn đề cho sphát trin của lãnh đo chánh nim vì hòa bình bn vng, Để chống lại các lực lượng tiêu cực này, tu luyn các phương thức hành vi cao siêu như mettā, (ng tốt yêu thương), karuņā (từ bi), Mudita (nim vui cm thông) và upekkhā (trầm tĩnh) một sự cn thiết tuyt đối để to ra một bu kng khí thun lợi cho sphát trin của lãnh đo chánh nim. Nó kng phải là cp bc cũng kng phải là sgiàu có, mà là hành vi cao nht dựa trên đo đức tt, thin chí, trí tuệ và tâm trí được đào to đúng đn làm cho con người thun khiết hoc đo đức (Kindred sayings, trang.46).

Một con người với ba điu kin nn tảng to nuôi dưỡng stp trung (trí tu) và ssáng suốt (trực giác) trở nên đủ năng lượng để đốt cháy hn tn nhng vn đề tiêu cực (Tin, 1922, tr.4). Khi con người mong muốn chọn lựa lãnh đo chánh nim cho hòa bình bn vng phải được đào to với trí tuệ và sáng suốt: trí tuệ có ba loi; trí tuệ bẩm sinh, sáng suốt và giữ gìn trí tu, duy trì mọi chức năng. Tin (2000, tr.4) trong bản dịch của ông vTaraaghosasVisuddhmagga nhn mnh rằng hòa bình bn vng có thể được thiết lp nếu một
 


người dựa trên nn tảng đức hnh nâng gươm trí tuệ sáng suốt cũng được mài giũa với stp trung, trí tuệ gp ba, được hỗ trợ bởi sức mnh của năng lượng và nhit tâm cgắng xóa tan mọi trngi: Ông là người đàn ông phù hợp để mang đến slãnh đo chánh nim cho xã hội và tn cu. Tnh stn tụy cực độ đối với nim vui của nhục dục, tự tử và thực hành khóa giữa (Ashtāngikamāgga) là nhng công cụ tuyt vời để đm bo hòa bình vĩnh cửu.

Sgia tăng của trụy lc, áp bức, bóc lột, gia đình trvà báng b, v.v., sẽ bị tiêu dit hoc tuyt chng bằng các bin pháp rèn luyn đức hnh, stp trung và trí tu. Đức hnh có bốn khía cnh; ý chí, tính cht tinh thn, skim chế và kng vi phm. Một người có đo đức là hin thân của slãnh đo chánh nim. Bởi vì đức hnh trong anh ta tiêu dit sgian ác, tnh xa li lm và cm giác xu hổ và shãi của sự đổ lỗi. Ưu đim của một người đức hnh là anh ta có được sgiàu có, danh tiếng, sự tự tin tuyt đối, vn kng bị khut phục; và, chết mà kng đổ li và hối hn.

Trong bài kinh Sīlanāda Sutta, Đức Pht hướng dn một nhóm các học viên thực tp chánh nim trong tt cả các khía cnh của hin ti, theo sát bản năng của chính h, với phm vi của tổ tiên. Ngài nhn mnh rằng nhng suy nghĩ và ham muốn o tưởng s kng tìm thy chỗ đứng, chỉ bằng cách nuôi dưỡng nhng skin lành mnh hoc kushala mà đức tính này sđào sâu và phát trin. Nói chung, điu này dường như có nghĩa là khéo léo làm sáng tỏ thực tế của tình hình tn cu hin nay của chúng ta, như nó đã xy ra, và đáp ứng với nhng thực tế này thông qua /trong sự duy tôn skhôn ngoan, sự tinh thông có chủ đích và srõ ràng vđo đức (Hershock, 2006, tr. 83). Đây là cách duy nht để đối phó một cách có ý nghĩa và giải quyết rc rối và đau khổ lâu dài.

Trong kịch bản hin ti, phương tin thông tin đại chúng đại din cho nhiu giá trị trung tâm kng chỉ đối với nghip kinh tế xã hội hin tại của chúng ta với khuynh hướng chính tr, mà còn cho nhng thói quen và lý tưởng cơ bản nht của chúng ta về tự xây dựng. Chỉ trích các phương tin truyn thông là chỉ trích chính chúng ta và nghip cá nhân và cng nghip (Hershock, 2006, tr.86). Phương tin truyn thông đại chúng có thể được sử dụng cho cả nghip lực xây dựng và phá hoi. Phân tích từ các quan đim của Pht giáo, dự kiến rằng các phương tin truyn thông, thay vì được
 


sử dụng để thúc đy sng vực và thù hn nên được sử dụng để thúc đy sự hiu biết và khoan dung ln nhau hoc nói cách khác, hiu ứng truyn thông phải đủ năng động để thuyết giảng giáo lý Pht giáo vsphụ thuộc ln nhau và tính kng để thúc đy tinh thn lãnh đo chánh nim cho hòa bình bn vng dựa trên ssùng bái bt bo động, hòa hợp ln nhau, tình yêu, sự cm thông, lòng trc n, từ thin, v.v.

Thế giới hin tại đang chng kiến sphát trin của chnghĩa khng bố tn cu do hu quả của mô hình tn cu hóa và ph thuộc ln nhau theo hướng công ngh. Nhưng, như lời hùng bin của nhiu nhóm khng bố cho thy rõ, khng bố tn cu kng chỉ được thực hin bởi sphụ thuộc ln nhau và các hệ thống công nghệ đã phát trin như một chức năng của quy mô hin nay và tỷ lệ tn cu hóa đương đi, nó cũng là một phn ứng - người ta tìm cách phá vỡ mô hình hin tại trong vic phân phối và qun lý quyn lực thông qua vic truyn sshãi có tính tn và rõ ràng kng giới hn vào phm vi công cng tn cu. Khng bố thường được sử dụng để biu thị một cái gì đó giống như hành vi bo lực được tính tn phi lý như một phương tin để to ra khng b, một cách có ý thức và nhn tâm, giữa nhng người vô tội để đt được mục đích tôn giáo hoc chính tr. Khng bố sẽ được chống lại thông qua slãnh đo chánh nim được xây dựng theo cách Pht giáo thực hành Bát chánh đo, Pañchīla và quy y Pht, Pháp và Sagha.

Chữ Đức Pht biu thị cho một người đóng vai trò là Tái khám phá và người thy giải png sự tht và là hin thân của nhng phm cht giải png được phát trin bởi nhng người khác. Đức Pht chỉ có thể đánh thức một người từ nhn thức rằng Tt cả cuộc sng chỉ là một gic mơ”; Đức Pht là tri thức, và tt cả kiến thức là sphán xét, và mọi phán xét là công vic của năng lực phán xét, và do đó là một hot động của lý trí (Grimm, 1958, tr.25-26). Do đó, giáo lý khoa học vPht này là một Tôn giáo của lý lun và làm cho con người đủ tim năng để to ra slãnh đo giác ngộ cho tn nhân loại và tn xã hội. Giáo pháp được miêu tlà bổn phn dựa trên đo đức và chun mực để được tuân theo bởi một và tt cả kng phân bit đẳng cp, tôn giáo tín ngưỡng, tuổi tác, giới tính và đa v: nó bao gồm sphân bit hành vi dường như đối với cha m, giáo viên, Śramaņas, Brahmanas, khành kht, vợ, chồng, con cái, người
 


thân và quen biết, chủ, người hu, nô l, bạn bè, người quen, họ hàng, người cai trvà bị cai tr, v.v., nó dy cho nhân loại rằng thực hành bnh ttmà kng có bin pháp nào trong stt cả chúng sinh sphát trin slãnh đo chuyn hóa trong họ hướng dn nhân loại đt được hòa bình bn vng. Samgha đại din cho sự thống nht (aikya), tính tn vn (nisthā) và sự hòa hợp ln nhau to ra một cm giác bình đẳng như nhau khuyến khích để cáo sbt hòa, chia r, tranh chp, bt đồng, lun án phát sinh trong cuộc khng hoảng danh tính.

Dhammapada cho rằng sự thù hn kng bao giờ chm dứt bởi sự thù hn trong thế giới này”: chỉ bằng skng thù hn thì chúng mới có thể chm dứt. Đây là lut cxưa. Lobha(Tham), dosha(Sân) moha(Si) là ba dính mc căn bản, như lời Đức Pht, và từ đó ny sinh các mâu thun dn đến mt hòa bình, an lc của con người (Nyanponika, 1978, p.50). Nếu bị dính mc vào một trong ba vn đề này, con người cgắng nm bt cơ hội với chi phí của người khác dn đến căng thẳng và xung đột. Vic quá dính mc vào các đối tượng vt cht làm ny sinh mâu thuẫn: nim vui, tài sn, lãnh th, sgiàu có, sự thống trvkinh tế hoc ưu thế chính tr. Mong muốn có nhiu thú vui giác quan hơn, dn đến mâu thun giữa tt cả mọi người, bao gồm cả nhng người cai tr, và do đó cãi nhau và chiến tranh. Nyanponika (1978, tr.239) tin rằng ngoài sự tham lam thực sự, thiếu thốn vt cht được coi là một nguồn xung đột chính.

Ngày nay, thế giới, chc chn đang phải chịu đựng mối đe da từ các cuộc chiến từ nhng quan đim khác nhau. Để tnh chiến tranh, Đức Pht đề nghị mỗi người phải có quyết tâm kng được gây tổn hại có chủ ý hoc giết chết bt kỳ chúng sinh nào, dù là trực tiếp hay bằng cách thngười khác.; để thực hành lòng nhân ái và từ bi; và thể hin sự tuân theo con đường chánh nghip, một yếu tố của Bát chánh đo đến Nirvāņa, ngăn cn vic kiếm sng theo cách gây đau khổ cho người khác. Trong số các hình thức được lit kê cụ thể của hành động kng đúng thì sng bằng buôn n vũ k(A.N., V, tr.177). Chiến thắng gây ra hn thù; Kẻ chiến bại sng trong đau kh, Hnh phúc là cuộc sng hòa bình, từ bỏ chiến thắng và tht bại (SN, I, tr.83). Các văn bản Mahāyāna nhn mnh rằng các bên tham chiến phải cgắng giải quyết vn đề của mình bằng cách thể hin lòng tốt và từ bi để hòa giải bt hòa với đối phương
 


và đt được tha hip sng hòa thun. Trong Dhammapada (Dhp: Th, tr.223), người ta nói rằng chinh phục sự tức gin bằng tình yêu, chinh phục cái ác bằng cái thin, chinh phục skeo kit bằng cách cho đi, chinh phục kẻ nói dối bằng sự tht: Một người, chinh phục hàng ngàn người trên chiến trường có thể là một chiến binh vĩ đi, nhưng kng phải là một người chiến thắng thực sự; anh ta thực slà một người chiến thắng cao quý khi chinh phục chính mình. Chiến tranh và xung đột sẽ được lảng tnh bằng cách cho đi lòng nhân ái. Lòng trc n, nim vui đồng cm, sự bình tĩnh, nhn nhịn, từ bỏ sự tức gin và bo lực (Harevey, tr.243-252).

Tự tử đang trở thành một hin tượng phổ biến của thế knày. Nhng người phải chịu nhiu kkhăn như căng thẳng, lo lắng, tht bi, mt cân bằng tâm lý, nguy him, chia ly, v.v., có thể tự sát với hy vng một điu gì đó dễ chịu hơn sau khi chết; nhưng kng có gì đm bo rằng vn đề có thể kng trở nên tồi tệ hơn bởi hành động của anh ta. Tự tử kng chỉ lãng pcơ hội này cho bản thân mà còn tước đi nhng lợi ích của người khác mà người tự tử có thể mang lại cho h. Tự tử được xem là một nỗ lực để phá vgiới lut đu tiên của Pañchīla, tức là kng giết/không bo lực; Giết chính mình cũng giống như giết một người khác. Mahā-Kassapa nói rằng nhng người đo đức kng tìm cách thúc đy sự chín muồi của nhng gì chưa chín muồiNgười ta có thể nói thêm rằng, ngay cả đối với một người kng có đo đức đc bit, tự tử là một hành động smang lại đau buồn cho bạn bè và người thân, và vì vy, nếu kng có lý do nào khác thì cn tnh (Harvey2000, tr.287).

Phn đu để đt được tinh thn ‘Lãnh đo chánh nim cho Hòa bình bn vng, người ta phải phát trin lòng tốt (kalyāņa) như một người bạn có stôn trng và tuân phục tuyt đối. Thiên hướng chánh nim và chu đáo đối với lòng tốt rõ ràng sgiải thoát một người xu xa và khỏi mọi kiết sử, tức là vô minh, tham ái, tham lam, hn thù, ghen tuông si mê, gin dữ, bo lực, v.v. Rời khỏi trạng thái gông cùm này, con người trở nên thun khiết và kng bị tiếp tục nhim bẩn. Sự thun khiết thực snày (Visuddhi), một khi đã đt được, slàm phát sinh một sự bình tĩnh và an nhiên thực sự, kng bị nhiu lon, xung đột và dn vt. Trạng thái tự do khỏi áp bức và hỗn lon này được Đức Pht gọi đơn gin là hòa bình ānti), đó là sự tĩnh lặng và an nhiên trong mọi tình huống, gn giống như
 


Nivāņa (Bhikku, 1956, tr.93). Theo nghĩa khác, Nirvā có thể được giải thích theo hai cách; kng có bt kcông cụ tra tn nào, và, tuyt chng mà kng để lại gì. Bhikku (1956, tr.93), hơn na, giải thích rằng Nirvāņa có hai ý nghĩa rt quan trng; Thứ nht, kng có bt knguồn dn vt và đốt cháy nào, tự do khỏi mọi hình thức kim ta và ràng buộc và thhai, tuyt chng, kng có nhiên liu để phát sinh thêm đau kh. Skết hợp của nhng ý nghĩa này cho thy một sự tự do hn tn khỏi đau kh.

Nirvāņa có thể xy ra khi người ta nhn ra giá trị của cái nhìn sâu sc vào bản cht thực sự của svt (điu kin thế giới và vn vt) và bằng cách tuân theo một hệ thống tp trung và thực hành sáng suốt có tổ chc. Vic thực hành phát trin s sáng suốt bằng phương pháp tự nhiên là có thể thực hin trong mọi hn cnh và mọi lúc khiến cuộc sng của chúng ta trở nên thun khiết và trung thực đến nỗi ny sinh nim vui tinh thn kế tiếp (pitti và pamoda), bình tĩnh (passaddhi), bản cht nguyên sơ của svt (yathābhūtañānadassana), sbt mãn (nibbidā), rút lui (virāga), thoát khỏi (vimutti), thanh lọc khỏi phin não (visuddhi), và hòa bình tự do khỏi đau khổ (nibna) và trạng thái bình thn (śānti), vì vy chúng ta có thể có cm giác ung dung tự tại giữa mọi khổ đau (nibna).

Đphát trin trạng thái giác ng, điu cn thiết là thực hành jhāna, đó là sự thực hành của tâm, được gọi là thin định, đưa tâm ra khỏi các phn ứng tự động đối với các phn ứng giác quan, và dn đến trạng thái thư thái và nhn thức hn ho (upekkhi-sati- piirisuddhi). Vic thực hành śīla, samāddhi và pyā, tâm trở nên ổn định, gn như, tự nhiên đối với vic thực hành dhyāna, điu này củng csphát trin của các trạng thái thư thái, dn đến upekkhā (bình đẳng) và chánh nim. Theo Buddhaaghosha, thut ngjhānacó nguồn gốc từ động từ jhāyati, nghĩa là suy nghĩ hoc suy tưởng, trong khi động từ jhāpeti, đốt cháy, giải thích chức năng của nó, cụ thể là đốt cháy các trạng thái đối nghịch, đốt cháy hoc phá hủy tinh thn phin não ngăn cn sphát trin của sự thanh thn và sáng suốt. (Gunaratana, 1995, tr.4). Jhāna/Dhyāna được đánh đồng với stp trung, một trạng thái của một shp thvề một đim trong đó có một nhn thức gim dn về môi trường xung quanh. Trong truyn thống Pht giáo Nguyên thủy sau này, đã phát
 


trin phong trào Vipassanā trong đó trạng thái tâm lơ đãng này được coi là kng cn thiết và kng có lợi cho sự thức tỉnh, mà phải đt được bằng chánh nim về thân và vipassana (tuệ giác vô thường). Thực hành Vipassnā kng phải do đức Pht dy, nhưng được phát trin bởi nhng giáo viên sau này. Loại thực hành này phù hợp với nhng người ở giai đoạn khá phát trin, nhng người vn kng thể cm nhn được skng tha mãn của stồn tại trần gian bằng chính đôi mt của h. (Bhikku, 1956, tr.96). Tr cột sáng lp của vipassanā là đo đức và stp trung. Vipassanā có nghĩa là ssáng suốt rõ ràng, và đề cp đến tm nhìn kng bị che khut có thể phát sinh khi một người Tâm trí đy nim vui và không có bt kphin não nào. Nim vui phát trin khi có strong sch vđo đức (Śīla vishuddhi); đo đức là một điu kin tiên quyết (Rathavinīttasutta, Majhima Nikāya., tr.24) Có by sthanh lọc được thực nh bởi các học viên: Tinh khiết đo đức, Tinh khiết tinh thần, Tdo khi những quan đim sai lầm, Tdo khi nghi ng, Kiến thức và vnhững gì là con đường cn chính, Kiến thức và tm nhìn vs tiến bdọc theo tiến trình (Kiến thức vsphát sinh và qua đời, Kiến thức vsra đi, Nhận thức vsshãi, Nhận thức vnguy him, Sbt n, mong muốn tdo, Đấu tranh đtrn thoát, Vô định và Sn ng nhận thức vTdiu đế), Kiến thức đy đtrc quan.

Bhikku (1956, tr.98) gii thích rng stinh khiết đo đức là hành vi không có li bng thxác và lời nói. Chng nào còn bt kskhông hoàn ho nào vcơ thhay lời nói, thì đo đức theo đúng nghĩa nghĩa là thiếu. Khi nó đã được hoàn thin, nghĩa là khi đt được syên tĩnh ca các hot động và lời nói ca cơ th, kết qulà syên tĩnh vtinh thn, dẫn đến các giai đon thanh lọc tiếp theo: tdo khi hiu lm, tự do khi nghi ng, hiu biết như Con đường phi tuân theo và nhng gì không phi tuân theo, kiến thc và tm nhìn vstiến btheo Con đường này và cui cùng là sthu hiu trc quan đy đ. Năm giai đon cui cùng to thành vipassnā thích hợp. Thanh lọc tâm trí và hành vi chỉ đơn thun là li vào con đường ca vipassaā.

2. KT LUN

Ngày nay, một scông ty đa quốc gia như Google và các công ty khác được biết thc hành thin định, yoga và dhyāna đgiảm bớt áp lực và căng thẳng, lo lắng, bt an, v.v. Vipassanā như một công cụ
 


tuyt vời dựa trên thực nh đo đức (Śīla), stập trung (samādhi) và ssáng suốt (paññā) giải png bn tn khỏi sự dính chấp. Hiu được các đối tượng dính mc (m un bao gồm cơ th, cm giác, nhận thức, suy nghĩ tích cực và ý thc) và bn cht thực sự của nó, rõ ràng là các tham đm sẽ nhường cho sgiác ngvà skng còn dính mc na. Yese (1998, tr.9) chỉ ra rng thin kng chỉ ng ý sphát trin của stập trung duy nht, ngồi trong góc kng m gì cả; Thin là trng thái tỉnh táo của m trí, đối lập với sự chậm chạp, thin là trí tu. Con người nên nhận thức rõ từng khonh khc trong cuộc sng ng ngày của mình, ý thức đy đủ về nhng gì anh y/ cô y đang m, và m thế nào và tại sao anh y/cô y m điu đó. Thông qua thin người ta có thể ...sự tht của cuộc sng. Thin cho thy tt cả mọi thứ trong m trí của con người; tt cả nhng vấn đề tiêu cực và tích cực trong m trí của một người. Kng cn mọi người nên trở tnh Pht tử để học thin và vipassanā cho sphát trin của snh đo cnh nim. Điu quan trng là tìm kiếm bng trí tuệ và kng có nim tin mù quáng. Điu này cuối cùng sdn đến đt được hòa bình bn vng.





***
 
 

TÀI LIỆU THAM KHO

  1. Ańguttara Nikāya(A.N-Th.); tr, Woodward, F.L. &Hare, E.M.,
The Book of Gradual Sayings, 5 vols, London, PTS, 1932-36
  1. Dhammapada(Dhp-Th); tr.Thera, Nārada, London. 1954
 
  1. Majjhima Nikāya(M. N.-Th), tr. Horner, L.B., Middle Length Sayings, 3 vols, London, PTS, 1954-59
 
  1. Samyutta Nikāya(S,N-Th), tr. Davids, C.A.F.Rhys & Woodward, F.L., The Book of Kindred Sayings, 5 vols, London, PTS, 1917-30
 
  1. Bhikku, Buddhadasa, Handbook for Mankind, Buddha Dharma Association Inc, 1956
 
  1. Bodhi, Bhikku, ,Facing the Future, Buddha Dharma Association Inc, Kandy, Srilanka, 2000
 
  1. Grimm,  George,  The  Doctrine  of  Buddha:  The  Religion  of Reasoned Meditation, Motilal Banarassidass, New Delhi, 1958, pp.25-26
  2. Gunaratana, Henepola, The Jhans in Theravad Buddhist Tradition,
Buddhist Publication Society, 1995
  1. Harvey, Peter, An Introduction to Buddhist Ethics, Cambridge University Press,2000
 
  1. Hershock,Peter D., Buddhism in the Public Sphere, Routledge, Taylor &Francis Group, London& New York, 2006
 
  1. Nyanponika, The Roots of Good and Evil, Wheel Booklet, No- 251/253, Kandy, Srilanka, 1978
 
  1. Silva, Lily De, One Foot in the World: Buddhist Approach to Present-day Problems, The Wheel Publication No.337/338, Kandy, Srilanka,1986
 
  1. Tin,   Pe   Maung,   The   Path   of   Purity   (A   translation   of Buddhaghoshas Visuddhimagga), Part I, London,1992
 
  1. Yese, Ven.Lama Thubetan, Becoming Your Therapist, ed. Ribush Nicholas, Buddha Dharma Education Association Inc.,1998
 
  1. Sustaining DEVELOPEMENT and Sustainable Peace: A Two Sides of the Same Coin, www.undp.org>undp>home>blog
 
  1. Introduction    to    Sustainable    Peace”,   http//www.unssc. org>courses>introduction

 
  1. *Abstinence from killing, stealing, adultery, lie and intoxicants
  2. The absence of greed, of hatred, of delusion.
 
  1. .Such acquiring the subject of meditation, making frequent questioning and being strenuous in culture.
 
  1. Mass media includes standard print (newspaper, book, magazine, pamphlets,etc), broadcast(television, radio, cinema) and electronic(especially internet-meditated, video games, etc).

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây