3 ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG NGÀNH DU LỊCH XANH

Thứ tư - 08/05/2019 18:24
Ida Bagus Putu Suamba




 
ĐO ĐC PHT GIÁO TRONG CÔNG CUC XÂY DNNGÀNH DU LỊCH XANH
 
Ida Bagus Putu Suamba(*)




 

TÓM TT


Ngành Du lịch xanh ra đời như một câu trlời cho vic thiên nhiên ngày ng btn hại bởi tham vng không kim soát của loài người. Vic biến những đt đai màu mỡ, những cánh rng, hay các bãi biển tnh các cu trúc htầng và cơ svt cht của ngành công nghiệp du lịch nhân danh sphát triển, thì hoàn toàn không phải là Du lịch xanh. Sphát triển đã được ng tc vi shtr của khoa học kthut. Giđây, mỗi quốc gia trên thế giới đều lo lắng vstn vong, thiên nhiên và n hóa của mình dưới mối đe da n diệt; thực tế, nó trgiá cho những lợi ích kinh tế đã đt được; mỗi quốc gia cần nhìn lại những truyn thống và phong tục của mình để tìm ra những giá trcốt lõi và sự khôn ngoan cần có để đối phó vi vấn nn đang diễn ra. Pht giáo dù tbuổi đu không có những đcập cth vDu lịch xanh, tuy nhiên, toàn bcuộc đời của đức Pht rt gn gũi vi tnhiên và Ngài không htn hại đến nó. Bài viết này nhm mục đích tho luận những nguyên tc đo đức thông qua vic tiết lnhững giải pháp mà Pht giáo có
 
  • Politeknik Negeri Bali, Người dịch: Hải Triều.
 


thđóng góp cho vic hình thành ngành Du lịch xanh, đc biệt dựa trên những khái niệm của các giáo lý gốc gồm Thp nhnhân duyên (Pratitya-samutpada) và Tvô lượng m (Brahmaviharas), như T, Bi, Hvà X. Dliệu đã được tập hợp, phân loại, thống kê và giải thích bằng vic sdụng định tính đtiếp cận tnhững chuẩn mực của đo đức Pht giáo, đc biệt là trường pi Du già của truyn thống Pht giáo Đi thừa. Có ththy rằng các thành phn cu thành trong tnhiên hoặc hữu hình hay vô hình đều phụ thuộc lẫn nhau và kết nối vi nhau vi cơ sở ý thức như một nền tảng mà ở đó tnhiên được hiểu và ng dụng. Có một skết nối m linh giữa con người và tnhiên, và nếu kết nối này bxáo trộn, slà nguyên cdẫn đến smt n bằng giữa các yếu ttnhiên và con người. Ý thức này, đc biệt là ý thức vi toàn th(alaya - ng thức) có thng trong vic thiết lập ngành Du lịch xanh vừa như một hot động du lịch va như một ngành kinh doanh. Mang khái niệm này trở lại thực tại, minh chứng cho ngành Du lịch xanh trong đó có thphối hợp ng những giá trđo đức Pht giáo một chiến lược rt đáng nlực.
    1. GIỚI THIỆU

Du lịch xanh đã ngày ng trn một ki niệm phbiến và được áp dụng rng rãi trong ngành du lịch của thế giới ngày nay kcnhững quốc gia theo Pht giáo như Thái Lan, Vit Nam, Sri Lanka v.v. Như Furgan, Mat Som và Hussin đã định nghĩa Du lịch xanh là những hot động thân thiện vi i trường với nhiều trng điểm và ý nghĩa khác nhau. Trong một thut ngphổ quát, Du lịch xanh đcập đến một mô hình du lịch thân thiện vi i trường hay cung cấp những dịch vdu lịch thân thiện với môi trường (2010). Nó tri dy tnhu cu cấp thiết phát triển du lịch bền vng nhm dung hợp giữa vic giải trí và các hot động kinh doanh mà không gây hại hay phá hủy i trường tnhiên. Du khách muốn tận hưởng bu kng khí trong lành, khách sạn, các sản phẩm, thực phm và các mt hàng u niệm thân thiện với
 


i trường. Mt sngười kêu gọi bo tn thiên nhiên và giảm thiểu tiêu ng những sản phm gây hại i trường như các chế phm liên quan đến hóa cht và các sản phm nhựa. Furgan, Mat Som và Hussin còn nhn mạnh rng Du lịch xanh rt quan trng trong vic phát triển ngành du lịch bng cách htrnhững khía cạnh tnhiên và n hóa, đồng thời khuyến khích tôn trng bảo tn i nguyên đô thng như da dạng n hóa (2010). Sau gn năm mươi năm hot động của ngành du lịch, những lo ngại vcác mối đe da liên tục đối vi thiên nhiên và i trường diễn ra ngày ng nhiều do vic sdụng vô đnguồn i nguyên thiên nhiên. Điều hiển nhiên rằng đằng sau shưởng thmà ngành du lịch mang lại là mối đe da cho stuyt chủng của loài người trên Trái Đt. Đây không hề là một lời phóng đại để chỉ ra khnăng đáp ng ngày ng cạn kit của thiên nhiên và smt n bằng đang diễn ra với quy mô từ nhỏ đến lớn vì lối tiêu thụ kém khôn ngoan của con người. Cuộc tho luận lớn vcác phương tiện du lịch, ng phí nước sch, gây tn hại đến mch nước ngầm, ô nhiễm nước vùng biển bởi các hot động du lịch, tlgim đt canh tác và rng ng liên tục trong năm mươi năm qua.

Thực tế đã mmt cho thế giới vgiới hn của tnhiên, mà theo đó, những giđịnh và hành vi của chúng ta đã nhanh chóng vượt ngưỡng của nó. Kinh doanh trên cơ sng tham luôn muốn chly nhiều n nữa mà không cần phải trlại bt cgì cho tnhiên. Theo nhận định của Kilipiris và Zardava (2012): Trong thực tế, Du lịch xanh đôi khi được sử dụng như một nhãn mác của ngành công nghiệp du lịch, cung cấp thông tin đến du khách như m thế nào đbo tn ng lượng, tránh xrác trên bbiển v..v.., mà không tht sđcập đến những tác động to lớn của ngành du lịch. Trong c scạnh tranh khốc liệt vẫn tn tại giữa những tổ chức du lịch thì dường như dhiểu khi hkhông sẵn ng thực hiện các chiến lược xanh. Có nhng trường hợp mà địa phương nhn được lợi ích kinh tế không nhiều, phn lớn lợi nhuận được tr vcho nhng nước ngoi quốc. Nói cách khác, bo tn thiên nhiên
 


i nhọn của Du lịch xanh, vlâu i có khng cung ng vic làm rt lớn. Tuy nhiên, những m cuối thế k20, đã có schuyn mình ddội nhm tiếp cận và định hướng ngành du lịch tdu lịch truyền thống hay du lịch địa phương sang du lịch toàn cu, đòi hỏi chuyển đổi lượng lớn du khách tquốc gia này sang các quốc gia đang dẫn đu nền công nghiệp thế giới. Du lịch tht slà một ngành kinh doanh khổng lliên quan đến lượng lớn nhân công, khách du lịch, công nghệ và tự nhiên. Du lịch xanh là một mô hình mới được khai sinh đphù hợp vi những thay đổi đang diễn ra trong ngành du lịch.

Đáng tiếc, trong sự lớn mnh của ngành du lịch, sự đóng góp của giáo lý nhà Pht hay các giá trgóp phn phát triển Du lịch xanh toàn cu vẫn rt hn chế. Trên thực tế các chuẩn mực Pht giáo chứa đựng những ý tưởng vsinh ti mà ngành du lịch có liên quan đến.

Cuộc đời của đức Pht gn liền vi thiên nhiên; Ngài tri qua toàn bnh trình m trong tnhiên. Ngài thm chí còn đt được Pht qutrong c đắm mình vi thiên nhiên; Ngài đã đt được giác ng (Pht qu) khi đi sâu vào thiền định n dưới ci B. Thế nên, khái niệm vDu lịch xanh đã có sẵn trong đó cho dù nó không được thể hiện dưới dạng một phương pháp có hthống. Điều duy nht đòi hỏi chính là nlực thiết lập những chuẩn mực cơ bn hay những ý tưởng có thhtrngành Du lịch xanh. Khi du lịch được kđến như một ngành kinh doanh lan rng trong Thế chiến thII, tđó có thhiểu khái niệm Du lịch xanh xut phát tcác quốc gia công nghiệp trong đó Pht giáo có thmang sc mạnh nội m vào vic thiết lập hay to n khung sườn của DDu lịch xanh. Dù đã dần trn một tư tưởng toàn cu, Pht giáo vẫn chưa được áp dụng cho Du lịch xanh. Mc trên thực tế những giá trcủa Pht giáo có thđã được áp dụng vi du lịch địa phương ở những quốc gia theo Pht giáo, tuy nhiên, ở đây họ vẫn lẫn lộn vi quan điểm phươngTây khi nó được vận nh như một ngành kinh doanh. Hphát triển nó dựa trên scác tiêuchuẩn kinh doanh và bo tn tnhiên tcác quan điểm phương Tây.
 


Bài viết này nhm mục đích tho luận các giá trđo đức Pht giáo, đc biệt là Phm thiên Viharas và giáo lý Duy thức trong vic thiết lập Du lịch xanh như trong trường pi Du già của Pht giáo Đi thừa đã đcập. Những giá trnày có thđược tận dụng trong vic vận hành ngành Du lịch xanh như một ngành giải trí kết hợp vi các hot động kinh doanh. Phân tích được thực hiện dựa trên khung lý thuyết của quan điểm Pht giáo dưới góc nhìn vDu lịch xanh như một biểu hiện của ý thức n trong m trí.
    1. DU LỊCH XANH: GII TRÍ VÀ KINH DOANH

Sliệu thực tế ngày ng ng cho thy shủy hoi thiên nhiên do các hành vi của con người đc biệt ở những quốc gia đang phát triển, buộc ngành du lịch phi ra sc bảo tn thiên nhiên; du lịch là một ngành kinh doanh mà bn cht dựa trên tnhiên. Du lịch xanh hay du lịch thân thiện môi trường sẽ không có ý nghĩa gì trkhi thiên nhiên được bo tn tt không chỉ hôm nay mà còn ở tương lai. Buckley (1994) thường nhấn mạnh rng chcác tchức nào trong ngành du lịch dựa trên thiên nhiên, quản lý bền vng, htrbo tồn, và giáo dục môi trường mới được mô tả như du lịch sinh thái. (Baez v à Rovinski 1992; Boo 1990; Ceballos-Lascurain  1992; Eber
1992; EAIPR 1992; Figgiss 1993; Lee và Snepenger 1992, Richardson 1993a, 1993b; Swanson 1992; Young  1992; Young và Wearing  1993;  Ziffer  1989), điều này cần được liên tục áp dụng cvlý thuyết lẫn thực nh. Về lợi ích kinh doanh lâu dài, không n chquan m đến lợi nhuận mà phải chú trng đến vic bo tn tnhiên. Nói cách khác, không n chỉ chy theo lợi nhuận mà bquên ka cạnh đo đức; và tđó chiều kích đo đức squan trng n cho sphát triển bền vng trong kinh doanh. Ngành du lịch skhông được duy trì trkhi toàn thể thiên nhiên được bo tn một cách đúng đắn. Có một mối tương quan giữa tnhiên và sliên tục trong kinh doanh dù ở hình thức nào. Do thực tế này, một khác biệt lớn đã diễn ra giữa nhà hot động
 


i trường và người điều nh du lịch hay các n liên quan khi cho đến ng vẫn chquan m đến lợi nhuận tsvn đu tư của h. Như đã được nhn mạnh bởi Hudson và Miller rằng giống như nhiều mt khác trong vic phát triển thế giới, một trn chiến đang diễn ra giữa các nhà bo tn và ngành công nghiệp du lịch. Các nhà bo tn đang tranh i đbo vi trường nhiều n và kim m sphát triển ngành du lịch, và những nhà vận nh du lịch đang m cách ng cấp và phát triển các phương tiện du lịch, cho rằng tht dại dột khi hạn chế quyn tiếp cận và khước tlợi nhuận kinh doanh của h, n địa phương và khách du lịch có cơ hội tận hưởng vẻ đp cùng các hot động giải trí ngoài tri ở những vùng đt đẹp nht trên khắp thế giới. (Theobald, 2005, p. 248). Tuy nhiên, khi đo đức kinh doanh được tính đến như một sự tiếp cận n bằng, nó sđđể vận hành ngành Du lịch xanh. Theo lời Dodds và Joppe (2001), được trích dẫn bởi Furqan, Mat Som, and Hussin (2010) thì khái niệm Du lịch xanh được chia làm bốn phần: Trách nhiệm bo v i trường, bo tn ng vi ng trưởng i trường tnhiên i trường vt cht nhm đảm bo skhỏe mnh vlâu i trong vic duy trì sự sống của hệ sinh thái.

Khng thtr của nền kinh tế địa phương, ng như doanh nghiệp và cng đồng nhằm đảm bo cho nền kinh tế phát triển bền vng.

Tôn trng đa dạng n hóa, đcao và đa dạng các nền n hóa nhằm đảm bo sthịnh vượng của n hóa bản địa hay các nước chnhà.

Cung cấp những kinh nghiệm phong phú nhằm tha n tri nghiệm thông qua các hot động khi các cá nhân tham dvào, gn kết vi tnhiên, con người, i chốn và n hóa.

Hot động kinh tế được kvng cho sphát triển lành mạnh của toàn thvũ trbt ktrong ngành du lịch. Như Javasaro đã chỉ ra điều đó bao gm vic ni mạng chân chínhtrong t Chánh đo, đức Pht công nhn vai trò của hot động kinh tế trong vic thúc đy phúc lợi cá nhân hài hòa vi sphát triển xã hội theo giáo lý Pht pháp. Đức Pht dy rng các Pht tn đt tiêu chí đo
 


đức và tinh thn khi n nhc vmột sinh kế chân chính, đc biệt tránh sinh sống bằng cách tn hại đến con nguời, động vt và môi trường (2013, p.138). Ki niệm vbt bo động (ahimsa) bao gm thực thcó hô hp và không hô hp là nền tảng cho những giá trđo đức khác. Ông còn u thêm rằng đức Pht nhn mnh tầm quan trng vvic m cho một người sống trung thực ng vi những động lực lành mnh. Schân tht đưa đến stôn trng và to nên bu không khí tin tưởng lẫn nhau tại i trường làm vic. Khi mục tiêu của bạn là mong muốn nhn được phn thưởng trong công vic thay vì tận hưởng niềm vui khi hoàn thành tốt công việc, thì những suy nghĩ ngn hn và tham nhũng luôn có kh năng xut hiện. Khi m trí một người đt vào hiệu qucông vic n những phn thưởng vt cht tcông vic mang lại, htrnên tha mãn, ít ng thng và m vic tt n ( Jvasaro, 2013, p.138). Stập trung, cng hiến và tôn trng bản cht công việc có thkiến to hnh phúc khi m trí là một i ý thức có thphát huy tối đa khnăng của nó. Ông nói thêm rằng trong quan điểm Pht giáo, hiệu quả của nền kinh tế không thể hiện ở slượng các triệu phú mà nó to ra mà ở mức đcó thđảm bo một người có được bốn điều kin cần thiết cho ssống ( Jayasaro, 2013, p.139). Phúc lợi theo đúng nghĩa n bao gm sthịnh vượng của tt cmọi người và điều này có thđt được thông qua vic hoàn thiện bmáy kinh tế của một quốc gia.

Những góc nhìn tích cực của Pht giáo về tự nhiên có thể được nhận thy từ cuộc đời của đức Pht, người có sgn bó gn gũi vi cây ci: Ngài ra đời tại vườn Lâm-tì-ni trong c mNgài đang vn ly cành sa-la; Ngài tri nghiệm tầng thiền đu tiên dướing cây hồng quân ( Jambupikkha); đt giác ngộ dưới cội B, và nhp Niết-bàn giữa Sa-la song th. (Singh,2011, p.1). Đức Pht đã du hành trong thiên nhiên, gp gvà mang đến chân lý cho loài người trên suốt hành trình cuộc sống, Pht giáo cvũ chúng ta vận hành Du lịch xanh cho sthịnh vượng và phúc lợi của toàn xã hội mà không gây hại đến tnhiên. Hành trình khám phá thiên nhiên
 


xã hội n Độ của đức Pht là bản cht của du lịch sinh thái theo nghĩa thực tiễn mc dù du lịch thời kđó chưa phải là một hình thức kinh doanh n là vic đi du hành ti này sang i khác để tìm kiếm sgiác ng. Nói cách khác, dù du lịch được phát triển dưới bt kì hình thức nào, ng không n xem nhhnh phúc thịnh vượng của mọi loài. Tgóc nhìn này, đòi hỏi những giá tr bt nguồn tđo đức. TKinh điển cho thy, Pht giáo rt giàu giá trđo đức đáp dụng cho vic phát triển Du lịch xanh. Những giá trcó thể bổ sung cho tính hiện đại, trong đó Pht giáo có thể đóng góp các giá trtrong vic n bằng những yếu tkhác nhau liên quan đến thực tiễn. Sliên kết giữa con người và thiên nhiên được nhn mnh bởi những giá trPht giáo bt nguồn tnhững giáo nhà Pht như Lý Duyên khởi, Tphm trú như T, Bi, Hvà Xả, các giáo lý này có thng đđiều chỉnh smt cần bằng vi tự nhiên khi định hướng kinh doanh theo lợi nhuận. Vic ging dy đo đức có thđược xem t trong việc thiết kế, thực hiện và đánh giá theo hướng xanh hóa du lịch bt kỳ hình thức nào mà không m gim đi lợi ích kinh tế. Vi sgóp mt của các giá trđo đức, du lịch không chhướng ti những tiện ích mà doanh nghiệp đem đến cho khách hàng mà còn thhiện ng tôn trng thiên nhiên một cách chân thực. Đôi khi các thut ngđo đức Pht giáo được hô hào bởi các đại lý du lịch nhưng nó chng đthu t squan m của công chúng mà không có sáp dụng các giáo lý này trong thực tế.

Trong scác giá trđo đức, Tâm tkhông chgiới hn phạm vi ở mối liên hệ giữa người và người, mà còn là mối liên hệ giữa tnhiên vi tnhiên, giữa con người và tnhiên ở nhiều dạng khác nhau. Tình thương n là nền tảng của bt knlực kiến to kinh doanh nào bao gm c ngành du lịch. Khi kinh doanh được thúc đy bởi ng tham, liệu có chút ki niệm nào vtình yêu được dung hợp trong vic phác ha và thực hiện Du lịch xanh? Mt hot động kinh doanh lâu dài, chính là mục tiêu của nó sẽ không gây hại đếnng yêu thiên nhiên; hành trìnhm kiếm lợi
 


nhuận không n gây tn hại đến tình thương dành cho các giống loài khác. Theo hướng ngược lại, ng nhân ái không chphng trong vic thiết kế, thực hiện và kim soát mà còn ctrong các sản phm được cung cấp. Mt người skhó trn tôn trng và biết yêu thương tnhiên nếu thiếu tình yêu vi chính mình, vi người khác và thiên nhiên. Nn giáo dục dy con người biết yêu thương người khác từ thời thơ u khi sống trong gia đình và nhà trường đóng vai trò quan trng vì nền giáo dục hiện đại có xu hướng chú trng vnhn thức n khía cạnh tình cảm. Thế hthiên niên k, những người dành phn lớn thời gian vi máy c scó rt ít cơ hội đthu hiểu, tương tác và trân trng thiên nhiên dù chỉ trong phm vi nh. Khi ng trc n hiển li một người, cảm giác đồng cảm và quan m đến môi trường sxut hiện. Khi con người được kết nối vi thiên nhiên ở một sphương thức, cuối ng strthành một phn của tnhiên: đy trc ẩn, quan tâm, v..v.. những điều kin cần đthiết lập ng như vận hành chương trình du lịch. Tnhà quản lý cp cao nht cho đến người hướng dẫn viên hay các nhân viên điều hành du lịch n có ng một tầm nhìn vbo vthiên nhiên. Chng hn khi, khách tham quan vứt những i nhựa sai i quy định, người hướng dẫn viên hay i xế có thhướng dẫn hbđúng i quy định giúp gim bớt vic tổn hại đến môi trường. Do đó, lòng trc ẩn và sự quan tâm không chỉ cần có ở những nhà điều hành cấp cao mà còn ở tt cnhững người tham dvào ngành kinh doanh này. Có được cảm giác vng trc ẩn, squan m hay thương cảm vi đồng loi và tnhiên smang đến cho chúng ta niềm vui nội tại (mudita). Bí quyết ở đây là hãy cảm nhn mình như một phn của những người khác, điều này schm đến cảm xúc và stha mãn trong m trí giúp chúng ta biết yêu thương người khác. Tìm kiếm thêm niềm vui thích svô nghĩa nếu thiếu đi ý thức vsphn của người khác và tnhiên. Nim vui vksdng đt được ở một i cấp đ, nhưng thường chdiễn ra trong một thời gian ngn ngủi, trong khi Pht giáo dy chúng ta đt ti niềm vui không ngn mé thông qua vic
 


mrng ng m thức. Khi nim vui này đã được tri nghiệm, một người scó những cảm nhn khác biệt vi những người còn lại, upeksa-tâm xsđược kinh nghiệm. Syên bình sđến trong m trí tsthành công trong vic thực nh các giá trcủa tâm từ, bi và xđối vi thiên nhiên. Như Joyadip đã u n một giáo của Pht giáo, ở đó mối quan hgiữa cây cối và thiên nhiên được mô tnhư sau|: Cây cối qutht đã to ra hoa và qucây mang ng mát đến cho tt cnhững ai ở gn chúngcây mang ng mát một cách không phân biệt.” (Milindapañhā, VI, 409 – “rukkho nāma pupphaphaladharorukkho upagatānamanuppavţhānam janānam chāyam deti…., rukkho chāvemattam na karoti”)” (2013). Khi thiên nhiên mang đến mọi thcho đời  sống  loài người, chúng ta cần duy trì và ly đi ở mức tối thiểu đbảo đảm sbền vng của thiên nhiên. Chúng ta đối xbt công vi thiên nhiên và cgng đưa ra những lý do ng cạn đằng sau vic bóc lột mthiên nhiên.

Khi mối quan hệ tích cực giữa con người và tự nhiên được thu cảm, cần có nhiều trách nhiệm đo đức cho tt cđbo v thiên nhiên khỏi sích k, ng tham vô đđang tn hại đến tự nhiên. Nhiệm vcủa con người là m ra cách thức tt nht cho mối quan hvi tnhiên. Tquan điểm này, như Jayasaro đã đề cập rằng giáo dục trong lĩnh vc ng x, cảm xúc và trí tusphát huy tt vi điều kin có ti đtích cực đối vi tnhiên ở phạm vi cá nhân và xã hội. Giáo dục hành vi đòi hỏi chúng ta phải đt s phồn thịnh của hành tinh n trên những nhu cu ngn hn. Nó có nghĩa chúng ta cần rèn luyn khnăng kim hãm lại các hot động tn hại đến i trường đáp dụng một lối sống đơn giản, ít ng phí hơn. Những thay đổi cn thiết không thchđược thực hiện bởi nhóm người trí thức, đthành công, chúng cần được áp dụng cho tt cmọi người. Vì lý do này, hcần được htrbởi pháp lut, phong tục và các chuẩn mực n hóa (2013, pp. 148-149). Điều phbiến là nhn thức này không nm ở nhóm ra quyết định vì hluôn chnghĩ đến lợi nhuận. Jayasaro còn i thêm rằng giáo
 


dục cảm xúc đòi hỏi chúng ta phải thm nhuần nền n hóa của chính mình, và trong ng mỗi cá nhân, tình yêu và ng tôn trng thế giới tnhiên skhiến cho vic hủy hoi i trường trnên không thchp nhn (2013, p. 149). Cm nhn tình yêu vi M thiên nhiên sgim đi khi con người không còn đthời gian để hiểu và tôn trng Trái Đt. Ông còn i thêm rằng giáo dục trí tuệ đòi hỏi chúng ta cần m hiểu những n nguyên và điều kin cho một tương lai bền vng của loài người. Nó liên hđến vic nhận thức rõ hu qutnhững hành vi tiêu thnhnht trên toàn bộ Trái Đt. Nó có nghĩa rằng thy được những hn chế ở con đường hiện tại của chúng ta. (2013, p. 149). Mt người vi trách nhiệm đo đức sẽ tìm ra một cách thức khả dĩ để giữ mối liên hệ được vận hành một cách hài hòa.

Mặc dù những nlực này khó mà thành công, nhưng giúp to ra nhn thức vtầm quan trng của giáo dục đến các yếu ttham gia vào ngành du lịch khi thử khai thác lợi nhuận tcác phương tiện hay các kênh khác nhau. Điều gì là thích hợp để có thể xem i trường là trung m của các hot động du lịch; và i trường sch đẹp, thân thiện được đảm bo và là yếu tchính đthu hút du lịch.
    1. CÁC VN ĐLIÊN QUAN

Vũ trquan Pht giáo chra rằng mọi stn tại đều liên quan đến những phần khác; không gì thoát ra ngoài skết nối; và mỗi công trình to thành một hthống tnhiên hoàn chỉnh. “Nhìn những gì đang diễn ra trên Trái Đt bằng cách nhìn sâu sc này, rõ ràng rằng vi vic hủy hoi tnhiên chúng ta ng đã thủy hoại chính mình(Singh, 2011, p. 2), tuy nhiên không my ai nhn thức được điều này. Joyadip chỉ ra rằng hệ sinh thái trong Pht giáo ng ý một shiểu biết sâu sc vcng sinh có điều kiện, nhìn mọi thứ không phải là một thực thđộc lập mà là một dạng tn tại tương thuộc. Nói cách khác, lý thuyết hin đại vsliên quan giữa con
 


người và hsinh thái xung quanh hoàn toàn trùng khớp vi giáo cơ bn của Pht giáo vLý Duyên khởi (pratitya samupada) (2013). Stn tại của một thực thlà do scó mt của những thực thkhác và chúng liên hvi nhau trong những mối quan hđa dạng. Vì thế không có lý do gì để cho rng con người được quyn m bt kđiều gì mình thích vi thiên nhiên; ở đây n có skim soát trong vic sdụng và khai thác tnhiên. Xem t quan điểm này, tnhiên và con người đã kết nối vi nhau, là một phần của nhau và một bphn của tnhiên. Joyadip còn i thêm mọi thtrên trái đt đều đã phục vbng cách này hay cách khác để sinh tn. Loài người chúng ta liên quan hay được m hoàn toàn tnhững yếu tkhông phi người như cây ci, đt, nước, các đám mây và ánh mt tri v..v..những điều khiến chúng ta là một phần của tnhiên. Vì stn tại i lâu của nhân loại, hsinh thái cần được trân trng và bảo tn. Bo vcuộc sống của loài người sbt khả thi khi thiếu đi sbảo vệ đời sống của các loài động vt, cây cối và khoáng sản. Tt cnhững vt thsống bng cách này hay cách khác đều hoàn toàn phthuộc lẫn nhau cho stn tại của chính nó (2013). Với góc nhìn này, không có bt cứ lý do gì để đối xvới i trường chvì mục đích tha n ham muốn.

Mỗi yếu ttrong tnhiên đều có ý nghĩa tthân, vai trò, chức ng thực hiện cho dù chúng được phát sinh tng ý thức. Vũ trnày được vận nh do mỗi thành phn tthực hiện chức ng riêng của mình cho mối quan htương hvi các loài hô hấp hay không hô hấp, hoặc tnhiên hoặc phi tnhiên. Nó là thành phần phức tạp và được hợp thành tnhiều lớp của vũ trụ, tđơn vnhỏ nht đến đơn vlớn lao nht. Theo quan điểm này, mỗi i phục vcho phn còn lại theo cách tương hcho stn tại. Mt i cây có th lớn lên, phát triển và mang đến cho chúng ta lá, hoa, gv..v.. cho đến những nguồn sống khác như du, nước, ánh nắng, gió v..v.. tt cnhững yếu tgiúp i trường phát triển thuận lợi. Khi con người sống trong tnhiên, hkhai thác nguồn i nguyên thiên nhiên chng hạn như nước đphục vđời sống. Joyadip i rng
 


i trường tnhiên, như các cánh rng và thm thực vt, cung cấp cho con người và động vt hoang dã vi nhiều lợi ích xã hội, kinh tế và môi trường (2013). Nói cách khác, con người nợ thiên nhiên rt nhiều và dường như chng bao gitrlại đủ. Kết qucủa hành động này dẫn đến lạm dụng hay lợi dụng tnhiên vì nó mang đến nguồn lợi nhuận; thực tế khnăng cung cấp của thiên nhiên là có hn. Những hành vi này sgây nguy hiểm không những cho riêng t nhiên mà còn cho ccon người và toàn thvũ trụ. Do thực tế này, vic gicho thiên nhiên được trvđúng vi bản cht có một vai trò rt quan trng. Nóng đóng vai trò then chốt trong vic quản lý khí hu toàn cu. Sng n toàn cu, là một minh chứng rõ rt vhành động do con người to ra gây ra thiệt hại cho bu khí quyn. Giđây mọi người đều lo ngi vthực trng hâm ng toàn cu smang đến một vấn đto lớn cho con người, tnhiên, sinh vt học, sinh thái, và địa lý v..v... Khi một khía cạnh bcô lập hay bị ngắt kết nối với những mối liên hệ khác, mt cân bằng xy ra có thể m ảnh hưởng đến đời sống con người.

Mang nó trlại thực tại, mỗi và mọi thành phn tham gia vào ngành Du lịch xanh đều quan htheo ý nghĩa tương h. Con người, tnhiên và n hóa trong một nghĩa rng luôn liên hvi nhau, đòi hỏi một hthống tt đvận hành. Phong phú vn hóa có thđược phát triển thông qua stn tại của con người sống trong tnhiên. Mối quan hcủa hn được n bằng và đồng đều lợi ích mà không tn hại đến ai trong sh. Du lịch sphthuộc vào thiên nhiên khi du khách tận hưởng những tiện ích n ngoài bao gm cthiên nhiên; nó smang đến cho hmột sc ti mới hoc khác biệt. Shiểu biết vvũ trcó thđược phát triển thông qua du hành như một cách trau dồi tiềm năng của bản thân. Văn hóa như một sản phm nghthut ca loài người, phthuộc vào con người và tnhiên trong vic gigìn và phát triển. Các thành phần như sc lao động, ch, thực phm và nước uống, vận tải, đo đức kinh doanh, sc t v...v., chúng phthuộc nhau trc tiếp hoc gián tiếp. Nhân lực m vic trong lĩnh vc này không phải là con
 


snh, hm ở những vtrí công vic khác nhau như những chủ khách sạn, bồi n, hướng dẫn viên, nhà điều hành, phiên dịch viên, i xe, người n đa phương, chính phv...v..
    1. TINH THN, DUY THỨC LUN VÀ I TRƯỜNG

Bt cloi hình du lịch nào được phát triển vcơ bản là phát triển vai trò của m trí. Làm thế nào đm trí thy chính nó thế giới n ngoài? Tâm trí có một vai trò mnh mvà chiến lược trong vấn đnày vi điều kin con người có một skiến thức cơ bản và ti đtích cực vi nó. Tuy nhiên, đđiều khiển m trí điều tht skhó khăn, và ở đây các vấn đđòi hỏi một nlực sâu sc hơn. Joyadip i rằng theo Pht giáo, m trí đóng vai trò quan trng trong mọi quyết định của chúng ta. Do đó, một người nên nghĩ vmột giải pháp tinh thn trước khi m kiếm một giải pháp vt lý cho các vấn đ. Theo quan điểm đo đức Pht giáo, tt cả vấn đxy ra trên nền tảng ssi và thiếu an toàn được to ra từ khái niệm bản ngãhay còn gọi là tự ngã. Con người tự lừa dối vi quan niệm sai lầm vtngãcó xu hướng nghĩ tt ccác đối tượng vô thường là vĩnh vin (2013).

Đhiểu rõ n vmối quan hcủa con người và thiên nhiên trong vic thiết kế Du lịch xanh, học thuyết Duy thức của Pht giáo Đi thừa cần được xem t và tìm hiểu sự đóng góp của nó cho yếu tPht tính trong vic điều hành ngành Du lịch xanh như một hot động giải trí và kinh doanh. Khi m trí đóng vai trò quan trng trong các hot động của Du lịch xanh, nó bao hàm vai trò bản cht cốt yếu của nó đối với học thuyết Duy thức mà skết nối giữa m trí và ý thức là không thtách ri. Vvấn đnày, đthy một cách toàn diện mối quan hcủa nhân loại, xã hội i trường tnhiên, rt đáng đxem t quan điểm đã được đề xut bởi Yamamoto (1998a) mà Singh đã trích dẫn (2011); d kiến sđược ng đ giải quyết các vấn đphát sinh tvic đối xbt công với môi trường của con người, như sau: Chúng là
 


(1) Nguyên lý cng sinh (Principle of Symbiosis): khái niệm v tnhiên và i trường được nhn thy trong học thuyết Duyên khởi của Pht giáo tương tự như các khái niệm về sinh thái học. Mọi thđều kết nối vi nhau theo cách nào đó... (2) Nguyên vận hành (Principle of Circulation ): ki niệm vvòng quay luân hồi đang lặp lại trong vũ tr rt cần thiết đ xem t cách các hệ thống vận hành quay vòng trong xã hội. (3) Quan điểm vthế giới (Perspective of Recognition of the World): Trong Pht giáo, tt ccác hiện tượng đều được hiểu một cách cơ bản vnguồn gốc phthuộc, ý tưởng vsphthuộc lẫn nhau và tương tác giữa tt ccác dạng thức tn tại bao gm ba lĩnh vc: lĩnh vc m trí cơ th, lĩnh vực bản thân với những người khác, lĩnh vực của loài người vi hsinh ti tnhiên (4) Mối quan hgiữa chth i trường (Relationship of Subject and the Environment). Pht giáo xem i trường là trung m cuộc sống, độc lập vi đời sống và con người. Cả chủ thể và môi trường của nó có mối quan hệ phthuộc và liên kết lẫn nhau. (5) Giá trnội tại của thiên nhiên (Intrinsic value of nature): Hc thuyết vnguồn gc phthuộc cho thy rằng mọi thtrong hsinh ti đều có giá trnhư nhau. Bởi vì tt cnhững sinh vt có hô hp hay không đều có có Pht tánh, chúng được xem như có bản cht và giá trnhư nhau, và (6) Đặc quyn của thiên nhiên (The Right of Nature): Mặc dù đo đức môi trường sẽ mở rng khái niệm từ quyn con người sang quyn tự nhiên, nhưng học thuyết Duyên khởi của Pht giáo chỉ rõ rằng quyn của con người phải đt cơ strên quyn của tnhiên.

Khi chúng ta cgắng hiểu giáo lý này, cần nhiều ý thức sâu sc đhiểu được những ý nghĩ tinh tế n những ý nghĩ hời hợt. Shiểu biết sâu sc là học thuyết duy nht được pi Du già của Pht giáo đề xut, cho thy bên dưới ý thức là một cõi rng lớn có thto ra suy nghĩ sâu sc n đcó thhiểu được sphthuộc phức tạp của thực thhay svt trong thế giới này. Nó cho thy ý thức bmt luôn chịu ảnh hưởng bởi ý thức sâu sc trên cơ scủa học thuyết Duyên khởi. Ý thức bmt và ý thức n dưới bmt
 


luôn thay đổi như một ng chy. Cách thức tương tđã diễn ra như thế giữa một chthvà i trường của nó bằng mối liên hệ mt thiết ng như kiu xut hiện dưới dạng hiện tượng ở bmt. Do thực tế này, ý thức bmt chlà phn nổi của tảng băng trôi. Nó có nghĩa là có một thế giới rng lớn tri i n dưới chiều sâu của ý thức và hiện tượng (Singh, 2011, trang 21). Các thành phần phức tạp và tương tác của ngành du lịch có tính trung m trong ý thức như một khnăng của m trí. Chúng phthuộc vào bên trong ng như n ngoài và hình thành n thế giới thông lượng.

Đâu là quan điểm của Duy thức luận cho các vấn đvmôi trường? Pht giáo xem i trường như một scng sinh của nhiều thành phn khác nhau --- vt thcó hô hp và không hô hp, mỗi tương tác trong một mối quan hphức tạp mà thế giới bchi phối bởi các nguyên tc phthuộc nguyên thủy (Thp nhnhân duyên
- pratitya samutpada) và to ra một vòng quay của ng bi mn thiện nghiệp. Con người ngày nay có i trường thích hợp trên nền tảng tư duy của chính mình đhướng vstha mãn dục vng (Singh, 2011, p. 25). Vn đtrn nghiêm trng khi những tham vng này trn mt kim soát dưới danh nghĩa phát triển nền kinh tế. Rt nhiều vấn đi trường bt nguồn tcách thiết lập sai lch của ngành du lịch, những biểu hiện ham muốn thiếu kim soát của con người ngày được ng cường bởi công ngh. Vì du lịch là một lĩnh vc đy hứa hẹn có thkiếm được lợi nhuận, mọi quốc gia, khu vc hoc thm chí mọi thtrn đều muốn phát triển du lịch thân thiện vi i trường mà không cần quan tâm sâu sc đến con người và i nguyên thiên nhiên liên quan đến nó. Mọi người thường chquan m đến vic thu hồi vn n là bo tn hay bo vtnhiên do đó gây n nhiều tác động tiêu cực n trên nó. “Duy thức luận cho rằng bt cđiều gì được thhiện trong i trường và dạng i trường nào được to ra đều phản ánh nghiệp chướng chung(Singh, 2011, p.26). Có sxut hiện của những thôi thúc n trong ng những ham muốn không giới hn. Con người phn ng thông qua các giác quan và m trí đối
 


với các đối tượng yêu thích bên ngoài; và đôi khi ý tưởng xu có thđược hành động đhiện thực hóa mong muốn mc dù thực tế m trí có ththực hiện tt chai chức năng: tha mãn hay kiểm soát ham muốn.

Nhìn cận cảnh vấn đ, học thuyết Duy thức đã m ng t cách con người hình thành môi trường cũng như cách mà môi trường đã tác động n con người. Đặc biệt ở đây i trường phụ thuộc vào nghiệp chung của những người to n xã hội cth. Do đó con người và i trường là những phn không ththiếu góp phn trong ng chy của ý thức.

Khi con người có hiểu biết đy đvvic thiên nhiên là s phóng chiếu của chính h, hcần nlực đbo vtính n bằng và lành mnh cho i trường. (Singh, 2011, trang 26) --- dù cho đó là thực thcó hô hp hay không. Vvấn đnày, A-lại-da thức đóng vai trò là một ý thức toàn thgivai trò chchốt như chiếc i của tt ccác ý tưởng tiềm ẩn. Nó có thđược xem như là bộ óc tiềm năng, thông qua n hóa và skim soát có thngăn chặn o ảnh của các vt thn ngoài ng vi vic gn bó vi chúng (Bhattacharyya, 1990, trang 14). A-lại-da thức là kho u trữ ý thức phtrách u trcủa tt ccác ý tưởng tinh thần. Nó thuần y trong tnhiên. Do xu hướng vô thức của ý thức cá nhân, nó dường như được chia thành vô số ý thức riêng biệt. Vic tách bch giữa chủ thvà đối tượng là do sthiếu hiểu biết. Quan điểm tVô ngã nhìn nhn A-lại-da thức hình thành trong một ng chy liên tục như nước tmột ng ng” (Acarya, 2004, trang 524-525). Nó liên tục thay đổi như một ng chy. Tương tnhư vy, Du lịch xanh n được điều chỉnh liên tục tnhững nlực của con người trong vic phát triển nó. Quan niệm này có thđược áp dụng khi thiết lập Du lịch xanh bt đu tnhững ý tưởng ban đu cho đến khi đánh giá và phát trin nó, học thuyết Duy thức có thđược ng như sc mnh tinh thần cho mọi người, đc biệt là những người ra quyết định trong vic thiết lập Du lịch xanh.
 


Phân tích vmt lý thuyết không sẽ thy không có bt k quyn lực nào có thbuộc ckhu vc kinh doanh và chính phủ phải hành động, một chứng nhn tiêu chuẩn có thhữu ích đbo vthiên nhiên khỏi sđối xtồi tcủa doanh nghiệp vi điều kiện chai n đều đồng ý thực hiện. Vđiểm này, mỗi quốc gia có thể đề ra một số tiêu chí hay tiêu chuẩn cần thực hin trong chứng nhận. Việc sdụng chứng nhn Du lịch xanh được ban hành bởi đơn vuy n thường được mong đợi (Sasidaharan, et. Al., 2002)
(1) đkim soát những tác động xu n i trường mà ngành du lịch gây ra cthvi nguồn i nguyên thiên nhiên tại các điểm đến bằng cách khuyến khích các doanh nghiệp du lịch đt được các tiêu chuẩn cao về môi trường, (ii) giáo dục khách du lịch v ảnh hưởng của hành vi và quyết định của hvà (iii) đphát triển những tiêu chuẩn cho các sản phm và dịch vdu lịch thân thiện vi i trường, như trích dẫn của Furqan, Mat Som và Hussin (2010). Chng nhn này chcó hiệu lực sau khi đã xây dựng được ý thức về tự nhiên ở mọi người, nếu không sẽ rt khó khăn khi doanh nghiệp chquan m đến lợi nhuận.

Vic sdụng chứng nhn Du lịch xanh ở các nước đang phát triển sáp dụng các chính sách liên quan đến quản lý i nguyên thiên nhiên, bo tn và bo vi trường và kim soát ô nhiễm trong khi tuân thkhái niệm phát triển du lịch thân thiện vi môi trường (Hashimoto, 1999; Erdogan và Tosun, 2009) như được trích dẫn bởi Furqan, Mat Som và Hussin (2010). Ly những giá trị Pht giáo m một phn trong nlực bo tn thiên nhiên và kinh doanh, các giá trị có thđược bao hàm trong các tiêu chuẩn hoc tiêu chí của chứng nhận, đc biệt ở những nước có Pht giáo là quốc giáo. Đây là một đóng góp thực s của đo đức Pht giáo vi điều kiện là các cđông, doanh nghiệp kinh doanh và chính phđồng ý điều chỉnh và gim thiểu tác động tiêu cực của du lịch đến i trường.
 
 
    1. KT LUN

Du lịch xanh không thphát triển nếu không có stham gia của con người và thiên nhiên. Môi trường là xương sống của Du lịch xanh và bo tn nó là nhiệm vcủa tt cmọi người đc biệt người n hoc các cơ quan liên quan bao gm cchính phủ. Các giá trị đo đức của Pht giáo như được giải thích trong các khái niệm vCõi Phm thiên (Brahma viharas), như ng nhân ái, liên quan đến vic thiết lập Du lịch xanh. Là một phn của con người và tự nhiên, không có gì tồn tại độc lập theo Lý Duyên khởi. Đạo đức Pht giáo đưa ra một cách nhìn sâu sc đxem t vic thiết lập Du lịch xanh, trong đó mọi thliên quan đến du lịch đều được kết nối n trong hoc n ngoài trong mối quan htương hhoc phức tạp. Giáo lý Duy thức có thđược ng đhiểu phn ct lõi một cách toàn diện n rằng Du lịch xanh không chnhn mnh lợi nhuận mà còn tôn trng và bo vthiên nhiên vì không thể kinh doanh tt trkhi thiên nhiên được bo vđphát triển thịnh vượng. Khi nguyên tc của giáo lý Duy thức được áp dụng đx lý vấn đ, một người cần có kiến thức vđo đức Pht giáo rằng nguồn gc giáo lý htrDu lịch xanh trên cơ squan htương h. Thiệt hại của thiên nhiên vcơ bản là mi đe da tuyt chng của loài người. Vì đối tượng n ngoài hoc sng to chính là biểu hiện của những thôi thúc n trong dưới dạng những ý tưởng, tđó cho thy không có lý do gì con người muốn thoát khỏi sbo tn của tự nhiên. Du lịch xanh n xem t chai khía cạnh: hot động gii trí kinh doanh. Khi điều này đt được tha thuận giữa các doanh nghiệp, các nhà đu tư và chính ph, chứng nhn là một gii pháp khthi để kim soát các tác động xu của du lịch đối vi tnhiên, trong đó đo đức Pht giáo có thđược sdụng đc biệt là ở các quốc gia có Pht giáo là quốc giáo.

 

TÀI LIỆU THAM KHO




Acarya, K. (2004), Indian philosophical terms: glossary and source,
Mumbai, Somaiya Publication.

Bhattacharyya, N.N. (1990), A glossary of indian religious terms and concepts, Delhi, Manohar.

Buckley, R. (1994), A framework for ecotourism,Annals of Tourism  Research, Vol. 21, No.3, pp. 661-669, 1994

Furqan A., Mat Som A.P. and Hussin R. (2010), Promoting green tourism for future sustainabilityTheoretical and Empirical Researches in Urban Management, No 8 (17)/November 2010. Available at: https://www.researchgate.net/ publication/227490449 [30th January 2019]

Huong, G. (2012), Buddhist ecology (in the pitaka and nikayas),Delhi, Eastern Book Linkers.

Jayasaro, A. 2013, Without and within: questions and answers on the teaching of theravada Buddhism, Bangkok, Pranyaprateep Foundation.

Joyadip. (2013), A buddhist perspective on ecological crisis and individual social responsibility, Buddhistdoor International Dhammadipa Samanera. Available at http://newlotus. buddhistdoor.com/en/news/d/31783,   [10th   September 2014]

Kilipiris, F., and Zardava.S. (2012), Developing sustainable tourism in a changin environment: issues for the tourism enterprises (travel agencies and hospitality enterprises,in Procedia - Social and Behavioral Sciences 44 (2012) 44 – 52, Available online at www.sciencedirect.com [30th   January 2019]

Singh, I.N. (2011), Environment and buddhism, Delhi, Prashant Publishing House.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây