28 TINH THẦN TÙY DUYÊN, TÙY TỤC, NHẬP THẾ, HỘ QUỐC AN DÂN – NÉT ĐẸP CỦA ĐẠO PHẬT VIỆT NAM TỪ QUÁ KHỨ ĐẾN HIỆN TẠI

Thứ tư - 08/05/2019 19:06
Nguyễn Công Lý - Nguyễn Thị Thanh Mai
375






 
TINH THẦN Y DUN, Y TC, NHẬP THẾ, HỘ QUC AN DÂN – NÉT ĐẸP CA ĐO PHT VIT NAM TQUÁ KHỨ ĐẾN HIỆN TI

Nguyn Công Lý* Nguyn Thị Thanh Mai**






TÓM TT

Đạo Pht từ Nam n bằng đường bin truyn vào nước ta rt sớm, có thể từ thế kỷ thứ 3 trước CN thông qua các phái đn truyn giáo do A Dục đại đế (Asoka, trvì 273-232 TrCN) cử đi. Vốn là một hệ tư tưởng với chủ trương bình đẳng, dân chvà rng mở, nên từ khi truyn vào nước ta, đo Pht đã gp gỡ tính linh hot, mm do, uyn chuyn, rng mở của cư dân lúa nước Vit, nên đã nhanh chóng bén rvà phát trin mnh, to nên một đo Pht Vit Nam với nhng nét đp đc thù độc đáo, đó là tinh thn tùy duyên, tùy tục, nhp thế, hộ quốc an dân, luôn đồng hành cùng dân tc. Bằng lịch sphát trin hơn hai ngàn năm của đo Pht Vit Nam, dù đề tài này kng mới, nhưng với cách tiếp cn và nhn thức mới, cùng nhng tư liu chng cứ mới, bài viết sẽ lý giải và minh chng nhng nét đp đc thù mang tính truyn thống của đo Pht nói chung, đo Pht Vit Nam nói riêng từ quá khứ đến hin ti.
  1. GIỚI THIỆU
Trước đây, trong một thời gian rt dài, nhiu nhà nghiên cứu


*. PGS.TS., Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQG TP.HCM.
**. CN., Nguyên Hiu trưởng Trường Vĩnh Hải 1, TP. Nha Trang, Vit Nam.
 


trong và ngoài nước thường cho rằng đo Pht là đo xut thế, xa lìa cuộc đời. Theo tôi, đây là một nhn định sai lc, vì họ kng hiu bản cht của giáo lý tư tưởng nhà Pht nên mới khẳng định như thế. Thực cht, qua kinh văn và qua cuộc đời của Đức Thích Ca, vsáng lp ra Đạo Pht, thì Đạo Pht là đo dit Kh, một hệ tư tưởng nhp thế, vì con người mà phng sự, giúp con người giải thóat nhng khổ đau trin min trong tam đồ lục đo.

Bằng chng tích văn hóa và lịch sử, bài viết này khẳng định đo Pht Vit Nam với hơn hai ngàn năm luôn là một đo Pht tuỳ tục, nhp thế, hộ quốc an dân.
  1. BIỂU HIỆN CA TINH THẦN Y TC, Y DUN, NHẬP THẾ, HQUC AN DÂN CA ĐO PHT VIT NAM TQUÁ KHĐẾN HIỆN TI
 
    1. Tinh thần tuỳ tục, tuỳ duyên, nhập thế, hộ quốc an dân của đo Pht Việt Nam trong thời kđu, lúc mới du nhập
Pht giáo truyn vào Vit Nam bằng đường bin, có thể từ một trong các phái đn truyn giáo do đại đế Asoka (A Dục, 273-232 TCN) cử đi khoảng sau năm 250 TCN (tức khoảng nửa sau thế k thứ 3 TCN).

Với chủ trương bình đẳng, dân chvà rng mở, các nhà sư trong quá trình truyn bá giáo lý Pht đà đã sử dụng nhng phương tin quyn xo và phương pháp khế lý, khế cơ, khế thời, khế xứ để giáo hóa chúng sinh, nên đo Pht có thể dễ dàng Hòa nhp với truyn thống văn hóa, phong tục tp quán, tín ngưỡng của cư dân nơi được truyn đến và phát trin bn vng trong lòng người.

Chng tích còn lại trong thời kđu này là câu chuyn hôn phối giữa công chúa Tiên Dung con vua Hùng và chàng trai nghèo nơi bến song: ChĐng Tử. Sau khi kết duyên, ChĐng Tử cùng Tiên Dung, lp làng và chợ búa sm ut, trên đường đi buôn gp sư Pht Quang, ông lin theo học Pht, vsau cùng Tiên Dung đi tu, sau khi mt đã hin linh để sau này giúp Triu Quang Phục đánh gic giữ nước vào thế kỷ thứ VI. Vì thế ChĐng Tử được nhân dân tôn vinh là một trong Tbt tử.

Trước khi đo Pht vào Vit Nam thì dân tộc ta đã có tín ngưỡng thờ Mẫu (Tam tòa Tnh Mẫu): Bà Tri, Bà Đất, Bà Nước (Mẫu
 


Thượng Thiên/ Thượng Thiên phủ, Mẫu Thượng Ngàn/ Thượng Ngàn phủ, Mẫu Thoải/ Thuỷ ph), vsau, khoảng thế kXVI, nhân dân còn tôn vinh một bà mẹ na, biu tượng cho Nhân phlà Mẫu Liu Hnh. Hồi y, tổ tiên ta còn có tín ngưỡng thờ các vị thn nông nghip, tôn sùng các hin tượng tự nhiên, tục thờ hòn đá thiêng… Nhng bà mẹ như Mẹ Âu Cơ khai sinh dân tộc, sáng to văn hóa. Mẹ của Tnh Gng sinh ra người anh hùng khổng lồ chống ngoại xâm bo vđt nước

Dù nhng chng tích trên chỉ là dựa theo truyn thuyết, nhưng truyn thuyết thì bao giờ cũng mang i cốt lõi của sự thật lịch snên kng thể phủ nhn được.
    1. Tinh thần tùy tục, tùy duyên, nhập thế, hộ quốc an dân của đo Pht Việt Nam trong hơn một ngàn m Bc thuộc cho đến khi nước nhà giành lại độc lập vào đu thế kỷ thứ X
Trong hơn một ngàn năm bị Bắc thuộc dù bị chính sách cưỡng bức, áp đt và đồng hóa văn hóa của các vương triu phong kiến Trung Quốc, nhưng dân tộc Vit chúng ta vẫn kng bị đồng hóa, trái li, mỗi khi có cơ hội là vùng dy đánh đuổi ngoại bang để quyết giành lại độc lp tự chủ. Ta dù bị mt nước nhưng kng bị mt làng, mà làng xã là nơi bo tồn và truyn phát văn hóa tư tưởng của dân tộc, ở đó nhà chùa là nơi gìn giữ và truyn phát cái hồn cốt văn hóa tư tưởng đó. Và chính các vsư là nhng chiến sĩ tiên phong trên mt trận văn hóa tư tưởng này.

Trong Hòan cnh đt nước bị ngoại xâm cai tr, ngay từ đu công nguyên, nhà chùa đã là nơi hun luyn nghĩa binh tham gia chiến đu để bo vệ quê hương. Chẳng hn, hồi bọn xâm lược nhà Hán áp bức, vì nợ nước thù nhà mà hai chị em Bà Trưng pht ckhởi nghĩa đánh đuổi tên Thái thú Tô Định để giành lại độc lập chủ quyn của dân tộc trong ba năm (40-43), trong đó có một trong nhiu vnữ tướng là Bát Nàn phu nhân. Bà Bát Nàn là một vTkheo ni ở Thái Bình, bà đã hun luyn một đội nữ binh vài tm người, tp hợp chiến đu dưới ngọn cờ của Hai Bà Trưng, góp phn giành lại 65 thành trì ở cõi Lĩnh Nam. Nhưng sau đó, Mã Vin đã dùng gian kế, đội quân khởi nghĩa của ta bị tht bi, Hai Bà tuẫn tiết thì bà Bát Nàn trvề quê nhà tiếp tục hành trì tu tp, chăm lo phn tâm linh cho nhân dân trong vùng. Cùng thời đim y, theo truyn thuyết,
 


còn có hai nữ đệ tử của sư bà Phương Dung ở chùa Yên Phú (nay thuộc xã Liêm Ninh, huyn Thanh Trì, Hà Ni) cũng đã cởi cà sa, khóac chiến bào’ để tham gia vào đội nnghĩa quân của Hai Bà.

Cũng trong nhng thế kđu công nguyên, nối tiếp tín ngưỡng thờ Mẫu, khi đo Pht đã có vị trí trong tâm thức cư dân Vit thì ông cha ta còn tôn vinh một người Mnữa: MMan Nương. Câu chuyn Man Nương gn với hệ thống Tpháp gốc ở vùng Luy Lâu, Bắc Ninh, bà là một nPht tử đến chùa làm công qu, rồi thụ thai thn k, qua phép màu của sư Già La ĐLê, đứa bé sau này biến thành hòn đá phát sáng nm trong gốc cây thiêng Dung Thụ, bà được tôn vinh thành Pht Mẫu và hòn đá phát sáng (Thch Quang Pht), được nhân dân dựng tháp phng thờ. Gốc cây thiêng được các nghệ nhân tc thành tượng bốn vnữ thn Mây, Mưa, Sm, Chớp được thờ nơi hệ thống chùa Tpháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Đin - Bà u, Bà Đậu, Bà Tướng, Bà Dàn) ở Thun Tnh (Bắc Ninh), và các bản sao ở Gia Lâm (Hà Ni), Thường Tín (Hà Đông cũ), Hưng Yên, Hà Nam. Tín ngưỡng này gn lin với đời sng của cư dân nông nghip lúa nước phương Nam. Cây gy thn của sư Già La ĐLê trao cho mẹ Man Nương, với nhiu phép l, cm gy xuống đt, nước sphun trào lên, nhờ thế Mẹ mới giúp nhân dân trong vùng thóat khỏi cnh hn hán.

Hệ thống Tpháp trong truyn Man Nương được nhân dân vùng lúa nước xem như là vphúc thn để giúp dân cu mưa thun gió hòa, mùa màng phong túc, cây cối xanh tươi phát trin. Ngày hội tm Pht mồng tám tháng tư âm lịch hàng năm trong truyn Man Nương ng chính là ngày nam nữ bốn phương về chùa để dự lễ hội, vui chơi ca múa. Ngày kỷ nim bà Man Nương lại trùng với ngày đn sinh của Đức Pht Thích Ca u Ni. Hệ thống chùa Tpháp là chng tích sinh động vskết hợp, hội nhp giữa đo Pht với tín ngưỡng dân gian nguyên thuỷ của cư dân Vit Nam1.
  1. Tpp dùng để chỉ các Nữ thần trong tín ngưỡng Vit Nam gm: Mây - Mưa - Sm - Chớp, đại din cho các hin tượng tự nhiên có vai trò quan trng trong xã hội ng nghip. Sau này khi Pht giáo vào Vit Nam thì nhóm các Nữ thần này được biến tnh Tpp với truyn thuyết v Pht Mẫu Man Nương. Hệ thống Tpp ở đồng bằng Bắc bộ gồm các đa chỉ sau:
- Tpháp ở Bc Ninh: Đây là hệ thống gc. 1. Chùa Dâu, các tên chHán là Diên ng, C Châu, Thin Định, ở xã Thanh Khương, huyn Thun Thành, thờ Pháp Vân, nên gọi là bà Dâu.
  1. Chùa Đu, tên chlà Thành Đo tự, ở xã Thanh Khương, thờ Pháp Vũ, nên gọi là bà Đu.
  2. Chùa Tướng (chùa Phi Tương), tên chlà Phi Tướng Đại Thin tự, ở xã Thanh Khương,
 


Từ mốc văn hóa này mà nhiu ngôi chùa ở Vit Nam bên cnh thờ Pht còn có cả thờ Mẫu (Tin Pht hu Tnh), vsau còn thờ các vanh hùng văn hóa, anh hùng cứu nước mà văn bia Sùng Thiện Diên Linh tp bi của Nguyn Công Bt đời Lý và các truyn ký như Việt điện u linh, Lnh Nam chch quái và các bộ sử thời phong kiến như Đại Việt sử ký toàn thư đời Lê, Khâm đnh Việt sử thông gm cương mục đời Nguyn, có ghi chép li.

Nhng hình nh biu tượng văn hóa tư tưởng y đã phn ánh một chặng đường dài phát trin với quá trình dựng nước và giữ nước của lịch sdân tộc, đm bo cho dân tộc Vit khc phục và chiến thắng được cả thiên tai và địch ha.

Truyn thống và tư tưởng yêu nước nhân đo của dân tộc có thể bt nguồn từ skết hợp, hòa nhp vừa nêu. Cũng chính dựa vào cái nn tín ngưỡng nguyên thủy này mà vsau đo Pht có đủ điu kin để du nhp và bt rễ nhanh chóng, có nh hưởng sâu rng trong đời sng tâm linh của cư dân Vit thời xưa. Mt khác, người Vit vốn là


huyn Thun Thành, chùa thờ Pháp Lôi, nên gọi là bà Tướng. 4. Chùa Dàn, tên chHán là Xuân Quang tự, nằm ở thôn Phương Quan, xã Trí Qu, thờ Pháp Đin, nên gọi là bà Dàn. Chùa Đậu ở Bắc Ninh đã bị Pháp phá hy, nên pho tượng Pháp Vũ đem về thờ chung trong chùa u. Ngoài 4 chùa trên, còn chùa TMãn Xá (chùa Phúc Nghiêm) thờ bà Man Nương là Mẹ của Tpp.
- Tpháp ở HNi: Chùa Keo (Sùng Nghiêm tự) ở xã Kim Sơn, huyn Gia Lâm thờ Pháp Vân, nên gọi là bà Keo. Chùa Nành (Ninh Hip tự), ở xã Ninh Hip thờ Pháp Vân, gọi là bà Nành. Chùa Sét ại Bi tự) ở thôn Gp Lục, xã Thịnh Lit, huyn Thanh trì (nay là phường Gp Lục, qun Hai Bà Trưng), thờ cả Tpp. Ngoài ra ở Thanh Trì còn có chùa Pháp Vân, chùa Pháp Vũ.
- Tứ Pp ở Hưng Yên: Tại xã Lc Hng có các chùa: chùa Thái Lc thờ Pháp Vân. Chùa Hng Cu thờ Pháp Vũ. Chùa Nhc Miếu thờ Pháp Lôi. Chùa Hng Thái thờ Pháp Điện. Tại xã Lc Đạo có các chùa: chùa Thôn Cu thờ Pháp Vân, chùa Hoằng thờ Pháp Vũ, chùa Hướng Đạo thờ Pháp Lôi, chùa Tân Nhuế thờ Pháp Vân
- Nhóm Tứ Pp ở HĐông (cũ): chùa Pháp Vân, ở xã Văn Bình, huyn Thường Tín, thờ Pháp Vân, chùa Đậu (chùa Thành Đạo), ở xã Nguyn Trãi, huyn Thường Tín) thờ Pháp Vũ.
- Nhóm Tứ Pp ở HNam: chùa Quế Lâm (chùa Bến, nên gọi là bà Bến), chùa Do L, chùa Thôn Bốn, chùa Tiên thờ Pháp Vân. Chùa Trinh Sơn, chùa Bảo Sơn (chùa Bà Đanh) thờ Pháp Vũ (nên gọi là bà Đanh). Chùa Đặng , chùa Nứa thờ Pháp Lôi. Chùa Bầu thờ Pháp Đin (gọi là bà Bầu). Các chùa khác như chùa Quyn Sơn (Thi Sơn, Kim Bảng), chùa Thanh Nộn, chùa Phú Viên, chùa và đình làng Lt Sơn (xã Thanh Sơn, huyn Kim Bảng), chùa Chanh Thôn (Văn , Kim Bảng) có phối tự thờ TPháp trong thần đin. Tại Hà Nam, TPháp đã được gọi bằng nhng cái tên nôm na tn mt. Dân làng Đanh Xá gọi Pháp Vũ là bà Đanh (chùa Bà Đanh), dân làng Quế Lâm gọi Pháp Vân là bà Bến (chùa Quế Lâm), dân tnh phố PhLý gọi Pháp Đin là bà Bầu (chùa Bà Bầu).
 


một dân tộc tự lực tự cường, truyn thống bt khut cùng tinh thn linh hot mm do của cư dân lúa nước, cha ông ta ngày y đã biết vừa tiếp thu và sàng lọc nhng cái mới lạ đối với mình, kể cả tiếp thu nhng tinh hoa từ phía đối phương; lại vừa chống lại cái mới đó. Vic giao lưu - tiếp biến này có tính quy lut. Cha ông ta ngày y chỉ tiếp thu kế thừa nhng gì có lợi cho dân tộc mình, phù hợp với bản sc văn hóa của dân tộc mình. Do vy dù các hệ tư tưởng hay tôn giáo nào có truyn vào Vit Nam thì cũng đu bị tiếp biến thành cái riêng của Vit Nam, thể hin bản sc dân tc. Đo Pht cũng thế. Đó là ý nghĩa của câu nói Mỗi n tc có mt ông Bụt của riêng mình. Đo Pht với hệ tư tưởng rng mở dân chvà bình đẳng nên rt phù hợp với tính png khoáng rng mở, linh hot, mn do của cư dân lúa nước. Đó là lý do tại sao đo Pht khi truyn sang nước ta lại dễ dàng bt rễ nhanh chóng trong tâm linh của cư dân nơi đây, góp phn làm nên một đo Pht Vit Nam đm đà bản sc dân tộc, mang tinh thn tuỳ duyên, tuỳ tục, nhp thế, hộ quốc an dân.
    1. Tinh thần tùy tục, tùy duyên, nhập thế, hộ quốc an dân của Pht giáo Việt Nam thời trung đi (thế kỷ X – XIX)

+ Thời Lý – Trn (thế kỷ X – thế kỷ XIV)


Học giNguyn Đăng Thục đã nhn định thú vrằng: Phật go lmt tôn go mcửa đc nhất trong c tôn go thế giới, không tự khẳng đnh mnh lthật mphđnh cNgvà Pháp, siêu lên cả Có lẫn Không, mới có thể cống hiến cho n tc Việt Nam đất Giao Chi nhựa sống thiết yếu để hợp nhất các khuynh hướng tư tưởng, tín ngưỡng giao lưu xung khc thnh i ý thức hệ khai phóng của địa lý đòi hỏi”2. Ngay từ ngày đu du nhp, như một ht giống tốt gp mnh đt màu mỡ thích hợp, đo Pht đã ny nở và phát trin nhanh chóng, mà đỉnh cao là vào thời Lý - Trần. By giờ, đo Pht giáo có cả giáo quyn lẫn thế quyn, đã nh hưởng sâu rng trong qun chúng và chi phối cả vmt sinh hot vt cht đến phong tục tp quán lẫn tâm linh con người. Thời y, trong công cuộc dựng nước và giữ nước của buổi đu phục hưng, đo Pht đã giữ một đa vvà đóng một vai trò cực kỳ quan trng.
Thời đại Lý - Trần là thời đại thống nht đt nước, thống nht

 
  1. Nguyn Đăng Thục, Phật giáo Việt Nam, Mt Đt xut bản, SG, 1974.
 


cng đồng; thời đại phục hưng nhng giá trvăn hóa truyn thống của dân tc, phát trin đt nước và là thời đại khoan gin, an lc, nhân thứ, rng mở và dân chủ. Thời đại này đã hình thành nn văn hóa Thăng Long rực rỡ, đã làm nên một du n quan trng kcó thể gp lại trong lịch svăn hóa - tư tưởng Vit Nam, mà nn văn hóa đm cht nhân văn y gn lin với đo Pht. Hào khí của thời đại Lý - Trần nói chung và hào kĐông A bt dit của đời Trần có được là hình thành từ nn văn hóa Thăng Long này.

Trong lịch sđo Pht Vit Nam nói chung, đo Pht thời Lý - Trần nói riêng thì các đời Đinh, Tin Lê, Lý và đu đời Trần (từ thế kỷ X đến nửa đu thế kXIV) đã phát trin cực thịnh, mà trong tâm thức mọi người đu coi đo Pht gn như là Quốc giáo, dù các triu đại phong kiến Vit Nam chưa có triu đại nào ban sc chỉ công nhn là Quốc giáo. Hồi y, Nhà nước đã định ra chức tăng quan, mời các vị thin sư đo cao đức trng làm cvn cho triu đình, như Ngô Chân Lưu được vua Đinh Tiên Hòang ban hiu Khng Vit đại sư và phong chức Tăng thống vào năm 971 khi sư mới ngoài 40 tuổi. Chính cái tên vua ban này cũng nói lên ý nghĩa Pht giáo gn lin với dân tộc, với đt nước: nhsư khng ph(phù trợ) nước Việt. Theo Thiền uyển tập anh thì by giờ phàm c việc quân quốc triều đnh, sư đều tham dự3. Dưới triu Lê Đại Hành, sư càng được nhà vua coi trng hơn. Nhà sư đã dùng uy lực thn thông để giúp vua đánh tan quân Tng xâm lược vào năm 9814. Trong công tác đối ngoi, triu đình cũng dựa vào các nhà sư để đón tiếp sgi nước ngoài. Sách Thiền uyển tập anh và Đại Việt sử ký toàn thư đã chép vic sư Khng Vit cùng sư Pháp Thun đại din triu đình đón tiếp sứ thn nhà Tng là Lý Giác: Năm Thn Phúc thbảy (986), sginhTống lLGiác sang nước ta, vua sai sư thay đi qun áo, gi làm người cai quản bến đ(Giang lệnh s) để xem t cử đng của Giác. c qua sông, thấy hai con ngỗng đang bơi gia sông, Giác ngâm đa:
鵝鵝兩鵝鵝,仰面向天涯.
Nga nga lưỡng nga nga, Ngưỡng diện hướng thiên nha.

 
  1. Thiền uyển tập anh, Ngô Đức Thọ và Nguyn Thúy Nga dịch chú, Phân vin Nghiên cứu Pht học và NXB Văn học, HN, 1990, tr. 43.
  2. Thiền uyển tập anh, Ngô Đức Thọ và Nguyn Thúy Nga dịch chú, Phân vin Nghiên cứu Pht học và NXB Văn học, HN, 1990, tr. 43.
 


(Song song ngỗng mt đôi, Vươn cổ ngước chân tri.) đang cm chèo, bước tới đc tiếp:
白毛鋪綠水,紅棹罷青波.
Bạch mao phô lục thy, Hồng trạo bãi thanh ba. (Nước xanh ngời lông trng, Sóng biếc chân hồng bơi.) LGiác thấy vậy lấy làm thán phc5.

đây, kng n vnguồn gốc của bài thơ, bởi cả hai ông đu mượn bài thơ Vnh ngỗng6  của Lc Tân Vương 駱賓王 (khoảng
640-684) đời Đường rồi thay đổi đôi chút từ ngữ, mà chỉ muốn nói đến vic sư Pháp Thun ha thơ đã làm cho sứ nhà Tng một phen kinh ngc sư Thuận thi cú, Tống sứ kinh dị” như sách Đại Vit ský tn thư đã bình, nên trước khi vnước, Lý Giác có viết một
bài thơ, trong đó có hai câu kết bài: 天外有天應遠照, 溪潭波
靜見蟾秋.
Thn ngoại hu thn ưng viễn chiếu, Khê đàm ba tnh kiến thiềm thu. (Ngoài trời lại có trời soi na, Sóng lặng khe đm ng trăng thu.)7 Đkhi xem thơ, sư Khng Vit đã tâu với vua Lê rằng: Sứ Bc
n kính bệ hchẳng kém gì vua Tống8.

Ssách còn chép rằng, thin sư Pháp Thun rt được vua nể trng nên thường không gi thẳng tên thật vhay ủy thác cho sư c công việc văn hn. Một ln Pháp Thun được vua hỏi n vvic nước, sư đã trả lời bằng một bài thơ ngũ ngôn tứ tuyt với nội dung vừa ca ngợi vương triu nhà Lê vừa thể hin nim tin ở vn mnh đt nước. Cùng với bài từ khúc của Khng Vit tin sgiLý Giác v lại Trung Quốc thỉ bài này là một trong hai tác phm sớm nht trong văn học viết Vit Nam sau khi nước nhà giành lại tự chủ:


 
  1. Thiền uyển tập anh, Ngô Đức Thọ và Nguyn Thúy Nga dịch chú, Phân vin Nghiên cứu Pht học và NXB Văn học, HN, 1990, tr. 180-181.
  2. Bài thơ Vnh nga 詠鵝 của Lc Tân Vương như sau:
鵝鵝鵝,    曲項向天歌.白毛浮綠水,紅掌撥清波
Nga nga nga, Khúc hng hướng thiên ca. Bạch mao phlục thy, Hồng chưởng t thanh ba.
  1. Vin Văn học, Thơ văn Lý - Trn, tp 1, NXB Khoa học Xã hội, HN, 1977, tr. 203.
  2. Thiền uyển tập anh, Ngô Đức Thọ và Nguyn Thúy Nga dịch chú, Phân vin Nghiên cứu Pht học và NXB Văn học, HN, 1990, tr. 44.
 


答國王國祚之問
國祚如藤絡,南天里太平.無爲居殿閣,處處息刀兵.
Đáp Quốc vương Quốc tchi vấn
Quốc tnhư đằng lc, Nam thiên lthái bình. Vô vi cư điện các, Xứ xứ tức đao binh.
(Trả lời nhà vua hỏi vvn nước
Ngôi nước như mây qun, Trời Nam mở thái bình. Vô vi trên đin gác, Chốn chốn tt đao binh.)9
Thin sư Vn Hnh 萬行 (938-1025) là người từng được vua Lê Đại Hành 黎大行 (941-1006, trvì 980-1006) tôn kính. Ông có tài
tiên đn. Năm 980, quân Tng ồ t kéo sang xâm lược nước ta, thế gic lúc này rt hung dữ, nhà vua lo ngại hỏi sư về tình thế, sư bình tĩnh quyết đn: chỉ trong ba bảy ngày giặc tất phải lui10. Lời tiên đn y quả nhiên là đúng! Ln khác, vua Lê muốn ct binh chinh pht Chiêm Tnh nhưng còn do dự, vua hỏi ý, sư khuyên nên cấp tốc tiến quân, nếu không sẽ lỡ dp11. Trận y, quân ta tn thắng. Khi non sông sch bóng quân thù, thin sư vừa tu tp hành đo vừa tham gia công vic trnước yên dân. Cuối đời Lê, Lê Long Đĩnh tàn ác, bt nhân, chính ngài Vn Hnh đã vn động các quan lại triu đình để tôn phò quan Tn vệ Đin tin Chỉ huy sLý Công Un lên ngôi vua. Đó là nhờ nhà sư biết được vn nước, biết được nhà Lê sẽ tiêu vong và họ Lý sẽ lên thay thế. Lời nhà sư khuyên Lý Công Un hãy vì nhân dân mà lên ngôi chng ttm lòng nhà sư luôn hướng về cuộc đời, về cuộc sng nhân dân và luôn nghĩ vvn mnh của đt nước:

Kim quán thiên hchi tnh, Ltối đa, vô như Thân vệ khoan từ nhân thứ, phđắc chúng tâm, nhi chưởng ác binh bính giả. Tông ch
vạn n, xả thân vệ, kỳ thùy đương chi?” 今觀天下之姓, 李最多,
無如親衛寬慈仁恕, 頗得衆心, 而掌握兵柄者. 宗主萬

 
  1. Vin Văn học, Thơ văn Lý - Trn, tp 1, NXB Khoa học Xã hội, HN, 1977, tr. 204.
  2. Thiền uyển tập anh, Ngô Đức Thọ và Nguyn Thúy Nga dịch chú, Phân vin Nghiên cứu Pht học và NXB Văn học, HN, 1990, tr. 188.
  3. Thiền uyển tập anh, Ngô Đức Thọ và Nguyn Thúy Nga dịch chú, Phân vin Nghiên cứu Pht học và NXB Văn học, HN, 1990, tr. 189.
 


, 舍親衛,其誰當之? (Nay xem trong thiên hạ, người hLrất
nhiều nhưng không ai bằng Thân vệ, l người khoan từ, nhân thứ, lại
được lòng n cng mà binh quyền nm trong tay. Người đng đu
muôn n chẳng phi Thân vệ thì còn ai đương ni na)12.

Cho nên khi qun thn tôn vinh Lý Công Un lên ngôi và sau đó nhà vua vì muốn tnh kế lâu dài cho đời saunên đã cho dời đô từ Hoa Lư vĐại La, rồi đổi tên là Thăng Long. Sư Vn Hnh được nhà vua tôn là Quốc sư. nh hưởng của sư rt lớn nên sau này, vvua thứ tư nhà Lý là Lý Nhân Tông (1066-1128, trvì 1072-1128) vẫn còn làm thơ truy tán, ngợi ca công đức của sư:
萬行融三際,真符古讖詩.鄉關名古法,柱錫鎮王畿.
Vạn Hnh dung tam tế, Chân phù cổ sấm thi. Hương quan danh Cổ Pháp, Trtch trấn vương kỳ. (Vn Hnh thông ba cõi, Lời ông nghim sm thi.
Quê hương làng CPháp, Chống gy trấn kinh k.)13

Hình nh nhà sư chống gy giữ gìn đt nước đã nói lên mối quan hệ cht chẽ giữa Pht giáo với chính tr, giữa nhà chùa với đt nước. Nhà sư nhp thế giúp đời là một hình nh đp, chng tby giờ đo gn lin với đời và Pht pháp với dân tộc, với đt nước là một. Thời y, có rt nhiu nhà sư đã có nhng hành động cao c, xả thân vì đt nước như thế!

Vtăng pNguyn Thường đã thẳng thn và dũng cm khuyên vua Lý Cao Tông  李高宗 (1173-1210, trvì 1175-1210) kng
nên mê đm âm nhc buồn thảm chỉ vì thin sư sợ nhà vua lầm lc mà bỏ bê vic nước: Kim Chúa thượng tuần du vô đ, chnh giáo quai ly, hn su khốn. Chthử dũ thậm. Nhi nhật văn ai oán chi âm, vô
nãi loạn vong chi triệu h.”   今主上巡遊無度, 政教乖離,
民愁困. 至此愈甚. 而日聞哀怨之音, 無乃亂亡之兆乎?
(Nay chúa thượng rong chơi vô đ, chính giáo sai lìa, dân chúng
buồn kh. Đến nay cng tệ. Thế mà ngày ngày lại nghe nhc ai oán,
đó chẳng phải là điu nước mt, nước lon hay sao?)14.

 
  1. Vin Văn học, Thơ văn Lý - Trn, tp 1, NXB Khoa học Xã hội, HN, 1977, tr. 216.
  2. Vin Văn học, Thơ văn Lý - Trn, tp 1, NXB Khoa học Xã hội, HN, 1977, tr. 433.
  3. Vin Văn học, Thơ văn Lý - Trn, tp 1, NXB Khoa học Xã hội, HN, 1977, tr. 528.
 


Đời Trần, khi vua Trần Thái Tông (1218-1277, trvì: 1225- 1258, Thái Thượng Hòang: 1258-1277) muốn bỏ ngôi lên núi cu Pht, Quốc sư Viên Chng (Trúc Lâm đại sa môn) đã khuyên nh vua. Lời khuyên y sau này được nhà vua ghi lại trong bài Tựa sách Thiền tông chnam: Phàm vi nhân quân giả, dthiên hchi dục vi dc, dthiên hchi m vi m. Kim thiên hdục nghinh bệ hquy chi, tắc bệ han đắc bất quy tai. Nhiên ni điển chi tham, nguyện bệ hmỗi vong tư tu văn.”
凡為人君,以天下之欲為,以天下之心為.今天 下欲迎陛下歸之,則陛下安得不歸哉.然内典之探,願陛下 每忘斯須聞. (Phàm người làm vua, ly ý muốn của thiên hlàm
ý muốn của mình, ly lòng của thiên hlàm lòng của mình. Nay bề tôi muốn rước bệ hvề thì bệ hsao có thể kng về được? Song, s nghiên cứu Pht đin, xin bệ hạ chớ quên điu đó mà thôi.)15

Lời khuyên của thin sư mà nghe như lời của nhà nho, thể hin ý nghĩa nhp thế tích cực của đo Thin thời Lý - Trn, phn nào bộc lộ lòng yêu nước, yêu cuộc sng. Vâng lời chỉ dy của Quốc sư, thể theo nguyn vng của Quốc lão và ý muốn của dân chúng, Thái Tông đã vlại ngôi. Đây là lúc nhà vua thực hành và chiêm nghim lời dn của Quốc sư. Nhà vua từ giã Yên Tử, từ giã Quốc sư tức từ giã Đạo để v với Đi. VĐời để hành Đạo. Qua my mươi năm, nhà vua đã ly ý muốn của thiên hlàm ý muốn của mình(dthiên
hchi dục vi dục 以天下之欲為欲) và đã ly thân mình m người
đưa đường cho thiên h(Tựu nhược dthân vi thiên hchi tiên d
就若以身為天下之先也)16. Đó là tinh thn quên mình vì người.
Đây là một đức tính tốt đp của nhà Pht và cũng là một truyn
thống cao cả của dân tộc Vit Nam - vừa yêu nước lại vừa nhân văn.

Chỉ by nhiêu đó thôi cũng đủ chng tPht giáo và văn học Pht giáo kng thóat ly cuộc đời mà trái lại đã gn bó, quan tâm đến vn mnh của đt nước, đến san nguy của xã tc. Do thế, chính bộ phn văn học này đã góp phn làm nên và đt nn móng cho nội dung yêu nước và nhân văn trong văn chương Vit Nam.

Đặc bit, ln đu tiên, sau hơn một ngàn năm tồn ti, Pht giáo Vit Nam dưới đời Trần mới thành lp một giáo hội thống nht v
  1. Vin Văn học, Thơ văn Lý - Trn, tp 2, NXB Khoa học Xã hội, HN, 1988, tr. 24- 29.
  2. Vin Văn học, Thơ văn Lý - Trn, tập 2, NXB Khoa học Xã hội, HN, 1988, tr. 24-29.
 


tổ chức: Phật go nhất tông. Và lúc này, các tăng ni đu được Nhà nước cp độ đip (giy chng nhn Tăng tịch).

Giáo hội Pht giáo nht tông đời Trần gn lin với sự thành lp Thin phái Trúc Lâm Yên Tbằng cách sáp nhp và dung hợp ba Thin phái đã có ở nước ta trước đó là: Thin phái T-ni-đa-lưu-chi (thế kỷ VI), Thin phái Vô Ngôn Thông (thế kỷ IX) và Thin phái Tho Đường (thế kXI). Quá trình thành lp Giáo hội Pht giáo nht tông này kng phải là vic làm tự phát, ngẫu nhiên mà là cả một quá trình suy tư tn trở để lựa chọn từ Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ đến Điu ngGiác hoàng Trần Nhân Tông.

Người thành lp giáo hội Pht giáo nht tông này là Đệ nht T Pht Hòang Trần Nhân Tông. Nhưng người đt nn móng quan đim tư tưởng cho Thin phái này là Trần Thái Tông, mà ssách đã tôn vinh Ngài là bó đuốc sáng của Thin học đời Trần. Có thể xem tư tưởng của Ngài là kim chỉ nam dẫn đường để Thin phái Trúc Lâm Yên Tử được thành lp và phát trin. Bên cnh, cn phải nhc đến vai trò của Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung với tư cách là người trao truyn tâm pháp cho Pht hoàng Trần Nhân Tông.

Như chúng ta đã biết, trước khi thành lp Thin phái Trúc Lâm Yên Tử thì Pht giáo Vit Nam đã có ba dòng Thin đang tồn tại và phát trin. Vnguồn gốc thì ba dòng Thin này đến từ ba nguồn khác nhau trên cơ sở của ba mối giao lưu - tiếp biến, từ đó mà Pht giáo Vit Nam phát trin.

Một là, trong giai đon đu tiên, Pht giáo Đi tha vi khu- ynh hướng Thin học tNam n trc tiếp truyn sang bng đường bin vào na cui thế kthứ I trước công nguyên vi kinh n hBát nhã. Đây là con đường giao lưu trực tiếp của giữa Vit Nam với n Đ.

Hai l, sang giai đon tiếp theo, Thin tông n Độ truyn sang Trung Quốc rồi đến Vit Nam bởi vai trò của ngài T-ni-đa-lưu-chi vào thế kỷ thứ VI với tư tưởng vô trụ, siêu vit hữu – vô. vị thin sư này đc pp ở Trung Quốc, được TTăng Xán n chng, nhưng tư tưởng Thin của T-ni-đa-lưu-chi lại kng chịu nh  hưởng Thin tông Trung Quốc, mà vẫn giữ truyn thống Thin của vùng Nam n. Tư tưởng vô trụ, siêu việt hữu – vô và chân không diệu hữu mà thin sư T-ni-đa-lưu-chi trao truyn cho các đệ tử của Ngài là
 


tư tưởng trong kinh văn hệ Bát-nhã, tức một sphát trin tư tưởng Pht giáo Đại thừa ở giai đoạn đu.

Ba l, ở giai đoạn cuối, Thin tông Trung Quốc truyn vào Vit Nam bởi vai trò của ngài Vô Ngôn Thông vào thế kỷ thứ IX với pháp môn Đốn ngộ và tư tưởng Phật tại m. Đến đây, với Thin phái này, nếu xem xét trên bình din cách thức tu tp thin định, hình thức truyn thừa và quan nim tư tưởng thì có thể thy Thin phái này Hòan tn mang du vết, bản sc Trung Hoa, với nhng thanh quy thin vin cụ thể và có truyn thống ghi chép lịch sử, tức ghi chép các thế hệ truyn thừa theo thbc tôn ty. Điu này có nghĩa Thin Pht n Độ đến đây đã tiếp biến qua lăng kính tư duy Nho giáo của Trung Quốc.

Tại sao ở thời đại Lý - Trần cha ông ta kng chọn Nho giáo mà lại chọn Pht giáo làm ý thức hệ và dùng nó như là kim chỉ nam cho sphát trin đt nước? Vn đề này trước đây đã được các nhà nghiên cứu lý giải ri, chỉ xin được nhn mnh thêm bởi đây là s tn trở lựa chọn có chủ đích của các bc Tổ tiên. Và vic thành lp Thin phái Trúc Lâm theo mô hình Giáo hội Pht giáo nht tông ng là sự lựa chọn có chủ đích của các vua nhà Trần, mà người đứng đu Nhà nước cũng là người đứng đu Giáo hội là một vVua
- Pht: Pht Hòang Trần Nhân Tông. Mô hình kép Vua - Pht này trước đó và by giờ cũng đã có ở một vài quốc gia Đông Nam Á ly Pht giáo làm quốc giáo. Trong khi đó ở nước ta chưa bao giờ tôn vinh Pht giáo là quốc giáo, dù ở thời Lý - Trần Pht giáo phát trin cực thịnh, Nhà nước Đại Vit chỉ coi trng Pht giáo trên cơ sở quan nim Tam giáo đồng nguyên.

Cũng khẳng định là, đo Pht thời Lý - Trần với tinh thn tùy tục, tùy duyên, hòa quang đồng trần, cư trần lc đo, nhp thế hành đo nên đã sn sinh ra nhng thin sư luôn luôn hướng về cuộc sng, hoà nhp với cuộc đời. Điu này còn ct nghĩa tại sao ở ta thời nào cũng có nhng vị thin sư tn tuỵ hy sinh cho đt nước, cho dân tộc và nhiu ngôi chùa lại thờ các vanh hùng cứu nước, anh hùng văn hóa. Vì thế, Pht giáo Thin tông thời Lý - Trần là một đo Pht mang tính dung hợp và nhp thế cao, đáp ứng được yêu cu của thời đại mà ở trên đã lý giải và minh chng. Khác với Thin tông n Đ và Trung Quốc, Pht giáo Thin tông khi Vit Nam đã kết hợp với tín ngưỡng bản đa, với yếu tố thn thut của Đạo giáo pháp
 


thut nên mới có câu chuyn nhng thin sư tiên đn vic xã tc như Vn Hnh, dùng pháp thut để chữa bnh trtà, để giáng long phục h, hay bay trên kng, đi dưới nước như Minh Kng; để tr thù cho cha, hay để đu thai như Đạo Hnh v.v... Đo Pht thời Lý
- Trn đã kết hợp với Mật tông. Hồi y có nhiu thin sư đọc chú, tu luyn các phép Tng trì Đà-la-ni của Mật tông. Mật tông được truyn vào nước ta sớm nht là vào khong nửa cuối thế kỷ X mà chng clà các cột kinh Đà-la-ni tìm thy ở Hoa Lư (Ninh Bình). Mật tông thường pha trộn với tín ngưỡng cổ truyn Vit Nam; đồng hoá nhng phương thut của Đo giáo pp thut, rồi nh hưởng trong qun chúng bng phép chữa bnh trtà. Pht giáo Thin tông thời Lý - Trn còn kết hợp với Tịnh Đtông. Qua tín ngưỡng của nn dân by giờ, Tịnh Đtông đi vào qun chúng bng con đường thuyết giáo từ bi, cứu kh, cứu nạn, bng cách dựng lên một cõi Tịnh đ, Tây phương Cực lc mà nơi đó có Pht A Di Đà sẵn sàng tiếp đón nhng người khi sng trên trần thế đã nh thin tu phúc, nim Pht, trai giới, cu ng sinh. Tịnh Đtông còn tôn vinh hình nh vị Bồ tát đc đo nhưng vì thương xót chúng sinh khổ não nênlại trn thế cứu vớt h. Hình tượng vị Bồ tát này chúng ta thường gp trong n học dân gian: Pht Bà Quán Thế Âm, tiêu biu cho sức mạnh kỳ diu và tình thương bao la. Kng phải ngẫu nhiên mà Thin phái Tho Đường đời Lý đã xây dựng chùa Một Cột bên cnh chùa Diên Hựu với mái chùa cong vút, chạm hoa sen nghìn cánh, trong đó lại thờ đức Quán Thế Âm. Dù vic này được vua Lý Tnh Tông cho xây dựng trên cơ sgic mộng của Hòang hu Mai Th. Cũng kng phải ngẫu nhiên mà Lục thời sám hối khoa nghi in trong Khoá hư lục được Trn Thái Tông biên son để tín đồ đọc tụng 6 lần trong một ngày đêm để giữ cho 6 căn (nn, nhĩ, tỵ, thit, tn, ý) được thanh tịnh, cũng chỉ vì Tịnh độ tông chủ trương tụng kinh nim Pht để giữ m được lặng lẽ thanh tịnh; để sám hối tội căn kiếp trước và để rửa sch tội lỗi ng ngày mc phi.

Nếu ở đời Lý để đáp ứng phn nào yêu cu về ý thức hệ của thời đi, Lý Tnh Tông đã thành lp Thin phái Tho Đường thì các vua nhà Trần cũng vì yêu cu của thời đại nên đã xây dựng một ý thức hệ độc lp. Cuộc ra đi của hai ông cháu nhà Trần là minh chng hùng hồn cho vic xây dựng trên. Nếu cuộc ra đi của Thái Tông kng trọn vn, thì cuộc ra đi của Nhân Tông đã toại nguyn và nhà vua đã tiến hành công vic này một cách vng chc, tn
 


din và trit đ. Kết quả là Thin phái Trúc Lâm Yên Tra đời với hệ thống tổ chức và kinh sách như một Thin phái độc lập. Tìm hiu hệ thống Thin học Trúc Lâm Yên Tkng chỉ đơn thun là tìm hiu giáo chỉ của ba vTổ: Nn Tông, Pháp Loa, Huyn Quang mà còn phải tìm hiu tư tưởng cùng vai trò đóng góp của các nn vt đt nn tảng trước đó là Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng sĩ Trn Tung.

Trên cơ sở tư tưởng dân chủ, rng mở và png khóang cùng tinh thn từ bi, vô ngã vị tha, bình đẳng kng pht bit của nhà Pht, kết hợp cách ứng xử linh hot mm do dễ thích nghi của cư dân lúa nước Vit Nam, các vvua nhà Đinh, Tin Lê, Lý và nht là nhà Trần đã thy rõ khnăng dung hợp này nên đã chọn Thin tông làm ý thức hệ chính thống. Các vđã nhn thức rõ tư tưởng của Pht giáo Thin tông mang tính ưu vit hơn nếu so với các hệ tư tưởng khác trong công cuộc ổn định để phát trin đt nước, trong vic truyn bá rng rãi giáo lý từ bi, tinh thn bình đẳng trong qun chúng nhm củng cố đn kết tn dân để to nên sức mnh tng hợp của thời đi, của dân tc. Pht giáo nht tông đời Trần với Thin phái Trúc Lâm Yên Tđã đáp ứng tốt yêu cu trên của thời đại mà lịch sgn hai tm năm của nhà Trần đã chng minh. Rõ ràng là mô hình Pht giáo nht tông đời Trần đã thống nht được ý thức hệ của thời đi; biu lộ tính độc lp và mang bản sc Đại Vit rõ nét; một Pht giáo nhp thế tích cực, tùy tục, tùy duyên, hòa quang đồng trần, chủ trương Pht tại tâm; và có một hình thức của một đo Pht của riêng Đại Vit.

Vic Pht Hòang Trần Nhân Tông kng chọn nơi nào khác mà đã chọn đỉnh cao Yên Tlàm non thiêng thánh đa của đo Pht Đại Vit bởi nơi đây kng chỉ là thắng tích tịch tịnh, giúp người tu hành dễ nhp tâm vào thin định và hòa đồng cùng với vũ trụ, mà dưới tm nhìn xa rng của Ngài, theo ý kiến của một ssgia phong kiến và hin đại thì đây còn là pháo đài, là tin đồn png ngự để theo dõi bước tiến của quân xâm lược Trung Quốc nếu chúng đến từ mn Đông Bắc nước Đại Vit. Vic lựa chọn này của Pht Hòang đã gn cht thêm mối quan hệ tương hỗ Đạo và Đi, Đạo pháp và Dân tộc, làm nên một đo Pht nhp thế tuyt vời và có như thế mới to nên sức mnh tng hợp của khối đại đn kết tn dân để làm nên nhng chiến công kvĩ mà lịch sđã ghi du.
 


Với nhng mục đích trên, Thin phái Trúc Lâm đã có nhng thành tựu rõ rt. Bn thân và hành trạng của vSơ TTrúc Lâm đã là minh chng cho một giáo chủ của Thin phái mới này. Trần Nhân Tông được tôn vinh là Pht Hòang với nhng truyn thuyết: Pht giáng sinh (Biến Chiếu Tôn), Thần Tiên giáng trần (Kim Pht Kim Tiên đồng tử). Thái tử Khâm - Trần Nhân Tông một vvua, một giáo chủ, một vanh hùng. Xưng là Pht, là Tvì sáng lp ra Thin phái mới, gọi là Tiên vì phong cách tiêu dao kiu Lão – Trang, tôn vinh là người anh hùng vì đã hai ln chỉ huy đánh tan gic Nguyên Mông hung hãn. Cuộc đời hành đo của Trần Nhân Tông đã mô phỏng theo hành động của Đức Pht Thích Ca khi xưa. Trần Nhân Tông bỏ ngôi vào Yên Tsơn, tm ở NgDi, ngồi thin định dưới gốc cây tùng chẳng khác nào khi xưa Thái tử Tt Đt Đa, từ giã cung vàng đin ngọc vào Tuyết sơn (Hymalaya), tm ở sông Ni Liên Thuyn Na, ngồi thin định dưới gốc cây Tt Bát La (Bồ Đ). Sau khi đc đo, Trần Nhân Tông dt hai môn đệ là Pháp Loa, Huyn Quang đi thuyết pháp ở Sùng Nghiêm, Siêu Loại giống như Đức Thích Ca dẫn các vđại đệ tử như ngài Ca Diếp, A Nan… đi thuyết pháp nhiu nơi khi ở Lộc Uyn, lúc ở Vương Xá thành, ở vườn cây của KĐà và trưởng giCp Cô Độc v.v... Nếu đức Thích Ca nhp dit trong tư thế nm nghiêng, tay phải gối đu, tay trái duỗi thẳng theo thân (tư thế nhp Niết n) thì Nhân Tông hóa theo kiu sư tử ngo. Tóm li, để trở thành giáo chủ mới, Nhân Tông đã mô phỏng lại vic làm của đức Pht Thích Ca ngày xưa. Kng phải ngẫu nhiên mà Nhân Tông cho xây dựng hệ thống kiến trúc Yên Tử thành ba bc chính: Giải Oan, Vân Yên, Vân Tiêu và trên cùng là bia chPht hòa nhp trong kng gian bao la để tượng trưng cho ba cõi: Dục giới, Sc giới, Vô sc giới và bia chPht kia tượng trưng cho Giải thoát. Đây chính là biu hin quan nim của Thin phái Trúc Lâm. Tt cả là cơ sở để có thể tìm hiu tư tưởng của Thin phái này. Điu thun lợi là ba vTTrúc Lâm và nhng vđt nn móng về tư tưởng cho Thin phái đu có trước tác để li, dù đã bị mt cũng khá nhiu, hin chỉ còn một s, nên qua đó ta cũng có thể hiu được tư tưởng của Thin phái Trúc Lâm tương đối có hệ thống. Thư tịch cổ cho biết Trần Thái Tông viết khá nhiu, nhưng hin chỉ còn Khoá hư lục, Thiền tông chnam (hin chỉ còn bài Tựa: Thiền tông chnam tự), Lục thì sám hối khoa nghi, Phthuyết, Luận văn, Nglc, Niêm tụng kệTt cả được người đời sau khc in chung trong Khóa hư
 


lục và một ít bài thơ. Tuệ Trung Thượng Sĩ thì còn thơ, kvà Thượng sĩ nglục ối cơ, tụng c). Trn Nn Tông son Thch Thất m ng, Thiền lâm thiết chunglc, Tăng gitoái sự, Đại Hương Hải ấn thi tập, Cư trn lạc đao phú, Đc thú lâm tuyền đạo ca; nhưng hin chỉ còn một bài phú, một bài ca và ngữ lục Sư đệ vấn đáp, bài n Thượng Sĩ hnh trng, cùng một sbài k, 32 bài thơ, một sn thư ngoại giao. Pháp Loa viết Đoạn sách lục, Tham Thiền chyếu, hin chỉ còn vài bài thi kn, một bài n Khuyến xuất gia tiến đạo ngôn, một ngữ lục Trúc Lâm đại tôn githượng ta thnh sư thchúng. Huyn Quang trước tác Ngc tiên tập cả nghìn bài, Vnh Vân Yên tự phú và son PhTuệ nglc, hin chỉ còn một bài phú và 24 bài thơ.

Xét nội dung triết lý tư tưởng phái Trúc Lâm chyếu là phải kho sát Khóa hư lục và Thượng sĩ nglục ng Thiền tông chnam tự vì qua một stác phm còn lại của ba vTTrúc Lâm, về nội dung tư tưởng cơ bản là nht trí với hai vcó công đu trong vic đt nnng quan đim tư tưởng cho sự hình thành Thin phái này.

Khóa hư lục là một lun thuyết triết lý với 32 đoạn lun thuyết, cuối mỗi đoạn tác gikết lại bằng my câu kệ theo hình thức thơ để người nghe, người học đo dễ thuộc, dễ nhớ mà thực hành, tu tp và 4 bài phổ thuyết n vvn đề sc thân con người với quy lut sinh lão bnh tử, thông qua hình nh bốn núi tương ứng với bốn mùa, từ đó dẫn dt người học đo phát tâm bồ-đ, tu tp thin định, hướng đến giải thóat. Lục thì sám hối khoa nghi là bản kinh nht tụng của đời Trần dùng để đọc tụng sáu ln trong một ngày đêm, mỗi ln đọc tụng nhm giữ một trong sáu căn cho thanh tịnh. Đây là phn thực dụng của kinh. Bên cnh phn lý thuyết trình bày quan nim của Thin phái vvn đề cơ bản của đo Pht như Pht, Tâm, Thin, Nhân sinh, Nguyên nhân của mọi khổ đau và Giải thoát. Nếu Thin tông truyn thống thường thực hành Thin định chkng chú trng Nim, thì Thin Trúc Lâm đã kết hợp cả hai: Thiền đnh v niệm Phật. Một skết hợp giữa Tịnh Đtông và Thin tông. Thin Trúc Lâm ít nhiu còn có pha tp màu sc Đạo giáo, chịu nh hưởng tư tưởng Lão - Trang. Một sbài kệ thi của Tuệ Trung như Sinh tử nhn nhi dĩ, Phóng cuồng ngâm vài đoạn trong Khóa hư lục, Cư trn lạc đạo phú, Đc thú m tuyền thnh đạo ca là nhng dẫn chng cho nhn định trên.
Chẳng hn, skết hợp tư tưởng Lão - Trang trong con người
 


thin sư với thú tiêu dao, tự ti, hòa đồng thiên nhiên chẳng khác nào một đo sĩ ung dung, xem đời như gic mộng: Chơi nước biếc, ẩn non xanh, nhân gian có nhiều người đắc ý; Biết đào hồng, hay liễu lc, thiên hnăng mấy chú tri âm.17

Núi hoang rừng qunh, ấy lnơi dật sĩ tiêu dao; Chiền vng am thanh, chỉn thực cnh đạo nhân du h.18
Y cẩu phvân biến thái đa, Du du đô phó mộng Nam kha.

(Cuộc đời như đám mây nổi luôn đổi thay nhiu v, Mơ màng đành phó cho gic mộng Nam kha.)19

Quay vvới thiên nhiên là cách để các vxa nh cõi đời, để dit dục, giúp cho m thanh tịnh mà nh Thin, chkng ngoài mục đích nào khác.

Bàn vPht, Trúc Lâm chủ trương Phật không có trong núi mchỉ có trong lòng.” (Thiền tông chnam tự); nếu “Lòng lặng lẽ mà biết, chnh là Phật vậy.” (Thiền tông chnam tự). Trúc Lâm đã kế thừa tư tưởng của Huệ Năng Phật và Thánh vốn không khác gnhautrong Pháp bảo đàn kinh và bổ sung thêm, tuy Pht và Tnh với hai con đường khác nhau nhưng cả hai cùng đưa con người đến một mục đích, từ đó Thin phái Trúc Lâm chủ trương Pht, Tnh pn công hợp tác (Thiền tông chnam tự).

Như vy, theo Trúc Lâm, Pht chính là ta, là tâm. Mt quan nim đồng nht trong sai bit. Nhquan đim này mà Thin phái Trúc Lâm gn gũi vi tư tưởng Thin nguyên thuhơn, dĩ nhiên, Trúc Lâm cũng có những kiến gii của riêng mình. Trần Nn Tông đã phát biu: Chỉn bụt llòng, sá ướm hỏi đòi cơ MT. Vậy mới hay: Bụt ở cng nh, chẳng phải tìm xa. Nhân khuy bản ta nên tìm Bt; đến cóc hay chỉn Bụt lta.20

Pht là m. Tâm là một cái gì trừu tượng như Pht tính: Tâm vương vô tướng hựu vô hnh21.
  1. Trần Nn Tông, Cư trn lạc đạo phú, trong Thơ văn Lý - Trn, tp 2, KHXH, HN, 1988, tr. 505.
  2. Trần Nn Tông, Cư trn lạc đạo phú, trong Thơ văn Lý - Trn, tp 2, KHXH, HN, 1988, tr. 505.
  3. TuTrung, Thế ti hư huyễn, trong Thơ văn Lý - Trn, tp 2, KHXH, HN, 1988, tr. 250.
  4. Trần Nn Tông, Cư trn lạc đạo phú, trong Thơ văn Lý - Trn, tp 2, KHXH, HN, 1988, tr. 505.
  5. Tuệ Trung, Tâm vương, trong Thơ văn Lý - Trn, tp 2, KHXH, HN, 1988, tr. 237.
 


Trúc Lâm chủ trương muốn hiu rõ tâm phải ngồi thin. Ngồi thin để tĩnh tâm, ngăn ác hướng thin. Trúc Lâm kng chọn con đường Quán bích toạ thin” như TĐt Ma từng thực hin mà chủ trương “Nim Pht, thgiới và toạ Thin. Nim Pht là cách tự giáo dục, tự ức chế để giữ ming và tâm thanh tịnh. Thgiới là cách n giữ bản thân theo giới lut nhm để cho thân trong sch và kng làm điu ác. Nim Pht, thgiới, toạ thin là cách giữ cho thân, khu, tâm (ý) của người học đo kng thể làm, nói, nghĩ đến điu ác. Điu ác kng sinh tức điu thin phát khởi. Có lẽ vì thế mà Trần Thái Tông soạn Khóa hư lục để người tu Pht tụng nim. Khóa hư lục còn trình bày vnăm giới n của Pht mà người tu hành phải trit để tuân theo. Có điu, qua vic trình bày giới lut, Trúc Lâm đã biến nó thành nhng bài học luân lý hơn là giáo lý nhà Pht, với mục đích nhm bình ổn trt xã hội lúc by giờ. Khóa hư lục khuyên n con người kng được tham lam của cải, sc đp, rượu nồng, thịt béo, công danh phú quý. Do lòng tham đó mà dẫn dt người ta đi đến trộm cướp, bè phái, khinh vua, ghét cha, nho Tăng, chửi Pht… Khóa hư lục còn kêu gọi con người nên làm vic thin, bố thí cho knghèo, thương yêu người khác, tôn trng phép nước, kính cha thờ vua… Đây chnh là cốt lõi nhập thế của đo Thiền Trúc Lâm.

Thin Trúc Lâm cũng phát biu quan nim về nhân sinh. H xem chuyn sng chết là thường tình và chp nhn cuộc sng một cách khách quan, bài kKhuyến chúng của Trần Thái Tông: Sinh lão bệnh tử, Lchi thường nhn; bài kệ của Trần Nhân Tông đọc cho Pháp Loa nghe trước khi tịch dit: Nhất thiết pp bất sinh, Nhất thiết pp bất diệt đã chng minh cho quan nim này. Chính Tuệ Trung, người thy của Nhân Tông, người có công đu trong vic lp Thin phái Trúc Lâm đã phát biu: Phsinh tử, lchi thưng nhn, an đắc bi luyến, ưu ngô chân dã.(Sng chết là lthường, m gì phi xót thương quyến luyến m ri cn tính ca ta ? – Thượng sĩ hnh trng).

Cuộc sng là một thực thể tồn tại khách quan kng thể ph nhn nên các thin sư phái Trúc Lâm đu dửng dưng trước cái chết, xem cuộc đời là vô thường. Chết chỉ là một chặng đường khác. Như vy, Thin phái Trúc Lâm tiếp thu quan nim nhân sinh của Pht giáo Đại tha. Họ chp nhn cuộc sng, cái chết mà kng luyến tiếc. Các vị quan nim kng có gì sinh ra hay mt đi nên làm gì có vic đi và đến. Đó là quan nim “thân ảo ảnh chẳng khác phvân”,
 


Pp thân thường trú, phmãn thái hư” của Đệ nht TPht Hòang Trần Nhân Tông. Các vị cho rằng cái thân đang tồn tại là duyên hợp mà thành, có xác thân thì có dục. Dit được dục tức thoát khỏi sinh tử. Quan niệm trên đã phn ánh một nhân sinh quan tương đi, kng sa vào hai cực, kng tham sống schết một cách yếu đui. Phi chăng doo khí thi đi, do cuộc đu tranh sinh t ca dân tc trong thi đi Lý - Trn đã ảnh hưởng ti nhân sinh quan này? Cho nên Thiền phái Trúc Lâm gn gũi với cuc đời, với cuộc sng trn thế.

Do yêu cu thời đi, Pht giáo nht tông đời Trần với Thin phái Trúc Lâm đã Đại Vit hoá, dân tộc hóa tư tưởng Thin đo và sáng to thêm một số tư tưởng cụ th, sc bén, thích hợp với hn cnh Đại Vit lúc by giờ, làm nên bản sc rt riêng của dân tộc, phần nào đáp ứng được yêu cu của thời đại lịch sxã hội. Ngoài tôn chỉ chung của Thin là phá chp, đốn ng, tâm truyn, thì Pht giáo Thin tông thời Lý – Trần còn có nhng nét riêng như đưa Pht Thin vào cuộc sng, phục vđt nước và nhân dân, tu dưỡng nhân cách con người. Thin dung hợp với nhng yếu tố tích cực của Nho, của Lão - Trang để giúp con người phát trin tn din, phù hợp với sphát trin của đt nước. Pht giáo Thin tông Lý - Trần còn kết hợp với Tịnh độ tông và Mt tông cùng tín ngưỡng dân gian để phù hợp với thực tin và mang tính đại chúng. Riêng quan đim tư tưởng của Thin Trúc Lâm - một Pht giáo nht tông đã tác động nhiu đến xã hội, giúp con người ta rèn luyn luân lý đo đức hơn là tôn giáo, góp phn duy trì bình ổn xã hội Đại Vit thời đó, để to nên chiến công oanh lit với ba ln đại thắng Nguyên Mông. Đng thời, Pht giáo hồi này đã đào to nên nhng thin sư tâm hướng vPht mà lòng vẫn gn bó với đời, với cuộc sng trần thế. Đó chính là cư trần lc đo. Có thể nói đây là một Pht giáo đy sức sng mà tinh thn chung được Đệ nht TTrúc Lâm Pht Hòang Trần Nhân Tông đã đúc kết trong bài kệ ở cuối bài phú Cư trn lạc đạo: Cư trn lạc đạo thả tùy duyên, Cơ tắc xan hề, khốn tắc miên. Gia trung hữu bo, hưu tầm mch, Đối cnh vô m, mạc vấn Thiền. (Cõi trần vui đo hãy tùy duyên, Đói cứ ăn no mt ngủ lin. u sẵn trong nhà thôi khỏi kiếm, Vô tâm trước cnh hỏi chi Thin)22. Pht giáo Trúc Lâm nói riêng, Pht giáo Vit Nam nói chung luôn luôn là một đo
  1. Trn Nhân Tông, Cư trn lạc đạo phú, tlđd, tr.5 10.
 


Pht nhp thế, hướng về cuộc đời, con người mà hành đo với tinh thn “Lợi lc qun sinh, vô ngã vị tha.

Pháp môn hành trì tu tp của bản thân ba vTTrúc Lâm cũng như các vị đệ tử chân truyn của Thin phái sau này đu nương theo pháp môn tu tp của Đức Thế tôn đã khởi xướng, mà pháp môn này vsau Pht giáo Nguyên thuỷ kế tục và xin dương. Vic Pht Hòang Trần Nhân Tông đã lên Yên Tử tu theo hnh đu đà là một minh chng cho pháp môn tu tp này. Pho tượng tc chân dung của Ngài tại tháp Huệ Quang nơi Yên Tvới chiếc ca-sa khóac trên người cũng là một minh chng tiêu biu cho pháp phục của chư tăng thuộc hệ phái Pht giáo Nguyên thủy (Theravada). Nơi kng gian thiêng liêng (Chánh đin) tại các thin vin, tự vin của Thin phái chỉ thờ Đức Pht Thích Ca thì hin nay tại Chánh đin các thin vin, tự vin của hệ phái Pht giáo nguyên thuỷ cũng vy23. T đó có thể nói giáo lý tư tưởng và pháp môn hành trì tu tp của Pht giáo Trúc Lâm phải chăng chính là giáo lý tư tưởng và pháp môn tu tp của đo Pht nguyên thu?

Cũng trong thời đại này đã có nhiu tác phm thuộc bộ phn văn học Pht giáo ca ngợi shưng thịnh của các vương triu và nhng tm gương cao cả của thời đi.

Đọc nhng tác phm thuộc thể loại bi ký và minh văn, người đọc sẽ thy nim tự hào đối với đt nước vì chúng kng chỉ ca ngợi cnh già lam u tịch, cnh thiên nhiên hữu tình, thơ mộng, góp phn biu lộ lòng yêu nước, mà còn ca ngợi vương triu thịnh tr, ca ngợi nhng chính sách tốt đp của triu đình. Chẳng hn như văn bia tháp Sùng Thin Diên Linh của Nguyn Công Btại Vit quốc đương gia đệ tứ đế Sùng Thin Diên Linh tháp bi) ca ngợi vương triu nhà Lý và công lao dp gic của vua Lý Nhân Tông24; hay văn bia ở chùa o Ân, chùa Linh Xng ca ngợi chiến công của người anh hùng Lý Thường Kit. Chu Văn Thường khi soạn bài văn bia chùa o Ân, núi An Hoch, tỉnh Thanh Hóa đã ca ngợi Lý Thường Kit vừa là vị tướng tài ba có công lớn trong vic xây dựng vương
  1. Giáo lý tư tưởng cùng pp môn nh trì của Thin phái Trúc Lâm từ hơn nửa thế k nay đã được ngài Trưởng lão Hòa thượng Thanh Từ tiếp tục xin dương. Nhng điu vừa nêu, chúng ta có thể nhận thy ở bt kỳ thin vin Trúc Lâm nào do Hòa thượng tnh lập, dù xây dựng ở trong Nam hay ngoài Bắc.
  2. Vin Văn học, Thơ văn Lý - Trn, tp 1, NXB Khoa học Xã hội, HN, 1977, tr. 388-411.
 


triu nhà Lý thái bình thịnh trị, lại vừa là một Pht tử thun thành đã đóng góp nhiu công sức cho snghip chn hưng Pht giáo; qua đó, tác giả bộc lộ nim tự hào vphm cht, kphách của dân tộc (An Hoch sơn Báo Ân tự bi ký)25. Người Pht tử Lý Thường Kit còn được thin sư Pháp Bảo (Giác Tính Hải Chiếu) ca ngợi trong bài văn bia chùa Linh Xng núi Ngưỡng Sơn tỉnh Thanh Hóa (Ngưỡng Sơn Linh Xng tự bi minh): “Tuy thân câu tục đế nhi m toại nhiếp
thừa.” 虽身抅俗諦而心遂攝乘 (Thái úy tuy thân vướng vic đời,
mà lòng vẫn hướng v đo Pht)26. Và còn nhiu bài văn bia khác
ng đã ca ngợi nhng công trình kiến trúc; ca tụng thiên nhiên nơi
danh lam thắng cnh; tán dương công đức nhng Pht tử đã xây
dựng chùa tháp; ca ngợi nhng tm gương của thời đại như Phng
Dương công chúa với nhân cách cao c, tích cực tham gia vic nước
trong bài n bia Phng Dương công chúa thn đạo bi minh tnh tự.
Ngoài ra, có thể kể thêm nhng bài thi k tán tụng các vị thin sư
như Truy n TNi Đa Lưu Chi, Truy n Vạn Hnh thiền sư, Tán
Giác Hải thiền sư Thông Huyền đạo nhân,… Nhà nghiên cứu Đinh
Gia Knh đã nhận xét: “Thơ văn thiền sư mcũng đy niềm ưu ái
như thế th chc rằng thơ văn nói chung phải gn bó nhiều với nhng
vấn đề của đời sốngn tc27.

Triết lý từ bi, lòng vị tha nhân ái, nim mong ước cho con người sng đời yên vui hnh phúc thể hin qua thơ văn là nhng biu hin của cm hng nhân văn tuyt đp, đồng thời cũng là nhng biu hin của cm hng yêu nước sâu sc. Bởi l, đt nước bao giờ cũng gn lin với vn mnh dân tộc, vn mnh con người, và có yêu nước thì mới có nim mong ước cho con người sng trên đt nước y được yên vui, thịnh vượng, hnh phúc. Cho dù mảng thơ văn này hin còn kng nhiu so với thư tịch cho biết nhưng vẫn có thể nói rằng, các tác giả thin sư thời Lý - Trần đã góp phn đt nn móng cho truyn thống yêu nước và nhân văn của văn học viết Vit Nam.

+ Thời Lê Nguyễn (thế kỷ XV – thế kỷ XIX)

Sau chiến thắng chống quân Minh xâm lược của đội quân Lam
  1. Vin Văn học, Thơ văn Lý - Trn, tp 1, NXB Khoa học Xã hội, HN, 1977, tr. 355, 362.
  2. Vin Văn học, Thơ văn Lý - Trn, tp 1, NXB Khoa học Xã hội, HN, 1977, tr. 362.
  3. Đinh Gia Knh (chủ biên),  Văn  hc  Việt  Nam  thế  kỷ  X  –  nửa  đu thế kỷ XVIII,  tp  1,  NXB  Đại  học  và  Trung  học  chuyên  nghip,  HN,  1977, tr. 98.
 


Sơn do Lê Lợi chỉ huy vào tháng Chp năm Đinh Mùi (1427), Lê Lợi lên ngôi, mđu vương triu nhà Hu Lê (Lê sơ, 1428-1527). Đây là thời đại Nho học chiếm đa vị độc tôn nơi triu đình. Khác với các triu đại trước, nhà Lê sơ kng coi trng đo Pht và triu đình bãi bỏ chức Tăng quan, Đạo sĩ, nên by giờ đo Pht kng còn đa vị nơi triu đình, mà rút về nơi am thanh chùa vắng chăm lo phn tâm linh cho con người. Tuy vy, đo Pht vẫn tiếp phát trin sâu rng trong lòng cuộc sng dân tộc, to nên một đo Pht nhân gian. Lúc này Thin tông và Tịnh Đtông kết hợp, mà ở đó Tịnh Đtông có phn nổi trội hơn. Pht giáo Trúc Lâm cũng chịu sự quy lut trên, vẫn âm ỉ truyn phát, để đến thế kXVII, với vai trò của Chân Nguyên thin sư (1646-1726). Ngài là ngọn đèn sáng của Pht giáo, nhà tư tưởng – văn hóa, nhà văn nhà thơ của Đại Vit thế kXVII - đu thế kXVIII, từng được vua Lê Hy Tông mời vào cung tham vn về Thin Pht (năm 1692), sau vua Lê Dụ Tông ban chức Tăng thống và ban hiu Chính Giác Hòa thượng (năm 1722). Ngài đã phục hưng Thin phái Trúc Lâm, sưu tm và in n kinh sách của Thin phái. Vsau, các đệ tử và pháp đic xut sc của ngài là Như Hin, Như Trng, Tính Dược, Tính Ngn tiếp nối vic làm của thy tổ trong vic trùng tu các Tổ đình, in n kinh sách và trùng san các tác phm Pht học thời Lý - Trần, các trước tác của Thin phái như: Kế đăng lc, Thánh đăng lc, Thượng Sĩ nglc, Khóa hư lc, Tam Tthực lc, Thiền uyển tập anh nglục, v.v.. và của ngài Chân Nguyên như: Thiền tông bản hnh, Ngộ đạo nhân duyên, Thiền tch phú, v.v... Bài phú chNôm Thiền tch phú viết tại chùa Long Đng núi Yên Tử, trong đó còn dùng nhiu chHán, có khi viết cả câu ch Hán, với lời văn cũng khá nhẹ nhàng, có chút điêu luyn. Bài phú gồm 72 câu (144 vế) đối nhau, theo thể Đường phú nghiêm chỉnh, dùng độc vn ở cuối câu, sử dụng đủ các kiu câu tứ tự, bát tự, song quan, cách cú và hc tt. Nội dung trình bày về Thin tịch, miêu tả cnh chùa nơi Thin sư trụ trì, cùng cái chí hướng và cuộc sng thường nht thú vị nơi cnh già lam; cuối cùng là lời kêu gọi mọi người cùng gia nhp để thưởng thức cái thú vui thanh tịnh y. Nói chung, bài phú là lời tụng ca, thi vị hóa cuộc sng tu hành của các nhà sư.

Minh Châu Hương Hải (1627-1715) là ngọn đèn sáng của Pht giáo Đàng Trong với Thin Tĩnh vin (Qung Nam) và Pht giáo Đàng Ngoài với Đạo tràng Nguyt Đường (Hưng Yên). Các trước
 


tác của thin sư ngoài chú giải các kinh, lut còn có sáng tác Lsự dung thông (thơ), Hương Hải thiền sư nglục (thơ, k, thin ngữ) do đệ tử sưu tm khc in, mà sau này Lê Quý Đôn có tuyn vào bộ Toàn Việt thi lc. Ở Hương Hải thin sư, tư tưởng Nho như là một nn học bổ túc cho tư tưởng Pht vphương din trị thế. Ngoài nhng sách chú giải vkinh, thì kệ - thơ và Thin ngđã thể hin rõ tư tưởng Thin Pht của Hương Hi. Sư thường nêu lên mối quan hệ giữa Pht và chúng sinh cùng thể tính, nếu giác ngộ thì chng nhp thể tính y; mối quan hệ giữa mê và ngộ; giữa tâm và cnhVì thế thin sư chủ trương phương pháp tu tp: Kng chy trốn svt; Giới lut cao nht là svô tâm; Tnh Pht ngay trong giờ phút này.

Liu Quán (1670-1742) được tôn vinh là vị thin sư lãnh đo công cuộc phục hưng Pht giáo xĐàng Trong và là người Vit hóa Thin phái Lâm Tế, trút bỏ kiến trúc, lễ nhc mang màu sc Trung Quốc và từ từ mang màu sc dân tộc28. Phong trào chn hưng Pht giáo ở Vit Nam đu thế kXX đã dựa trên cơ sở của môn phái Thin mang tên ngài.

Đến cuối thế kXVIII ở min Trung có thin sư Tn Nht Quang Đài (1757-1832), ngài vốn là tướng của Tây Sơn, sau vì nội bộ ba anh em Tây Sơn lục đục, ngài từ quan rồi xut gia thuộc thế hệ thứ 37 Thin phái Lâm Tế, dòng Chúc Tnh do thin sư Minh Hải Pháp Bảo xut k. Thin sư có pháp danh là Tn Nht, pháp tự là Vi Bảo, pháp hiu là Quang Đài, mà theo truyn thống của dòng Chúc Tnh, cách gọi tên phải đy đủ là Vi Bảo Tn Nht Quang Đài. Về trước tác, trước thut, thin sư Tn Nht viết rt nhiu, có đến trên 20 tác phm lớn nh, trvài ba tác phm viết bằng ch Hán, còn lại đa phn là chNôm, nổi bt có Hứa Sử truyện vn, Tống Vương truyện, Lục Tổ truyện diễn ca… trong đó, có tác phm thông qua nhân vt chính nêu lên vn đề nhp thế, hộ quốc của đo Pht như Hứa Sử truyện vãn. Đây là truyn thơ Nôm được Tn Nht biên tp li, thể hin tính nhp thế rõ nét, mang du n thời đại sâu sc, thể hin nếp tư duy của người Vit trước nhng vn đề trng đại của đt nước lúc by giờ. Nhng vn đề thực tế mang tính thời

 
  1. Nhận xét của Nguyn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận, tp 2, Nxb Văn học, HN, 2000, tr. 599.
 


sự đó đã được thin sư giải đáp cụ th. Tác phm dài 4.486 câu thơ lục bát. Trong truyn thơ còn có một bài văn tế (chen vào giữa câu 3824 và 3825) và một bài hịch (chen vào giữa câu 3884 và 3885). Chai bài đu viết bằng chNôm theo li văn bin ngẫu. Ngoài tư tưởng Pht giáo như tu hành, cứu nhân độ thế, thông qua Hứa S là nhân vt chính, truyn thơ này đã nêu lên 3 vn đề lớn mang tính nhp thế cao, đó là: Một là, thể hin lun đề chống tư tưởng tôn quân. Tác phm cho rằng Thy lớn hơn Vua và Cha. Đây là quan đim Hòan tn trái với quan đim Nho giáo. Hai là, thể hin lun đề lao động. Tác phm đã đề cao con người lao động. Con người có lao tác trí tuệ thì tình cm mới phát sinh. Nhờ thế mới con người mới có trí tuệ cao và có tình cm trong sang, con người mới chng ng, đt quả vị Tnh nhân. Ba là, thể hin lun đề đo đức nhân nghĩa và chiến đu vì nhân nghĩa. Nói chung, bên cnh tính thời sự thể hin tinh thn thời đi, thì bao trùm lên cả vẫn là tinh thn tư tưởng từ bi, trí tuệ và dũng lực của Pht giáo.

Cũng vào cuối thế kXVIII này, ngoài Bắc có Hải Lượng Ngô Thì Nhm. Sau khi Quang Trung mt, Ngô Thì Nhm xin cáo quan về nhà rồi xut gia, thành lp Thin vin Bích Câu, tại nơi đây ông và các pháp hữu viết lun thuyết Trúc Lâm tông chnguyên thanh để xin dương tinh thn nhp thế của Thin phái Trúc Lâm mà Pht Hòang Trần Nhân Tông đã khởi xướng từ thế kXIII.
    1. Tinh thần tùy tục, tùy duyên, nhập thế, hộ quốc an dân của đạo Pht Việt Nam thời hin đi (thế kXX – nay)
Nối tiếp truyn thống nhp thế, hộ quốc của Pht giáo từ ngàn xưa, hồi cuối thế kXIX trong phong trào Cn vương chống Pháp, có nhiu vsư trở thành nhng lãnh đo nghĩa sĩ cn Vương như sư Võ Trứ ở Phú Yên, Hòa thượng Bích Kng (tục danh Hoàng Xuân Đàn tức Nghè Đàn) ở Khánh Hòa và còn nhiu vkhác na. Các vđã vị quốc vong thân, hy sinh anh dũng vì dân tộc, vì đt nước.

Trong thp niên 20 và 30 của thế kXX, đứng trước ssuy yếu của Pht giáo Vit Nam, nhiu Tăng Ni kng chăm lo nghiên cứu kinh đin, giáo lý tư tưởng, chỉ chăm lo luyn hơi luyn giọng thực hành nghi lễ cúng tế; đây cũng là thời đim Pht giáo các nước trong khu vực đang có phong trào chn hưng cải cách. Đứng trước tình hình y, một số cao tăng thc đức nước nhà có tâm huyết với Pht
 


giáo đồ đã khởi xướng phong trào chn hưng, mà các vHòa thượng Khánh Hòa, sư trẻ Thin Chiếu, Hòa thượng Khánh Anh là nhng chiến sĩ tiên phong. Công cuộc chn hưng Pht giáo khởi xướng ở Sài Gòn Gia Định, nhanh chóng lan ta đến các tình min Tây Nam bộ (Vĩnh Long, Ba Xuyên, Long Xuyên, Cn Thơ) rồi min Đông Nam bộ (Biên Hòa, Bà Ra), lan đến min Trung (Nha Trang, Bình Định, Huế), rồi min Bắc (Nam Định, Hải Png, sau đó kết tinh Hà Ni). Phong trào chn hưng Pht giáo trong hai thp niên nửa đu thế knày là minh chng sinh động của Đạo Pht nhp thế, hộ quốc an dân, gn Dân tộc với Đạo pháp.

Trong chín năm kháng chiến chống Pháp, hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch HCMinh, nhiu vsư trẻ ở ba min đt nước đã được thy tổ cho phép xgiới, cởi cà-sa để khóac chiến bào, cm súng chiến đu, giành lại độc lp dân tc. Sư Thin Chiếu, một chiến sĩ tiên phong trong phong trào chn hưng Pht giáo hồi nửa đu thế k, lúc này đã vào bưng bin Đng Tp chiến đu, sau 1954 tp kết ra Bắc là một ví dụ đin hình.

Cũng trong chống Pháp và chống M, ở min Trung và min Nam, nhiu ngôi chùa trở thành cơ sở bí mt che giu, nuôi dưỡng cán bộ cách mạng, và là nơi hội họp các cp ủy, nơi tàng trvũ khí của cách mạng, kể cả nhng ngôi chùa trong lòng thành phố như ở Nha Trang, Huế, Sài Gòn cũng vy. Chính cuộc Tng tiến công xuân Mậu Tn (1968) nổ ra khp các thành thị min Nam phn lớn là nhờ nhng cơ sở bí mt từ nhng ngôi chùa này.

Mùa Pháp nn 1963 với sự tự thiêu của Hòa thượng Qung Đức cùng nhiu vTăng Ni, Pht tử khác đu tranh chống lại chính quyn gia đình trị họ Ngô đàn áp Pht giáo, cuối cùng thắng lợi thuộc vdân tộc, về lẽ phải và chính quyn họ Ngô bị lt đổ sau chin năm cm quyn, cũng là một biu hin Đạo pháp gn bó với Dân tộc, thể hin tinh thn tuỳ duyên, hộ quốc an dân.

Sau ngày Đt nước thống nht (1975), nht là sau Đại hội Pht giáo Vit Nam ln thứ nht thống nht các hệ phái của cả hai min vào tháng 11 năm 1981, thì Pht giáo với phương châm “Đo pháp
Dân tộc – Xã hội chnghĩa” càng có nhiu điu kin thun lợi để cng hiến cho đt nước, phng sự cho dân tc. Nhiu hot động Pht sự của Giáo hội Pht giáo từ trung ương đến đa phương được
 


din ra, nht là hot động xây cu và xây nhà tình nghĩa cho bà con nơi vùng kkhăn; công tác từ thin xã hội, cứu trợ đồng bào bị thiên tai bão lụt, trong các dịp lễ tết được din ra đu dn thường xuyên. Nhiu cơ sPht giáo trở thành nhà nuôi dy trem mồ côi, người khuyết tt, hay nuôi dưỡng người già neo đơn; nhiu cơ s tự vin có png thuốc Đông y chữa trị bnh min phí. Và còn rt nhiu, rt nhiu vic làm thiết thực ích nước lợi dân khác na. Tt cả đã thể hin tinh thn hộ quốc, an dân, góp phn an sinh xã hội.

Trong knguyên hội nhp tn cu hóa như hin nay, Pht giáo cn phát huy nhng truyn thống đã có nhiu hơn na. Nht là cn cải t, cải cách qun trvà các hot động để đáp ứng nhu cu của thời đại mới. Thiết nghĩ có vài ý kiến như sau:

Một là, Pht giáo Vit Nam cn cải cách, đổi mới để phát trin – bn vng, đáp ứng tốt yêu cu của hin thực cuộc sng mới trong thời đại mới. Vn đề này đã được Giáo hội Pht giáo Vit Nam và các nhà khoa học ở các Vin nghiên cứu, các Trường Đại học đã nêu lên gn vài chục năm nay, nht là từ sau ngày Đại hội thống nht các hệ phái Pht giáo vào tháng 11 năm 1981. Đã có nhiu cuộc Hội tho khoa học quốc gia và quốc tế v vn đề này được tổ chức để n bc và định hướng nhm mục đích tư vn cho Giáo hội, và cũng là cho Nhà nước và Mt trận Tổ quốc Vit Nam. Nhưng xem ra, vn đề này cũng còn vài điu cn n bc và trao đổi thêm.

Cũng cn lưu ý là ngay từ nhng năm 20, 30 của thế kXX, vn đề chn hưng Pht giáo - một dạng cải cách để đổi mới cũng đã được các vị cao tăng đt ra, mà khởi đu ở Nam k, rồi lan ra Huế và Hà Ni. Phong trào chn hưng Pht giáo hồi nửa đu thế knày đã đưa lại cho Pht giáo Vit Nam một din mo mới, hin đại hơn, hòa cùng với quá trình hin đại hóa đang din ra ở nước ta lúc by giờ, tiếp tục phát huy tinh thn Pht giáo hòa đồng với dân tộc vốn đã có cả nghìn năm trước đó. Tphong trào chn hưng hồi đu thế knày đến phong trào Pht giáo ở min Nam năm 1963 là một quá trình phát trin, để sau Pháp nn 1963 là sự thành lp Giáo hội Pht giáo Vit Nam thống nht gồm cả Nam tông và Bắc tông với hai Vin Tăng thống và Vin Hóa đo, cùng một bản Hiến chương mới, trsđt tại chùa n Quang, Sài Gòn. Gọi là Giáo hội Pht giáo Vit Nam thống nht nhưng hồi y vẫn chưa dung hợp một vài hệ phái khác, chẳng hn hệ phái Kht sĩ và Tịnh độ Cư sĩ lúc này vẫn
 


chưa được gia nhp vào Giáo hội, rồi sau đó vào năm 1966 Giáo hội Pht giáo này lại chia thành hai khối: khối n Quang và khối Vit Nam Quốc Tự, hin trạng này kéo dài cho đến tháng 4 năm 1975. Điu đó có nghĩa là Giáo hội Pht giáo lúc này tuy gọi là thống nht nhưng vẫn chưa thống nht, chưa trở thành một Pht giáo nht tông để góp phn củng ckhối đại đn kết tn dân. Phải đợi đến tháng 11 năm 1981, Go hội Phật go Việt Nam - một tổ chức Phật go thống nhất với đúng danh xưng này - đã được chính thức thành lp. Đcó sự thống nht này là phải trải qua một quá trình vn động gn suốt hai năm trong nội bộ tăng đn của các tông phái, các hệ phái Pht giáo, mà người tiên phong là vTrưởng lão Hòa thượng Thích Trí Thủ cùng một svị trưởng lão cao tăng khác. Sự thống nht, hòa hợp, đn kết tt cả Tăng Ni, cư sĩ Pht tử, Nam tông, Bắc tông, hệ phái Kht sĩ… trong một ngôi nhà chung duy nht là nim mong ước từ lâu của tn thể Pht giáo đồ ở Vit Nam. Giáo hội Pht giáo Vit Nam từ đây là thành viên của Mt trận T quốc Vit Nam, thành viên của Hội đồng Nhân dân các cp, được Hiến pháp của Nhà nước Vit Nam công nhn vpháp lý và về thực tế. Tđây, Giáo hội Pht giáo Vit Nam hot động theo một Hiến chương, với hai Hội đồng: Hội đồng Chng minh và Hội đồng Trsgồm 10 ban, Vin, được tổ chức có hệ thống từ trung ương đến đa phương (tỉnh thành, qun huyn, phường xã), theo định hướng “Đo pháp – Dân tộc – Xã hội chnghĩa, nhm mục đích: Hoằng dương chánh pháp, lợi lc nhân sinh, đồng hành cùng dân tộc để cùng dân tộc phát trin và hội nhp quốc tế trong knguyên mới.

Trong thời đại hội nhp tn cu hóa càng ngày càng din ra