27 THỰC HÀNH CHÂN LÝ VÔ NGÃ: MỘT BIỆN PHÁP KẾT NỐI VỚI THẾ GIỚI NỘI TÂM

Thứ năm - 09/05/2019 22:40
Pooja Dabral




 
THỰC NH CN LÝ VÔ NGÃ: MT BIỆN PP KT NỐI VỚI THẾ GIỚI NỘI TÂM

 
Pooja Dabral*





TÓM TT

Chân lý Vô ngã là pháp n chỉ có trong Pht giáo, cho rằng, kng có một Ngã, một cái gì trường tồn, bt biến, tồn tại nm trong svt mà kng phụ thuộc vào cái khác. Kể từ thời Đức Pht Thích Ca u Ni tìm kiếm gốc rvà kết thúc của sđau khổ đã mở ra nhiu khám phá thực tại đa phương din về cả thế giới bên trong và bên ngoài. Giáo lý Vô ngã của Đức Pht cho thy rằng có một skhác bit cơ bản giữa cách chúng ta nhn thức thế giới, bao gồm cả stồn tại của chúng ta trong đó và cách mọi thứ thực sự din ra. Chúng ta tin vào ngã cá nhân, tức là stồn tại độc lp của bản thân, dn đến các sphin não như sự dính mc hoc ác cm, từ đó dn đến chuỗi hành động phá hoại (nghip) và sự chịu đựng (kh). Chuỗi nhân quả này là do nhn thức sai lm về thực tế và cuối cùng dn đến nhng rối lon trong sgn kết của chúng ta với thế giới và với chúng sinh đồng loi. Sự tinh hoa của chân lý vô ngã đối lại quan nim sai lm này bằng cách bác bỏ stồn tại của bản ngã. Trong Kinh Pháp Cú có nói Tt cc hình thức đều không có tht, ai biết và nhìn thy điều này trnên thụ đng trong ni đau; đây là ch dẫn đến sthuần khiết.Hơn na, chân lý này cũng nhn ra bản cht vô

* PhD Candidate, Department of Buddhist Studies, University of Delhi, India Người dịch: Nguyn Qunh Phương
 


ngã của tt cả các hin tượng và kng bác bỏ hiu lực của lut ng- hip, để cho ta thy sc thái của svô ngã trái ngược hn tn với chnghĩa hư vô. Btát Long Thcó nói trong Trung Quán Lun rằng ta cn tìm hiu Chân lý Vô ngã và Giáo lý Nguyên khởi ng nhau.

Di sản ca trí tunày có ý nghĩa rt sâu sc trong vic gii thoát một cá nn khi những đau đớn và căng thẳng ti tnht ca cuộc sng. Như đã u ý ở trên trong Kinh Pháp Cú, ai nhìn ra được bản cht o tưởng ca tt ccác hin tượng stnh được sphin não và tđó ngăn chặn các nh động phá hoi và có thđt đến sthun khiết của Niết Bàn. Bên cnh các bài thuyết trình khác vChân lý Vô ngã trong Pht giáo Nguyên thy và Pht giáo Đi thừa, bài viết này ng skm phá những cách thức và tác động tích cc ca Chân lý Vô ngã đđt được shòa hợp trong cuộc sng và xã hi ca chúng ta.

Có một thông đip phquát đng sau công cuộc tìm kiếm nguyên nn ct lõi và kết tc ca ni đau ca Đức Pht Thích Ca Mâu Ni. Nguyên nn ct lõi ca tt cnhững đau khca chúng ta không chỉ là sthiếu hiu biết mà còn là một shiu lầm có chủ ý vbn cht của tt cmi thứ. Vy tại sao chúng ta li có nhận thức sai vmi điu? Đó không phi vì chúng ta ctình mà là do cách chúng ta nhận thức mi điu không giống vi bn cht ca chúng. Triết lý vVô ngã là một điu tra triết học ti thượng trong tư tưởng Pht giáo được chra bởi nhiu nhà triết học phương Tây cho thy rằng có một skhác bit cơ bn giữa cách chúng ta nhìn nhận thế giới, bao gm cstn tại ca chúng ta trong đó và cách mi ththực sxy ra. Ví d, chúng ta tin rằng mi người có một ct lõi độc nht n sâu sau stn tại ca chúng ta, không bchi phi bởi syếu ttinh thần và vt cht.

Triết lý Vô ngã chỉ ra rằng đây là một li cơ bản và là cơ sở cho các vn đề đo đức như ác cm, đeo m và phát trin nhiu định kiến. Sự tht đằng sau vn vt được mô tả trong các chuyên lun Pht giáo như một sự trng rng hoc shunyata trong tiếng Phn. Triết lý Vô ngã đối lại quan nim rằng vn vt đu có tht với nguyên tc Duyên khởi. Thuyết Duyên khởi, hay còn được gọi là Nhân duyên sinh, chỉ rõ là mọi hin tượng tâm lý và vt lý to nên đời sng đu nm trong một mối liên hệ với nhau; chúng là nguyên nhân của một yếu t
 


này và là kết quả của một yếu tkhác, là cốt lõi của sự hiu biết của Pht giáo về thế giới và bản cht của stồn tại của con người. Tìm hiu về thuyết Duyên khởi có thể được thiết lp theo ba loi: sph thuộc nguyên nhân, nguồn gốc phụ thuộc của sphụ thuộc tn bộ vào các bộ phn và nguồn gốc phụ thuộc của sphụ thuộc vào chỉ định tinh thn.

Lý thuyết đu tiên của thuyết Duyên khởi đi li li nhận thức liên quan đến shiu lầm vmi quan hnn quvà điu này được chấp nhận bởi cbốn trường phái siêu hình học Pht giáo: Vaibha- shika, Sautrantika, Chittamatra và Madhyamika. Theo quan đim thông thường của chúng ta vthế giới, chúng ta liên quan đến s vt và sự kin dù là vt cht hay tinh thần, như thchúng tn tại với bn cht bên trong và trên chính chúng. Chúng ta có xu hướng tin rằng mi svt và sự kin này có một thực tại độc lập, riêng bit và nhng cá thể riêng bit và độc lập này tương tác vi nhau. Chúng ta tin rằng một ht giống tht có th to ra một hiu ng tht trong một thời gian thực tại một đa đim thực s. Đây là một du hiu rõ ràng rằng chúng ta tin vào một loi nn qu trong đó hiu ng kng phthuộc vào nguyên nn phát sinh. Đây là loi li nhận thức đu tiên bởi vì chúng ta tin vào tính cht ngẫu nhiên thay vì sphthuộc lẫn nhau vnguyên nn. Elizabeth Napper bày tquan đim của Nagarjuna và lập lun rằng theo Triết lý Vô ngã, điu này là hoàn toàn vô lý bởi vì nếu các cá thshữu stn tại độc lập, ni tại như vy có nghĩa là kng có khnăng tương tác và gây nh hưởng đến các hin tượng khác. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng có nn qu, nghĩa là có sphthuộc và tính ngu sinh. Vì tt cmi thđược ra đời nhvào stương tác giữa nguyên nn và điu kin, nên nó có m ý rằng mi vt và mi vic kng có stn tại độc lập.

Lý thuyết thhai của thuyết Duyên khởi cho thy rằng có s phụ thuộc ln nhau giữa các bộ phn và tn bộ cá thể; kng có bộ phn thì kng thể có tn bộ và kng có tn bộ thì các bộ phn kng có ý nghĩa. Ví dụ, kng có các cây riêng lẻ to thành rng, rng không có ý nghĩa và tương tự, không có rng, các cây riêng lcủa
 


rng đó kng có ý nghĩa. Sphthuộc ln nhau giữa tn bcá thvà các bphn này bao hàm cvmt kng gian và thời gian.

Cp đthba ca thuyết Duyên khởi vsphthuộc vào hình thức chquan cho thy một ssvt không có ý nghĩa khi tn tại đơn lmà chcó ý nghĩa khi tn tại trong một tp thvà liên kết vi mạng lưới của toàn bcác svt có liên quan khác. Tt nhiên là chúng ta không thể phnhận giá trni tại ca các svt và ngay ctrong suy nghĩ ca Pht giáo ng có lập lun rằng nếu các hin tượng không tn tại theo cách riêng ca chúng, skhông có cách nào đkhẳng định rằng chúng tồn tại. Tuy nhiên, tư tưởng Trung quán tông ca lun sư Nguyt Xng có một mô trt sâu sc vbn thlun ca các hin tượng như Ngũ un. Trung quán tông cho rằng vì tt cmi sđu dựa lên nhau mà tnh (duyên khởi), cho nên chúng không tn tại độc lập. Ví d, một thợp các cá thtn tại vì có stn tại ca các cá thtnh viên. Các cá thể tnh viên, nếu tn tại độc lập, skhông có ý nghĩa. Điu này nghĩa là hình thbên ngoài ca các svt không có giá trtht hoc giá trni tại. Trong sách Vòng bo châu, ngài Long Thgii thích điu này bng cách sonh con người và sáu yếu tcu tnh nên con người. Ngài Long thnói (trong bn dịch Hopkins, 1998),
Một người không phi là trái đt, không phi là nước, Không lửa, không gió, không không gian,
Không ý thc, và không phi là loài người. Người nào khác ngoài nhng người y?

Cũng như mt người không có tht
Do là mt tổng hợp ca sáu thành phn, Vì vy, mi thành phn cũng
Không có tht do là mt tổng hợp.

Thc cht, hình thức bngoài, tuy không tn tại ở cp đti hu hay ni tại nng có tn tại ở cp đthông thường. Bng cách kết hợp tt ccác cá thtnh viên, trong trí óc ca chúng ta đã thình tnh định nghĩa ca thợp đđm bo stn tại ca hình thức bên ngoài. Ngoài
 


điu này ra thì vt thể đó kng tồn ti. Đây là lý thuyết vnguồn gốc phụ thuộc dựa vào suy lun trí óc.

Thuyết Duyên khởi một mt cho thy stồn tại của mọi thứ đu phụ thuộc vào nguồn gc. Mt khác, nó cũng bao hàm tính hư vô của stồn tại độc lp vì nó cho thy rằng mọi vt và mọi vic din ra đu phụ thuộc vào nguyên nhân, điu kin và các thành phn tương ng, cũng như vào nhng suy lun trí óc. Theo cách này, thuyết Duyên khởi đã phủ định stồn tại độc lp của vn vt. Do đó, chânVô ngã và thuyết Duyên khởi được cho là hai mt của cùng một đồng tin. Trong Trung quán lun, ngài Long Thọ có nói:
Đó là nguồn gc phthuc
Được giải thích là sự trng rng. Đó là mt chđịnh phthuc,
phi chính nó là con đường trung đạo.

Ông lp lun rằng chỉ khi người ta hiu được chân lý Vô ngã trong văn cnh của thuyết Duyên khởi thì thuyết Duyên khởi sẽ tự phủ nhn bt kỳ quan đim sai lm nào vsự trng rng là hư vô. Vô ngã là sự trng rng của stồn tại độc lp, khiến người ta đến với sự hiu biết rằng mọi thtồn tại bởi sphụ thuộc. Do đó, chân lý Vô ngã bác bỏ sự cực đoan của khái nim hư vô hoc skng tồn tại của vn vt. Hơn na, vì các thành phn bên trong và bên ngoài tồn tại nhờ vào sphụ thuộc vào nguyên nhân và điu kin tương ứng, chúng kng có bt kstồn tại nội tại nào. Theo cách này, chânVô ngã bác bỏ sự cực đoan của stồn ti. Do đó, trí tuệ này nhìn thy bản cht phụ thuộc ln nhau của tt cả các hin tượng và có thể giải thích chức năng của thế giới và của lut nghip. Ngài Long Thọ có nói trong Hin bày Bồ đề tâm rằng:

Khi ta thấu hiểu sự trng rng ca các hiện tượng,

Định lut kỳ diu của nhân quả

Ta sáng tuyệt vời hơn, Và đáng kinh ngc hơn.
 


Ngoài ra, ngài Lt Ma Tôn Đức Tông Khách Ba có nói trong cuốn sách Đại lộ Giác ngộ nổi tiếng tn cu của mình rằng, người thông minh scó một nim tin chc chn kng thể lay chuyn rằng ý nghĩa của chân lý Vô ngã chính là thuyết Duyên. Do đó, sự trng rng bác bỏ cả hai thái cực – sự cực đoan của s tồn ti, tức là stồn tại nội tại và sự cực đoan của skng tồn ti, tức là chnghĩa hư vô – và đây được gọi là con đường trung đo. Do đó, ngài Nguyt Xng trong sách Minh cú lun rằng sự trng rng, nguồn gốc phụ thuộc và con đường trung đo là một. Ngài Nguyt Xng đã nói rằng,

Do thiếu hai thái cực ca stồn ti và skhông tồn ti, chân lý Vô ngã được coi là con đường trung đạo. Do đó, chân lý Vô ngã, thuyết Duyên khởi và con đường trung đạo đều đng nga với sphát sinh phthuc [đi với người đã to ra quan điểm Trung quán ng trong lc địa ca mình].”

Theo như một nhánh Trung quán tông của Pht giáo Tây Tạng, trí tuệ của chân lý Vô ngã lp ra bản cht tối thượng của thực tế bằng cách loại bỏ stồn tại nội tại và độc lp, đây là vị trí triết học cuối ng của giáo lý Pht.

Có hai lý thuyết vsự trng rng hay vô ngã là vô ngã của con người hoc vô ngã của các hin tượng. Svô ngã của con người có thể được hiu ở hai cp đ, nghĩa đen và nghĩa bóng. Bốn tư duy Pht giáo là Thắng lun tông, Kinh lương b, Duy thức lun và Trung quán lun (bao gồm hai chi phái Trung Quán – TKhởi Tông và Trung quán – Cụ Duyên Tông) khác nhau vsự hiu biết ở cả nghĩa đen ln nghĩa bóng vsvô ngã của con người cũng như hin tượng. Ba tư duy đu tiên, tức là Thắng lun tông, Kinh lương b, Duy thức lun và một nhánh của Trung quán lun, Trung Quán
TKhởi Tông, có cùng sự hiu biết vsvô ngã của con người ở
cả nghĩa đen ln nghĩa bóng. Nhng tư duy này cho rằng svô ngã của con người ở nghĩa đen có nghĩa là svô ngã của bản thân vĩnh vin, đơn nht và độc lp và svô ngã của con người theo nghĩa ng là svô ngã của thực tại đáng tự chủ. Trường phái Trung quán
 


Cụ Duyên Tông thì tin vào svô ngã của con người dưới góc nhìn qua sự trng rng của stồn tại nội ti.

Như đã đề cp trước đây, nhng nguyên lý Pht giáo này cũng khác nhau trong cách hiu vsvô ngã của các hin tượng. NguyênTrung quán – Cụ Duyên Tông khẳng định rằng svô ngã của các hin tượng cũng tinh tế kng kém svô ngã của con người, tức là hin tượng trng rng của stồn tại nội ti. Mt khác, hai tư duy đu tiên, Thắng lun tông và Kinh lương b, kng thực sự tho lun vsvô ngã của các hin tượng. Hai tư duy này nói vsvô ngã của các hin tượng dưới góc nhìn qua svô ngã của con người. Theo nhng tư duy Pht giáo còn li, Duy thức lun và Trung Quán – TKhởi Tông, có một skhác bit rt lớn giữa svô ngã của con người và hin tượng theo nghĩa bóng. Duy thức lun cho rằng kng có đối tượng bên ngoài và khẳng định rằng tt cả các hin tượng đu là bản cht của tâm trí và do đó kng tồn tại bên ngoài tâm trí. Theo trường phái này sự trng rng của các hin tượng có nghĩa là sự trng rng của thực tại bên ngoài. Ngoài ra, quan đim của trường phái này vsự trng rng của các hin tượng bao gồm sự trng rng của mối quan hệ chủ thể - đối tượng.

Hơn na, Trung Quán – TKhởi Tông bày tỏ rng strng rng ca các hin tượng dưới góc nhìn vstrng rng ca stồn ti thc strong khi kng bác bstn ti ni ti. Theo cách này, bốn nguyên lý ca siêu hình học Pht giáo thúc đy một shiu biết khác nhau và dn dn tinh tế n vnhng gì tạo nên stht hay strng rng ti thượng. Mặc dù nhng nguyên lý này khác nhau vcách din tả nhưng shiu biết sâu sắc và kinh nghim v svô ngã được đxut bởi Thắng lun tông, Kinh lương b, Duy thc lun và Trung quán lun, Trung Quán – TKhởi Tông là vô cùng quan trng vì nhng nguyên lý này là nhng bước cơ bn giúp người học dn dn và ko léo hướng ti shiu biết vstinh vi ca vô ngã, tức là strng rng ca stn ti ni ti được bàn trong Trung quán – C Duyên Tông.

Ta có thể đt câu hỏi, ngoài vic tiết lộ bản cht tht của thực tế
 


thì chân lý Vô ngã còn có ý nghĩa nào khác kng? Và có gì sai khi tin vào stồn tại độc lp và nội tại của svt kng? Theo như ngài Long Th, trí tuệ của chân lý Vô ngã kng chỉ là sự hiu biết khái nim đơn thun về thực tế mà nó còn có ý nghĩa sâu sc vtâm lý và đo đức. Trong chương mười tám Quán pháp’ của Trung quán lun, ngài Long Thọ có viết,

“Tng qua vic loi bnghiệp chướng và phiền não, có niết bàn. Nghiệp và phiền não xuất phát từ ý nghĩ khái niệm.
Chúng đến từ sự ba đặt tinh thn (nm bt stn ti thực sự), Chế to chm dứt thông qua vô ngã.”
Trong câu này, ngài Long Thọ giải thích rằng sđau khổ được sinh ra qua năm bước: (i) luân hồi trái ngược với Niết n, (ii) quy lut Nhân quả bị ô uế, (iii) phin não, (iv) nhng suy nghĩ khái nim kng phù hợp đưa ra đc tính sai cho các đối tượng và (v) nhng hiu lm v s tồn tại độc lp của vn vt, trong khi trong thực tế, chúng tồn tại chỉ bằng sphụ thuộc.

Ông lp lun rằng nim tin vào stồn tại độc lp của svt dn đến phin não, từ đó dn đến chuỗi hành động phá hoi, phn ứng và đau kh. Ông giải thích rõ ràng cách tn bộ cơ chế này có thể hot động trong năm bước. Trước hết, nim tin của chúng ta vào stồn tại nội tại hoc độc lp của svt đt một nn tảng sai lm cho sphin não. Sau đó, nhng chú ý sai lm này sban cho các vt th, cả động ln vô tri, một giá trhp dn và gây ra ác cm với các vt thể khác và do đó chúng ta phn ứng với các đối tượng và skin nht định với sgn bó và với các đối tượng khác với sác cm. Kết quả là chúng ta rơi vào tình trạng rối lon chức năng kéo dài do sgn kết của chúng ta với thế giới và với chúng sinh đồng loại của chúng ta, và do đó, tt cả các loại đau khổ xy ra. Hơn na, ông lp lun trong dòng cuối cùng của khổ thơ này rằng chu kđau khổ kéo dài này có thể được chm dứt thông qua sự hiu biết về chân lý Vô ngã. Nhờ vào sự thuyết phục, nhn thức và làm quen nht quán với chân lý này, chúng ta có thể đo ngược chuỗi hành động và phn ứng đã
 


nêu ở trên. Bằng cách kng tuân thủ quan nim sai lm vstồn tại độc lp hay nội tại của svt, chúng ta skng gán nhng thuộc tính sai cho các đối tượng, điu này ngăn chn nhng phin não và từ đó chm dứt các hành động phá hoại hoc ô uế.

Do đó, nếu ai đó thực smuốn được giải thoát khỏi mọi nỗi s hãi, sự hiu biết về chân lý Vô ngã là kng thể thiếu. Đức Pht đã đề cp rt rõ ràng rằng nhng nỗi s hãi này kng là gì ngoài kết quả của nhng hành động ngu dốt của chính chúng ta, được thực hin dưới snh hưởng của bản thân và vô cùng xu xa tự nm bt svô minh. Đức Pht đã dy rằng,
Ging như trong giấc mơ ca mt cô gái trẻ,

đã gp mt cậu bé và nhìn thy cái chết ca anh ta,

Cô vui mng khi gp mt và tuyệt vọng vcái chết ca anh, Xem tt ccác hiện tượng như vậy.”
Điu này chỉ ra rằng tt cả nhng nỗi đau chúng ta trải qua giống như phn ứng của một đứa trẻ trước nhng điu đáng sợ nhìn thy trong nhng cơn ác mộng. Nói cách khác, chúng bt nguồn từ quan nim sai lm của chúng ta vvic xem mọi thlà thực tế. Mọi thtồn ti, thế giới tồn tại nhưng chúng kng tồn tại theo cách chúng xut hin với chúng ta. Chúng xut hin với chúng ta rt thực tế nhưng thực tế chúng tồn tại như trng rng của stồn tại nội tại hoc giống như một gic mơ. Và nếu chúng ta muốn thoát ra khỏi vòng khổ sở lun qun và kng ngng này, chúng ta nên tin vào chân lý Vô ngã qua cách học tp, suy tư và thin định. Các cách này cũng sgiúp chúng ta khut phục nhng nỗi đau trong cuộc sng. Thậm chí, vị thy từ bi, Đức Pht Thích Ca u Ni đã dy chúng ta các cách khác nhau để đối pvới nhng đau kh, chẳng hn, Ngài dy thin vvô thường, các loại đau kh, chánh nim khác nhau để giúp chúng sinh với nhng định hướng tinh thn khác nhau. Nhưng trí tuệ của chân lý Vô ngã là bc nht trong nhng cách trên vì chân lý này có thể xua tan mọi phin não của chúng ta, kng chỉ bằng cách khut phục chúng mà bằng cách loại bỏ nguyên nhân gốc rễ của chúng là tự mình nm bt sự thiếu hiu biết. Ngài Long Thọ có nói trong Pháp giới tán rằng,
 


Vô thường, đau khvà trng rng, Ba điều này giúp thanh lc tâm trí. Pp thanh tịnh tâm tốt nht,
Là sthiếu bn cht tự nhiên.”

Ngoài ra, Đức Pht đã dy trong Kinh pháp cú rằng tt cả các hình thức đu kng có tht, ai biết và nhìn thy sẽ trở nên thụ động trong nỗi đau và có thể đt được sự thun khiết. Do đó, ai học hỏi liên tục sẽ nhn ra sự trng rng hoc bản cht giống như o nh của tt cả các hin tượng và scó thể chống lại được nhng nỗi shãi và đau đớn tồi tệ nht, và sđt được sự thun khiết của niết n.

Hơn na, nếu khát vng của chúng ta kng chỉ là sgiải thoát cá nhân mà còn để mang lại lợi ích cho tt cả chúng sinh thông qua sự thức tỉnh hn tn, dù có thực hành mười danh hiu Pht giáo như shào png, kỷ lut đo đức và tính kiên nhn sự hiu biết v sự trng rng trở nên kng thể thiếu. Đó là vì tt cả các thực hành này trở nên tinh khiết hoc được hn thin chỉ khi chúng được kết hợp với trí tuệ của sự trng rng. Ví dụ, ngài Nguyt Xng giải thích điu này qua khía cnh của srng lượng trên mt đt Bồ tát đu tiên, trong Chương một của Nhp trung đo rằng,

Sự cho đi, khi không nghĩ đến người tng, món quà, người nhn,

Được gọi là một sự cứu cánh vượt qua thế giới. Nhưng khi chấp trước vào ba điều này xy ra, Thì đó là hành đng ca nhng người trn tc.”

Hành động cho đi gn lin với nhn thức rằng người cho, món quà, người nhn kng có stồn tại nội tại là một minh chng hn ho của shào png. Sự cho đi kng được kết hợp với hiu biết này chỉ là một hành động trần tục. Vic thin định kng đối ngu vsự trng rng của một vị bồ tát là siêu phàm, do đó, vic thực hành gn lin với nó là một sự hn ho siêu phàm. Đó là bởi vì trí tuệ này nhn thức rằng cả ba lĩnh vực của người cho, quà tặng và
 


người thhưởng đu kng có stồn tại nội ti. Tương tự như vy, ông giải thích làm thế nào các vị bồ tát thực hành tt cả các sự hn ho khác như kỷ lut đo đức, skiên nhn, tp trung thin định và trở thành siêu thế khi họ thm nhun sự hiu biết vsự trng rng.

Để thực hành chân lý Vô ngã cn tu luyn syên tĩnh và bình tĩnh ở nhng cá nhân, nhng người thin định và cũng đóng một vai trò quan trng trong vic xây dựng hòa bình thế giới. Tình trạng của một gia đình, thành ph, quốc gia, thế giới hoc tn bộ vũ tr được xác định dựa trên tình trạng của cư dân và mối quan hệ của họ với nhau kng chỉ ở cp độ cá nhân mà còn ở cp độ hệ thống như giáo dục, kinh tế, chính trhay môi trường. Và như đã giải thích trước đó, khi chúng ta càng thy bản cht thực sự của tt cả các hin tượng, tức là sự trng rng của stồn tại độc lp, chúng ta càng hiu rõ hơn về hiu quả của nguyên tc phụ thuộc ln nhau. Thuyết Duyên khởi đã được Đức Pht Thích Ca u Ni đã dy trong Đạo Cang Đại Thừa Kinh rằng một cái gì đó phát sinh vì một cái khác đã tồn ti; một cái gì đó được sinh ra bởi vì một cái khác đã được sinh ra. Điu này chỉ ra rằng bt kỳ thgì tồn ti, ra đời đu phụ thuộc vào một số điu kin nht định. Kng có gì trong tn bộ vũ trnày có stồn tại độc lp hoc nội ti.

Nếu ai đó nhìn thy bản cht phthuộc ln nhau ca tt ccác hin tượng, người ta sluôn nhn thc được thc tế rằng ngay chnh phúc mà tt cchúng ta muốn ng là một hin tượng phthuộc. Nó phthuộc vào nhiu yếu tnhư giáo dục tt, môi trường trong sch, kinh tế n định, lut pháp và trt thiu quvà hành vi ca đồng bào chúng ta không chđi vi nhau mà còn đi vi giáo dục, hsinh thái, kinh tế, lut pháp, quốc gia, thế giới và vũ tr. Kng còn nghi nggì na, nhng vn đnhư mt ng tin, tham nhũng, suy thoái hsinh thái, phân bit chng tộc, chiến tranh, khng bđu là kết qucủa vic chúng ta thiếu hiu biết vbản cht phthuộc ln nhau ca vn vt. David Bohm, một nhà vt lý ni tiếng ca thế kXX, người đã đóng góp nhng ý tưởng không chính thống cho lý thuyết lượng tử, khoa học thn kinh và triết học ca tâm tnói,



“… Nếu chúng ta xem xét các ý thức hkhác nhau có xu hướng chia rnhân loi, như phân biệt chng tc, chnghĩa n tc cực đoan và đu tranh giai cấp chnghĩa Marx, mt trong nhng yếu tquan trọng ca ngun gc ca chúng là xu hướng nhn thức mi thnhư bị chia rvà ngt kết ni.”

Từ quan nim sai lm này ny sinh nim tin rằng tt cả chúng ta và tt cả các chia rnày vcơ bản là độc lp và tự tồn ti, điu này thúc đy chúng ta tham gia vào tt cả các loại tham nhũng kng chỉ ở cp độ cá nhân mà cả quốc gia, quốc tế.

Vì lý do này, khi chúng ta ta càng hiu sâu hơn về trí tuệ của chân lý Vô ngã khi thy bản cht phụ thuộc ln nhau của tt cả các hin tượng, chúng ta sẽ càng ít tuân theo quan nim sai lm vvic xem mọi thlà độc lp hoc tự tồn ti. Nói cách khác, người ta càng hiu rõ nhiu hơn và cht chẽ hơn vmạng lưới rng lớn giữa s phụ thuộc ln nhau của chúng sinh và thế giới chúng ta đang sng, chúng ta sẽ càng tôn trng đồng loi, lut pháp và mnh lnh, hệ sinh thái và cả vai trò của giáo dục, chính tr, kinh tế trong vic xây dựng một thế giới hòa bình. Một ln na, theo theo thuyết Duyên khởi, chúng ta sẽ đóng một vai trò tích cực trong vic xây dựng thế giới mà tt cả chúng ta muốn sng. Do đó, di sn trí tuệ này có ý ng- hĩa rt sâu sc trong vic giải thoát các cá nhân khỏi nhng đau đớn và căng thẳng tồi tệ nht của cuộc sng và còn mang lại hòa bình trên tn thế giới.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây