25 ỨNG DỤNG TRIẾT LÝ VÀ ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO TRONG NHỮNG NỀN VĂN HÓA KHÁC NHAU

Thứ tư - 08/05/2019 22:08
Phạm Thị Minh Hòa (Nguyên Hương)*





 
NG DNG TRIẾT LÝ VÀ ĐO ĐC PHT GIÁO TRONG NHỮNG NỀN VĂN HÓA KHÁC NHAU

 
Phạm Thị Minh Hòa (Nguyên Hương)*



TÓM TẮT

Đạo Pht đã có mt trên thế gian này n hai ngàn năm tm năm. Ngày nay Đạo Pht đã phát trin đến khp năm Châu bốn bin, không còn giới hn bởi quốc đmà Đạo Pht đã ra đời là n Đna. Tùy thời k, tùy quốc đmà tư tưởng Pht giáo du nhp, phát trin và tn tại theo nhng hình thc khác nhau. Tu vc sông Hằng Hà, tư tưởng Pht giáo đã được chư tăng truyn giáo ng vi các thương buôn đi ngược lên sông Yamuna đến các nhánh sông khác ca vùng châu thsông Indus, vùng Tây bc n như Kashmir & Gandhara, lp ra nhng trung tâm Pht giáo và trường đại học ni tiếng như Takax- ila (Tây n) & Nalanda (Đông Bắc n).

Mt khi tư tưởng Pht giáo tiếp xúc vi văn hóa và cách sng của người bản đa, đcó thăn sâu m rvà trthành một phn của nn văn hóa đó, nhng tư tưởng mới này thường trnên hòa đồng và định hình li thành bản sc ca Pht giáo ở quốc đ, vùng, min đó. Pht giáo đã phát trin theo hai nhánh chính theo vtđa lý là hướng Nam và hướng Bắc. Khi đi xuống hướng Nam và hướng Đông Nam, tư tưởng và hình thc Pht giáo có vnhư ginguyên bản sc ban đu, được gi là phái bo ththuộc Trưởng Lão B. Theo hướng Nam thì gi là Pht giáo Nam truyn, hay còn gi là Pht go Thera- vada; theo hướng Bc thì gi là Pht go Bc truyn, hay còn gi là Đại thừa, Pht go phát trin. Đó là hai nnh chính ca struyn thừa.



*Tiến sĩ, Tu Vin Liên Hoa, 2014 Rose Street, Irving, TX. 75061, USA
 


Trong bài tham lun này đóng góp một sphân tích tóm tt nhng yếu tkhiến cho Đạo Pht trở nên đa dạng, điu gì nên giữ và điu gì cn phát trin, cũng như nhng yếu tố cn phải thanh lọc để Pht Giáo vn là tôn giáo và con đường sng hữu ích, là giá tr đo đức hướng dn nhân loại trong thiên niên knày. Đạo Pht: đổi mới và hội nhp.

Trong quá trình truyn bá & phát trin, Đạo Pht đã xâm nhp, đồng hóa với nhng nn văn hóa khác nhau, to nên muôn hình muôn sc Đạo Pht, với ba tông phái chính là Nguyên thủy - Nam truyn (Theravada), Đại thừa (Mahayana), và Kim Cang thừa (Tantrayana - Vajrayana). Trong ba tông phái chính này lại có s phân hóa do tư tưởng phát trin, cách hiu và thực hành khác nhau dn đến sự hình thành nhiu chi nhánh nhỏ khác của đo Pht. Đã từng có khoảng hai mươi bộ phái Pht giáo chỉ sau vài ba tm năm khut bóng của bc Đạo Sư. Sự thay đổi và phân phái là điu kng thể tnh khỏi vì cách nhn thức khác nhau trong hàng đệ tử xut gia của đức Pht, vì thời cuộc và li sng ở nhng vùng min khác nhau của n Đ, và có cả vì sự cnh tranh tôn giáo và sgiao thoa tư tưởng của các tông phái triết học và tôn giáo nơi đo Pht gp gỡ.

Điu gì khiến cho tư tưởng và cách hành trì Pht giáo khi đi xuống phía Đông và Nam n thì vn giữ được tinh thn khá nguyên bản, còn khi đi lên phía Bắc và Tây Bắc lại thay đổi khá nhiu so với bản nguyên? Theo thin ý của tác giả thì có ba điu kin khiến cho hai nhánh chính của Đạo Pht phát trin như chúng đã và đang là, cũng từ nhng lun cứ này, chúng ta xác định hướng đi, nhng gì cn thay đổi và nhng gì cn giữ li, cho vic hoằng pháp ở nhng min đt khác nhau trong thời đại của chúng ta.
 




Đầu tiên, chúng ta phải ln về thời đức Pht còn tại thế, nhng câu chuyn và hình thái tư tưởng đã phát sinh khiến cho bc Đạo Sư cho phép thay đổi một số cách hành trì đã được xác định trong Tạng Lut. Khi tôn giMaha Kaccayana và đệ tử của mình đến từ vùng Avanti (Tây Nam n) – nơi có thời tiết khu và đt đai khác với vùng lưu vực sông Hằng Hà, và nơi đây dân chúng cũng có cách nhìn và cách đánh giá vsch, đp, lịch sự, v.vkhác hơn so với dân chúng ở vùng Majjhinadesa (Trung n), với syêu cu chính đáng của ngài Maha Kaccayana ại Ca-Chiên Diên), đức Pht đã cho phép thay đổi một số đim trong cách hành trì của chư Tăng để phù hợp với khu và thổ nhưỡng, cũng như quan nim của người
 


vùng Avanti. (Ref. Vin.iii, Đại PhẨm 1, ch. Da thú).

Vn đề mà chúng ta thy ở đây là (1) khu, (2) thổ nhưỡng (điu kin tự nhiên) và (3) quan nim sn có của người dân (điu kin xã hội) nơi giáo pháp scó sức nh hưởng để rồi có khnăng ăn sâu m rễ để trở thành một tôn giáo mới nơi đó. Một điu cũng kng kém phn quan trng na, đó là (4) người truyn bá: đa vvà sức nh hưởng của người đó lên xã hội. Có lẽ trong bốn điu kin này thì môi trường xã hội, nhng nim tin và môi trường triết học – nhn thức sn có nơi min đt mới đóng vai trò cực kỳ quan trng trong vic giáo pháp có được chp nhn và trở thành một phn cuộc sng ở min đt mới hay kng?

Nhng min đt và bộ tộc ở phía Nam n nói chung thì ngoài nhng vn đề như khu và tp tục tương đối tương đồng với vùng đt lưu vực sông Hằng Hà, họ cũng chưa có nhng nim tin tôn giáo nào đủ mnh để thống trị tư tưởng của người bản đa. Khi tư tưởng và cách hành trì của Pht giáo truyn bá đến đây, phn lớn là thông qua các vị tu sĩ đã xut gia trong giáo pháp và hành trì có kết quả chuyn hóa rõ rt, có chí hướng đem nim tin và triết lý sng giác ngnày trvề quê hương h. Kng quá kkhăn để giáo pháp mới tìm được chỗ đứng trong lòng người dân cũng như giai cp thống trị ở nhng min đt này. Uy tín và dòng tộc, sức nh hưởng của các nhà truyn giáo thủa ban đu cũng rt quan trng. Phn lớn các vnày xut thân trong gia đình vương tộc hay các học gicó sức nh hưởng lớn lên giai từng cao của xã hội. Đó là một lợi thế lớn để giáo pháp giác ngộ nhanh chóng trở thành tư tưởng và nim tin chđo ngay trong thời kmà các nhà truyn giáo đến – thế hệ thứ nht. Đây là nhng lý do vì sao khi đo Pht được truyn bá đến nhng vùng đt phía Nam (nam n và Sri Lanka), và sau đó là phía Đông Nam (Myanmar, Thailand, Thaton Kingdom and Su- vannabhumi) nhng tinh túy và cách hành trì của Pht giáo kng thay đổi nhiu so với thời đức Pht còn tại thế và thời kđo Pht có nh hưởng lớn nht ở lưu vực sông Hằng Hà.

Khi truyn lên hướng Bắc và Tây Bắc, đo Pht đã gp gvới các nn văn hóa và truyn thống khác đã định hình trong xã hội. Ngay tại nơi ra đời và phát trin vào thời ksơ thời, tư tưởng Pht giáo ng chỉ là một trong nhng trường phái tôn giáo đương thời. Khi đọc Trường Bộ Kinh (DN) chúng ta thy nhng cuộc đàm đo giữa
 


đức Pht và các nhà tư tưởng, giáo dục và nhà tu hành đương thời. Sự tương tác và giao lưu tư tưởng, văn hóa này làm cho đo Pht sáng tỏ hơn, kng chỉ là đo của các du sĩ khổ hnh, mà còn là một nh hưởng lớn mang tính giáo dục và xã hội, góp phn vào nhng thay đổi về nhn thức, cách cai tr, đo đức làm người ở nhng vị trí khác nhau trong gia đình & xã hội. Vn đề cn được làm sáng tỏ ở đây là trong quá trình giao thoa, trao đổi tư tưởng và nim tin đó, ý tưởng chđo và nhng cách hành trì Pht giáo đã thay đổi như thế nào để trở thành đo Pht phát trin?

Vào thời đức Pht và các vị thánh tăng có nh hưởng lớn, do trí tuệ và đức hnh của các ngài quá lớn, slan ta tư tưởng Pht giáo trở nên rt mnh m. Nhng vị học gihay đo sĩ từng gp ngài hu hết đu bị thuyết phục và áp đo bởi tm tư duy và nội lực mnh mẽ của ngài. Đây là thời kmà giáo pháp có sức hút kỳ diu, có kh năng chuyn đổi hu hết các giai từng của xã hội. Tuy nhiên, càng v sau, nhng nhân cách lớn trong tăng đn & giáo pháp càng ít dn, khi cùng tồn tại và phát trin với các dòng tư tưởng, tôn giáo khác thì sức nh hưởng là mang tính hỗ tương.

Nhng thay đổi và dị bit đu tiên có thể có nguyên nhân là v trí đa lý cách bit, vic đi lại và trao đổi tư tưởng, thống nht cách hành trì giữa chư tăng có phn kkhăn. Khi nhng cuộc hội họp mang tính tôn giáo (Sanghakamma) thưa dn, các cng đồng tudn ít gp gỡ, trao đổi & giao lưu với nhau khiến cho giáo pháp vốn được giữ gìn qua truyn khẨu (oral tradition) bt đu dị bit do từng nhóm thy –trò truyn tụng khác nhau. Phn lớn mỗi nhóm chỉ học thuộc một phn của kinh đin, khi truyn khẨu lại cho thế hệ học trò khác, họ chỉ ghi nhớ phn mà nhóm đó học được từ nhng người thy của mình. Nếu các nhóm kng thường xuyên trao đổi và học hỏi nhng phn khác của Tam Tạng, họ skng có được cái nhìn tn din vđo Pht , mà chỉ có Pháp Tài hn hp trong truyn thống của mình mà thôi.

Theo giáo sư Harimuna Arika trong cuốn sách Lịch SPht Giáo n Độ thì đo Pht Đại Thừa được hình thành vào khoảng năm tm năm sau khi đức Pht nhp dit.1 Đây là sphát trin tư tưởng

 
  1. P. 19 – Introduction – Indian Buddhism From Sakyamuni to early Mahayana by Hari- kawa Arika, translated into English By Paul Groner, © 1990 University of Hawaii Press.
 


và cách hành trì Pht giáo tương duyên với nhng đòi hỏi của thời đại mới (hồi đu knguyên). Đạo Pht Đại Thừa bao gồm cả nhiu yếu tkng tìm thy trong Đạo Pht sơ thời. Mặc dù có nhng sáng kiến mới du nhp vào để cho Đạo Pht thích hợp hơn với qun chúng thích lễ nghi và cúng bái, thì nhng tinh thn nguyên thủy vgiác nggiải thoát khổ đau trong Tam Giới vn được giữ lại trong đo Pht phát trin vào thời kđu. Thực cht nhng bộ lun vTrung Quán (Madhyamaka) hay Tánh Kng (Sunyata) của các tác gigây nh hưởng lớn nht thời kđu của Đại Thừa đu có gốc rễ trong kinh đin Nguyên thy, chỉ là nhng tư tưởng đó được phát trin rng rãi hơn, phong phú hơn và dùng nhng ngôn ngữ mới hơn để tha mãn nhu cu nghiên cứu, học thut của thế hệ sau mà thôi. Thực cht sự hình thành và phát trin của tư tưởng Đại thừa ban đu chỉ là sự hồi sinh nhng tinh thn thâm sâu trong giáo lý giác ng, làm cho chúng thích nghi với điu kin sng và khuynh hướng tìm kiếm tôn giáo của thời đại khác. Tuy nhiên nhng cái thêm vào và mở rng đó cũng đem đến một snguy him tim tàng cho Đạo Pht. Dn dn người ta kng còn hng thú với con đường tu tp Bát Tnh Đạo na, thay vào đó họ thích nhng cái thn bí, nhng năng lực siêu nhiên và các câu thn chú cũng như ma lực của nhng điu huyn bí.2

Chính nhng yếu tố thêm tht để thu hút tín đ, nhng chiếc áo khoác được ct lại cho vừa cỡ nhn thức của qun chúng, và nhng màu sc bt mt, hp dn của nghi lễ rườm rà khiến Đạo Pht Đại Chúng càng ngày càng xa rời với nhng tư tưởng uyên nguyên ban đu của đo giác nggiải thoát. Khi các nhà truyn đo kng có nhiu uy tín, kng có nhng nguyên tc hành trì kiên định, nội lực lại ít ỏi thì vic bị đồng hóa và hòa tan vào văn hóa bản đa cũng là điu tt yếu. Vào khoảng thế kỷ thsáu sau công nguyên, đo Pht ở n Đđã phát trin thành một tôn giáo mang nhiu đc thù bí Ẩn, du nhp các vị thn n giáo và các tín ngưỡng đa phương vào cách hành trì Pht Giáo. Điu này xẨy ra là do nh hưởng và cnh tranh với các tôn giáo đa thn khác, nht là n giáo. Vic du nhp các vị thn n giáo và nghi lễ cũng như tín ngưỡng đa phương vào Đạo Pht khiến nó thu hút được một số từng lớp, nht là đám đông
  1. P. 23 – Introduction – Indian Buddhism From Sakyamuni to early Mahayana by Hari- kawa Arika, translated into English By Paul Groner, © 1990 University of Hawaii Press
 


kng cn srõ ràng trong giáo lý và đo đức, đến với đo Pht. Tuy nhiên điu nguy him là nhng thứ đổi mới theo kiu này đã làm cho Đạo Pht kng khác với n giáo, và vô hình chung nó đã bị đồng hóa và mt đi hn tn thế đứng và bản sc của mình. Đây là một trong nhng nguyên nhân khiến cho đo Pht biến mt ởn Độ - nơi đo Pht đã ra đời và phát trin đa dạng khoảng 1500 năm.

Khi đo Pht được truyn bá đến Trung Á, Tây Tạng và Trung Quốc – nhng quốc độ có thời tiết, khu và tín ngưỡng – văn hóa rt khác với n Độ thì sự thay đổi trong cách truyn bá và hành trình để được chp nhn ở min đt mới là điu kng tnh khỏi. Khi Pht giáo đến Trung Quốc vào nhng năm đu của thế kỷ thứ nht, Đạo Lão và Đạo Khổng đã là nhng tôn giáo và triết lý sng làm nên tôn ty trt tự của xã hội Trung quốc hàng tm năm ri. Tư tưởng đo Pht khi đến đây đã được giải thích và hiu theo ngôn ngữ của các dòng triết học Khổng – Lão. Phải mt my thế k, đo Pht đại thừa mới m rvà phát trin thành Đạo Pht của người Trung Quốc theo hình thức Tam giáo đồng nguyên. TTrung quốc, đo Pht đã theo các nhà sư và các học giả đến Nht bản, Cao ly, Đài Loan và Vit Nam.

Như dòng nước chy từ Hy Mã Lp Sơn xuống các vùng châu thổ và đồng bằng qua nhng nhánh sông suối khác nhau, qua nhng chướng ngại vt như núi đồi và min đt khác nhau đã mang theo phù sa và các khoáng cht ở nhng min đt mà dòng nước đã đi qua. Cũng vy, triết lý sng trong giáo pháp và cách hiu, cách hành trì của các chi nhánh Pht giáo khi truyn bá qua các quốc độ và nhng dân tộc, nhng nn văn minh khác nhau cũng đã hòa trộn vào dòng chy truyn thừa nhng yếu tvăn hóa – tâm linh đã có sn và đang thịnh hành ở nhng quốc độ đó, điu làm nên bản sc của đo Pht ở nhng quốc đ, vùng min khác nhau. Dòng chy càng xa nguồn thì càng nhiu tp cht, cũng vy nhng hình thái đo Pht đã qua nhiu biến đổi để thích nghi thì độ tinh nguyên của giáo lý giác nggiải thoát cũng mờ nht dn. Đó là vì sao người ta gọi là thời mt pháp.

Chúng ta có thể ví đo Pht như một cây cổ thvới hai nhánh chính phát trin từ gốc và nhiu nhánh phkhác đã tồn ti, đã biến đổi hình thái, như cành, ngọn hoa lá của một cái cây. Tam Tạng Kinh đin của các truyn thống truyn thừa vn còn. Chúng ta may
 


mn sng trong thời đại mà vic chu du khám phá các nn văn minh và kho tàng học thut dễ dàng hơn các vtsư tin bối rt nhiu. Vic tiếp cn với Kinh Lut Lun bằng các ngôn ngkhác nhau của các tông phái cũng đã được làm cho dễ dàng hơn qua phương tin Internet. Tvài thế kgn đây, đo Pht đã vượt ra ngoài Châu Á và vùng Vin Đông, đã được truyn bá và đang đang tồn tại và vn đang phát trin tiếp đến Âu – Mvà các quốc gia phương Tây. Chính sự thay đổi và phát trin của Đạo Pht từ nhng giáo lý nguyên thủy đã làm cho đo Pht hin đại rt phong phú và đa dạng khi được tiếp nhn bởi các quốc gia như Anh, Pháp, Đức, Mvà Úc châu.

Chúng ta được thừa hưởng một kho tàng tri thức và văn hóa Pht giáo cực kphong phú và đa dạng, tuy nhiên, ứng dụng triết lý sng và đo đức Pht giáo như thế nào vào trong nhng ngữ cnh văn hóa và thời đại khác nhau lại tùy thuộc vào sự ứng biến của nhng vị trưởng tử Như Lai, người thực hành sứ mnh đem giáo pháp đến mọi nơi, thâm nhp vào mọi nn văn hóa trong thời đại tn cu này. Chúng ta có cơ hội để so sánh các bản Kinh – Lut và Lun tạng để tìm ra nhng đim chung, cốt lõi của triết học, tư tưởng & văn hóa Pht giáo. Đây là hành trình tìm vcội nguồn, gn bỏ bớt nhng tp cht hay nhng yếu tố thêm vào qua các thời đại và các nn văn hóa, tín ngưỡng nơi Đạo Pht đã đi qua suốt hơn hai ngàn năm. Tư tưởng chđo vTứ Diu Đế, TVô lượng Tâm, vòng tròn nhân duyên và lý Duyên Khởi, nhng giác ngvbản cht của đời sng vô thường, bt toại nguyn và triết học vô ngã, nn giáo dục vượt lên trên scố chp, đưa con người đến nhn thức cao hơn, về chân trời giải thoát và đời sng vị tha là nhng giá trbt hoại của đo Pht, và nhng tư tưởng chđo này luôn ứng dụng được trong mọi thời đi.

Giá trcốt lõi của đo giác nggiải thoát thì phi thời gian, còn nhng yếu tvăn hóa tín ngưỡng thêm vào thì chỉ như nhng lớp vỏ bên ngoài, như nhng chiếc áo khoác theo mùa hay theo mode, kng nht thiết phải khư khư giữ lại khi chúng đã trở thành sự cn trở cho dòng chy của chánh pháp.

Một trong nhng yếu tố cn trsự hiu biết vPht giáo đối với tuổi trẻ - nhng người kng học Hán văn là ngôn nglà ngôn ng và hình tượng trong kinh đin. Hu hết các bản dịch kinh đin đu rt nặng các thut ngHán – Vit. Cho đến bây giờ, nhiu chùa Vit
 


Vit nam cũng như ở hải ngoại – tại các nước dùng Tiếng Anh là ngôn ngữ chính nhưng kinh sách và cách tụng đọc vẫn chỉ có trong chHán cvà chVit dịch âm! Ngôn ngữ, đin tích và hình tượng được dùng có liên quan đến nhận thc. Thời xưa các vtổ dùng nhng câu chuyn và đin tích, ngôn ngữ thuộc về thời đại của h. Chúng ta cũng có thể dùng ngôn ngữ, đin tích và hình tượng của thời n minh svà khoa học lượng tử, ngôn ngữ internet để din t tư tưởng và các hình tượng Pht giáo. Thời đức Pht còn tại thế, khi có một nhóm các sư xut tn từ các học giBà-la-môn, đã yêu cu đức Pht cho lưu trvà bt học kinh đin từ một ngôn ngữ chính thống là ngôn ngSanskrit, Đức Pht đã từ chối. Ngài khuyên các tkheo nên học giáo pp bng ngôn ng(mẹ đ) của mình, và chia sgiáo pp bng ngôn ngnào gn gũi và dễ tiếp thu nht cho dân chúng (Ref. Tng Lut).

Ngày nay đo Pht đã đến Tây phương, kng phải chỉ một tông phái mà cả ba nhánh chính đang tồn tại của Pht giáo và vô s hình thức đo Pht khác. Điu gì đã hp dn nhng trí thức Phương Tây đến với đo Pht? Sau khi Tam Tạng kinh đin được dịch sang tiếng Anh bởi hội Pali Text Society vào năm 1881 bởi ngài Thomas William Rhys Davids (London), người ta tìm thy một kho tàng tri thức về triết học, tâm lý học, đo đức, v.v… cực kphong phú, thâm sâu và thực tế, nhng người trí thức ở phương Tây đã bị hp dn bởi tôn giáo Đông phương này. Sang thế kỷ 20, thin Pht giáo, đc bit là thin định (samatha) và thin quán (Vipassana) lại khơi dy một nim hng thú tìm hiu và thực hành khác nơi nhng hành giTây phương. Hin tại ở US và Australia có trên 50 trung tâm thin quán Vipassana theo trường phái Guenkaji. Ở các trung tâm này mỗi tháng đu có hai khóa thin 10 ngày cho mọi người, và 20 ngày cho nhng thin sinh cũ, đc bit hp dn các trí thức và các nhà qun lý trẻ tuổi đến trung niên tham dự. Các khóa thin đu được đăng ký hết chỗ trước nhiu ngày, kng phải chỉ vì vị thy hướng dn giỏi, mà còn vì cách tổ chức rt khoa học, người phục vụ thể hin tinh thn vô ngã vị tha khi làm vic trong khóa thin.
Ngoài ra, người Tây phương cũng tìm thy vic nghiên cứu
& thực hành Đạo Pht đem đến nhng nhn thức có chiu sâu,
đc bit là skết hợp giữa tâm lý học Pht giáo và tâm lý học Tây
phương đã làm nên một trào lưu học Pht và hành thin khá hp
 


dn cho nhng người trí thức hin đi. Ngoài ra thin và triết lý Pht giáo sng hòa thun với thiên nhiên, khi kết hợp với khoa học thn kinh cũng được ứng dụng khá rng rãi ở Tây phương để gim thiu căng thẳng & lo lắng, bt an do đời sng hin đại đem li. Đã hơn 30 năm chương trình ng dụng Thin Chánh Nim để Gim thiu Căng Thẳng – lo âu (Mindfulness-based stress reduction - MBSR) được ứng dụng trong nhiu lĩnh vực của đời sng thế tục US và các nước khác. Đây là một chương trình đào to và hun luyn sử dụng thin Pht giáo, Yoga và thay đổi tiến trình nhn thức mà ban đu được sáng to để giúp người bnh sng ổn với nhng cơn đau và một số biu hin bnh tt khác trong bnh vin. Chương trình này được phát trin bởi trường đại học University of Massa- chusetts Medical Center vào đu nhng năm 1970s, dn đu bởi giáo sư Jon Kabat-Zinn. Cho đến nay vic thực hành chánh nim đã được phát trin phong phú để áp dụng trong nhiu tình huống và lĩnh vực khác của cuộc sng, như trong giáo dục, trong môi trường lãnh đo và phát trin doanh nghip.

Vpháp học, Tam Tạng kinh đin bằng tiếng Anh dịch từ Pali đã được các học givà các nhà sư gốc Tây phương dịch lại và cp nht, so sánh với các bn từ Agama và các nguồn Hán Tạng, Tibet và bn tiếng Nht. Nhng trang Website dn đu trong vic phổ biến kinh sách và tài liu Pht học như Buddhanet.net và https://suttacen- tral.net/ có ni dung rt phong phú, đa dạng và các bn dịch mới nht, với ngôn ngữ hin đại và so sánh các bn dịch của các truyn thống khác nhau, là nhng nguồn Pht học đáng tin cy.

Như vy sau hơn 2500 năm, Đạo Pht đã phát trin rng rãi khp thế giới, được học tp nghiên cứu và ứng dụng trong nhiu lĩnh vực khác nhau của đời sng, kng chỉ cho người xut gia mà còn rt hữu ích cho người thế tục, giúp họ vượt qua nhng khổ đau bt an trong đời sng hin đi. Khi đo Pht phát trin ở Tây phương, hu hết các hình thức lễ nghi và văn hóa bản đa của người Phương Đông đã được lược b. Chỉ còn nhng phn tinh túy nht, như nhn thức vTam Pháp n và lý duyên khởi, pháp hành để sng vô ngã và vị tha là còn được giữ lại và dy trong ngôn ngữ của tâm lý học, thn kinh học, và ngôn ngữ của thời đại kỹ thut s.
 




TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tạng Lut, Đại phẨm, bản dịch của TKheo Indacanda. Trường Bộ Kinh – bản dịch của HT Thich Minh Châu.
  Indian Buddhism From Sakyamuni to early Mahayana by Harikawa Arika, translated into English By Paul Groner, © 1990 University of Hawaii Press.

Geography of Early Buddhism by Bimala Churn Law, Univer- sity of Oxford Press 1932. bản scan on Intenet của Ven. Ānandajoti Bhikkhu May, 2014 . Ref: http://www.ancient-buddhist-texts.net/ Maps/MP-index.htm.

2500 years of Buddhism – the Publications Division Ministry of Information and Broadcasting, Government of India, New Delhi May 1956.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây