25. CÁCH TIẾP CẬN CỦA PHẬT GIÁO VỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LIÊN HỆ THỰC TIỄN Ở VƯƠNG QUỐC BHUTAN VÀ GỢI MỞ CHO VIỆT NAM

Thứ sáu - 03/05/2019 07:02
Thích Thanh Tâm
- * Đại đức, TS., Ủy viên Ban Hoằng pháp Trung ương, Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
391





 
CÁCH TIẾP CN CA PHT GIÁO VỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNLIÊN HỆ THỰC TIỄN Ở VƯƠNG QUỐC BHUTAN VÀ GỢI MCHO VIT NAM

Thích Thanh Tâm*






M TẮT
Pht giáo đã đang góp phn lý giải thấu đáo về nguyên nhân của sự phát triển không bền vững trong đời sống kinh tế hội hiện nay. Với giáonhân duyên, dun khởi đã khiến nhn thức của con người thay đổi mình người. Mặt khác, tự thân Pht giáo cũng có những yếu t bền vững điều chỉnh hướng phát triển đáp ứng vai trò của mình đối với yêu cầu hội đt ra.
Việc nghiên cứu cách tiếp cận của Pht giáo đối với vấn đề phát triển bền vững sẽ giúp cho các quốc gia, đặc biệt ở một s quốc gia châu Á - nơi tư tưởng Pht giáo có nh hưởng lớn, gia tăng nhn thức hành động về chiến lược phát triển bền vững trên quy mô tn cầu cũng nhưtừng quốc gia.
Cách tiếp cận ấy được liên hệ thực tiễn đến Vương quốc Pht giáo Bhutan với hệ giá trTng hnh phúc quốc gia (GNH) do Cựu quốc vương Pht tử Bhutan Jigme Singye Wangchuck đề xuất xây dựng mô hình phát triển để đo lường nếp sống người dân - cách tiếp cận tn diện bền vững cho sự phát triển n đối giữa vật chất các giá trị phi vật chất với niềm xác tín con người muốn tìm





* Đại đức, TS., Ủy viên Ban Hoằng pháp Trung ương, Giáo hội Pht giáo Việt Nam.
 

kiếm hnh phúc tht sự. T đó, gợi mở phát triển bền vững kinh tế
  • hội Việt Nam phù hợp với hướng đi của nhân loại.
  1. CÁCH TIẾP CN CỦA PHT GIÁO VỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
    1. Phát triển bền vững (PTBV) gì?
Khái niệm phát triển bền vững xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường từ những năm đầu của thp niên 70 của thế kỷ XX. Năm 1987, trong báo o Tương lai chung của chúng ta của hội đồng thế giới về môi trường phát triển của LHQ, phát triển bền vững được định nghĩa s phát triển nhm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự thỏa mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai. [21]
Trong hi nghị thượng đỉnh trái đt về môi trường và phát trin t chứcRio de Janeiro (Braxin) năm 1992 hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định phát triển bền vững quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý hài a giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển tăng trưởng kinh tế; phát triển hội, bảo vệ môi trường. Tiêu chí để đánh giá phát triển bền vững sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ công bằng hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo v nâng cao được cht lượng môi trường sống.
Như vy, phát triển bền vững nhu cầu cấp bách xu thế tt yếu trong tiến trình phát triển củahội loài người, do đó đã được các quốc gia trên thế giới đồng thuận y dựng thành chương trình ngh scho từng thời kỳ phát triển của lch s. [19] Tại hi nghị thượng đỉnh trái đt về môi trường phát triển được t chức năm 1992 ở Braxin, 179 nước tham gia hội nghị đã thông qua Tuyên bố Rio de Janeiro về môi trường phát triển bao gồm 27 nguyên tắc cơ bn chương trình nghị sự 21 về các giải pháp PTBV chung cho tn thế giới trong thế kỷ 21. Hội nghị khuyến nghị từng nước n cứ vào điều kiện đặc điểm cụ thể để xây dựng chương trình nghị sự 21 ở cấp quốc gia, cấp nnh địa phương. Mười năm sau, tại hội nghị thượng đỉnh thế giới về PTBV t chức năm 2002 ở Johannesburg, 166 nước tham gia hội nghị đã thông qua Bản tuyên bố Johannesburg Bản kế hoạch thực hiện về PTBV, khng định lại các nguyên tắc đã
 

đề ra trước đây tiếp tục cam kết thực hiện đầy đủ chương trình nghị sự 21 vPTBV.
    1. Cách tiếp cận của Phật giáo với phát triển bền vững
Thế giới hiện đang đứng trước nguy phát triển thiếu bền vững. Sbt bình đẳng thhin dưới nhiu dạng, ngay trong vn đề PTBV. T nguồn tài nguyên thiên nhiên cho đến cam kết gìn giữ bảo tồn đang gặp khó khăn hầu như không thể giữ gìn bảo quản tài nguyên trước tác động của hiện đại hóa, tn cầu hoá. n cạnh đó,hội hiện đại còn mắc phải n bệnh trầm kha về thương tổn tinh thn sự thiếu hụt đời sống n trong, như một phản ánh tt yếu sự phát triển thiếu n bằng của đời sống vật chất n ngoài. Sự chuyển đổi của n hoáhội đời sống chính tr đã nhân hoá đời sống làm cho con người dn thiếu ý thức về cái chung, về cộng đồng. Điều này khiến con người tr n khó tìm được điểm thăng bằng giữa sự tự do an tn thay vào đó “bất ổn của sự tồn tại” đã tr thành điều kiện phổ quát cho sự sống con người.
thế, ch tiếp cận của Pht giáo với PTBV một phương ch để điều chỉnh loại bỏ những tr ngại cho định hướng PTBV? Những lịch sử nhân loại trải qua đều thể hiện ng cho một quy luật phát triển với những câu hỏi: phát triển cho ai, phát triển để làm sẽ quy định việc phát triển như thế nào phát triển đem lại kết quả gì. Điều này tht tương hợp với thuyết nhân quả Pht giáo đề xướng. Thiên tai, xung đột đói nghèo, bệnh tt gia tăng kết quả hiện thực buộc chúng ta phải nhìn lại nguyên nhân tn cùng của những hệ luỵ đó. Bản chất của sự phát triển hiện nay của nhân loại có thực sự thể hiện sự tiến bộ của loài người hay chỉ sự đánh đổi bằng chính sự sinh tồn lâu dài? Điều này lại dn tới việc tìm kiếm một hệ quy chiếu triết học đạo đức chính trị, triết học đạo đức tâm linh.
Với Thuyết Duyên khởi (縁起, pratītyasamutpāda), sự hiện hữu của mọi vật lệ thuộc vào nhau không ngoại trừ ai hay ngoại trừ cái n bám vào ý nghĩ về sự hiện hữu riêng biệt không thực tế. Mối tương quan lẫn nhau giữa người với người, người với tự nhiên được Đức Pht thể hin bằng khái nim trùng trùng duyên khởi. Trong mối tương dun không ngừng nghỉ y, con người vừa như một sản phẩm tự ý thức của thiên nhiên lại vừa lệ thuộc vào thiên nhiên,
 

nhưng Pht giáo không tuyệt đối hoá năng lực của con người, cho rằng có thể tách ra đối lập tr lại với những đã sinh tạo ra mình bằng thái độ chiếm hữu. Đạo Pht luôn nhắc nhở con người rằng muôn vật đều bình đng đều chứa đựng trong mình một bản thể chung, gi Pht tính.
T một tầm nhìn như vy, Pht giáo chủ trương yêu thương tt cả, hành vi của ta đối xử với thế giới như thế nào cũng chính cách con người tự đối xử với chính mình như vy. Tm vóc nhỏ bé hay lớn lao của con người tuỳ thuộc vào việc có nhn thức ra thể hiện mối tương quan vô tn giữa mình với thế giới xung quanh hay không, hay chỉ gói gọn mình trong sự tho n những giác quan thể chấtnhân. Không dừng lại ở triết lý, đạo Pht đòi hỏi con người phải hiện thực hoá nhn thức đó bằng hành động năng lực qua việc tu tập chuyển hoá những giới hn hẹp hòi từ n trong, nhằm đt tới mục đích cứu nh sự an lạc tuyệt đối. thế, Phật giáo nhn mạnh đến một triết lý dn thân, những hành trang con người cần mang theo sự kết hợp biện chứng của tt cả các phẩm cht năng lực: t bi về đạo đức, trí tuệ về tính, dũng cảm về hành động, cái này lấy cái kia m nền tảng cho mình để cuối cùng đạt đến sự gc ng, an lạc trên cơ sở thng nht đó. [13]
Cho nên, từ góc nhìn phát triển tn diện con người, lịch sử hội hiện thực một tiến trình phát triển con người kinh tế. Các chính ph đang ra sức cạnh tranh kinh tế bằng mọi giá, lợi nhuận đem lại từ hội tiêu dùng thúc đẩy việc tạo ra hàng hoá để con người ngày ng tiêu dùng nhiều hơn nữa, tho n đòi hỏi nhu cầu cơn khát lợi nhuận. Những saykhông giới hn của con người đối với hàng hoá vật chất đã vô tình dn tới việc bóc lột các nguồn tài nguyên thiên nhiên, phá vỡ sự n bằng mối tương sinh giữa con người với tự nhiên, giữa con người với con người. Chuỗi hệ quả cho sự “vô minh” ấy của con người những nguy hủy diệt sự sống từ thiên nhiên huỷ diệt con người từ chính con người. thế, cách tiếp cận của Pht giáo khi cho rằng bất cứ sự phát triển nào không đem lại sự tăng trưởng về đời sống đạo đức hnh phúc bình an vtâm linh cho con người thì đó kng thể là sPTBV. Ssuy đồi đạo đức, những thương tổn tinh thn của con người trong hội hiện đại không giảm đi ngày ng gia tăng ngay cả trong các hội giàu có của cải vật chất, tỉ lệ tự tử, phạm tội, suy đồi đạo
 

đức ở tr vị thành niên v.v đang mặt trái phơi bày việc mất phương hướng phát triển của hội hiện đại, hay hệ quả của việc coi tăng trưởng vật chất tiêu chí duy nht của sự phát triển.1
Tóm lại, cách tiếp cận của Pht giáo về PTBV thể hiện, thứ nhất, trên lĩnh vực kinh tế. Hiện nay, nhiều nhà kinh tế lấy tiêu chuẩn tăng trưởng kinh tế ngắn hn để đánh giá sự phát triển của quốc gia, quên hệ lụy từ vic tăng trưởng kinh tế kng gn với PTBV. Do đó, cách tiếp cận của Pht giáo đã tái tạo một nền kinh tế bền vững ở hai phương diện: ứng xử với nguồn lực tự nhiên ứng xử với nguồn lực con người. Cho nên, các hoạt động kinh doanh phải luôn chú trọng bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên môi trường sinh thái. Lòng từ bi của Pht giáo được vận dụng trong kinh doanh một động lực để phát triển kinh tế; chăm lo đời sống vật chất đời sống tinh thn của nhân viên, tạo điều kiện cho họ phát triển tn diện bản thân, xử sự thân tình với họ xuất phát từ tình thương yêu sẽ tạo sở cho doanh nghiệp nói riêng, nền kinh tế nói chung tiến đến sự ổn định và PTBV.
Thhai, trên lĩnh vực xã hi. Trong các giá trxã hội, vic ưu tiên giá trị cộng đồng hay đề cao giá trị đạo đức hội một đặc điểm nổi bật trong đời sống dân tộc. Đây sở thực tiễn quan trọng để các giá trị đạo đức Pht giáo thực sự n rễ phát triển trong lòng dân tộc Việt Nam, giúp cho con người ý thức về vai trò hành động của mình trong các lĩnh vực hoạt động hội, sao cho phù hợp với quy luật, tạo sở đảm bảo cho sự tiếp tục phát triển ở tương lai. T đó, những chuẩn mực đạo đức ấy có tác động nht định đến nền đạo đức của dân tộc Việt Nam, góp phn bổ khuyết những giá trị đạo đức mới, cũng như làm phong phú sâu sắc thêm hệ giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. Sự kết hợp hài a giữa đạo với đời, giúp xây dựng cho mình cuộc sống đầy tình người, góp phn ổn định trt tự an tn hội tiến dn đến sự bền vững con người, bền vững hội.
Thứ ba, trên lĩnh vực môi trường. Thảm họa về sinh thái môi trường đang diễn ra khp nơi trên thế giới, nhưng nhu cầu cuộc sống, con người vẫn bóc lột tự nhiên bất chấp sự phn ứng của tự



1. Xem thêm Nguyễn Tt Lân (2015), “Vương quốc Bhutan H giá trị tổng hnh phúc quốc gia”, Tạp chí Nghiên cứu Ấn Độ Châu Á, s 8 (33), tr. 32.
 

nhiên. Giáo Pht giáo coi trọng bảo vệ môi trường, sống a hợp thiên nhiên,có tác động vào tự nhiên thì cũng đt trong mối quan hệ biện chứng. Điều này thể hiện ng trong thuyết dun khởi. Cho nên, việc tác động vào giới tự nhiên một cách tiêu cực, con người không sớm thì muộn cũng phải chịu chung s phn. Thuyết luân hồi nghiệp báo của Pht giáo không dừng lạiviệc giải thích sự có mặt của con người, sự không đồng nht giữa cácnhân, khía cạnh đạo đức của nó được đẩy mạnh để con người có trách nhiệm đối với môi trường sống của mình.
Tóm lại, cách tiếp cận của Pht giáo với PTBV làm sao xây dựng được một hội tỉnh thức tự chuyển hoá nội tâm của mỗi người cũng quan trọng như việc nhà nước hoạch định chính sáchtầm vóc quốc gia, một khi đã vượt qua giới hn hẹp hòi của dục lạcnhân. Không cần phải thuyết phục tn thể hội tr n khiêm tốn hơn phải bắt đầu với hnh phúcnhân, giúp đỡ người khác cảm thấy người khác quan trọng như chính mình. thế, những cách tiếp cận về PTBV theo tinh thn Pht giáo không dừng lại ở lí thuyết đã đi vào thực tế như trường hợp của Bhutan vói chỉ s GNH.
  1. LIÊN HỆ THỰC TIỄN TẠI VƯƠNG QUỐC PHẬT GIÁO BHUTAN
    1. Mô hình phát triển bền vững GNH Bhutan
Vương quốc Pht giáo Bhutan, đt nước Pht giáo n giáo lý được dùng như kim chỉ nam trong cuộc sống thường nht của người dân nền tng bản để xây dựng luật pháp, xây dựng chính sách phát triển quốc gia. Khi thế giới lao đao trước những cơn khủng hoảng kinh tế, trước tình trng thiên nhiên bị hủy hoại, khí hậu nóng n thì Bhutan - qua nhiều năm phát triển, n cạnh quá trình tn cầu hóa, vẫn giữ được những t vốn có từ thế kỷ XVII
  • lại ng nổi n như một quốc gia đi đầu, định hướng được cách phát triển bền vững, bởi ý tưởng GNH phát xuất từ nền tng giáo lý “ thiểu dục tri túc” cựu Quốc vương Jigme Singye Wangchuck đề ra như mục tiêu phát triển hàng đầu ng bạc trong tinh thn chính tr Bhutan.
Cựu Quốc vương Bhutan Jigme Singye Wangchuck nhà cải cách, một kiến trúc cho việc bảo vệ môi sinh. Ngài kế tục con
 

đường giáo dục, kinh tế ngoại giao để phát triển những thành quả tốt đẹp vua cha để lại; giữ gìn truyền thống n a c truyền chủ trương một quốc gia, một dân tộc dân chủ. Nhà vua đẩy mạnh hiện đại a giáo dục, nâng cấp hệ thống y tế chủ trương miễn p giáo dục, y tế các dịch vụ hội. Đồng thời, qua những hình mẫu phát triển của nước ngoài, nhà Vua thấy người dân không hnh phúc khi khoảng cách giàu - nghèo ngày ng gia tăng, phúc lợi hội không được đảm bảo, môi trường bị phá hủy trầm trọng từ quá trình phát triển tăng trưởng kinh tế. Sau bao n khoăn, trăn tr ông đã tìm kiếm tự xây dựng một mô hình phát triển bằng sự n đối giữa giá trị vật chất với giá trị tinh thn thông qua chỉ s GNH.
Tháng 4/1986 GNH xuất hiện trong một cuộc phỏng vấn nhà vua đăng trên t Financial Times của London với tiêu đề của bài viết Tổng hạnh phúc quốc gia quan trọng hơn tổng sản phm trong nước.2 Từ đó, Bhutan đã định hướng xây dựng chính sách quốc gia kế hoạch phát triển theo tiêu chí GNH. Nhìn chung, GNH tạo ra một hội hay quốc gia, trong đó hnh phúc mục tiêu của quản trị. Mục đích của chính ph tạo ra hnh phúc tập thể, bởi hnh phúc tập thể ph thuộc vào hai điều chúng ta nuôi dưỡng bảo vệ các mối quan hệ môi trường. Khía cạnh bản đầu tn của hnh phúc mối quan hệ. Khía cạnh quan trọng th hai môi trường, nhưng nếu không có khía cạnh mối quan hệ thì khía cạnh môi trường cũng không thể được duy trì. Do đó, Chính ph Butan đánh giá mô hình phát triển bền vững dựa trên 4 lĩnh vực:














  1. Xem thêm Karma Ura and Karma Galay (2004), Gross National Happiness and Devel- opment, The Centre for Bhutan Studies, p.287
 
 
1. Phát triển kinh tế - xã hội bền vững:

Butan tập trung vào y tế,  giáo dục và dịch vụ xã hội. Butan đưa ra tiêu chuẩn sống cao hơn  và tiếp cận với tiện nghi hiện đại và công nghệ trên mọi khu vực của đất nước. Yếu tố quan trọng của sự tăng trưởng này là phát triển bình đẳng, để những lợi ích của phát triển đến được những người nghèo nhất và yếu thế nhất. Butan đã đạt được sự phát triển ấn tượng và cải thiện cuộc sống của nhiều người, đặt nền móng cho sự phát triển nhanh hơn, công bằng hơn và nhân đạo hơn.
2. Bảo vệ môi trường:

Được ghi nhận trong Hiến pháp là quyết tâm và cam kết duy trì ít nhất 60% diện tích cả nước có rừng che phủ. Hiện nay, 72% diện tích của Butan là rừng và hơn 1/3 nằm trong mạng lưới các khu bảo tồn. Nhiều người dân Butan khi được hỏi về lý do tại sao luôn có ý thức cao đối với môi trường thì đều có chung một đáp án là con người sống chung với thiên nhiên, đối xử với môi trường như thế nào thì sẽ được nhận lại như vậy.
3. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa:

Kiến trúc riêng biệt, các giá trị văn hóa, các nghi lễ truyền thống... là tất cả các khía cạnh cuộc sống mà người dân Butan muốn gìn giữ, bảo tồn. Thách thức hiện nay đối với quốc gia này là khôi phục và duy trì những yếu tố đó thông qua việc bảo tồn văn hóa.
4. Thúc đẩy quản trị tốt:

Thế giới đang theo dõi tiến trình dân chủ mới ở Butan, và những nỗ lực để thành công với quản trị tốt là một ưu tiên để đất nước này thể hiện với thế giới. Với nền dân chủ này, chính phủ phản ánh ý kiến của người dân, và người dân chủ động hơn trong tham gia đóng góp sự thay đổi.
 

2.2. Kết quả khảo sát hình GNH trong thực tế vận hành

Từ đó, để hoàn thin mô hình PTBV, Bhutan đã thành lp y ban Tng hạnh phúc quốc gia, dưới sự chủ trì của Thủ tướng để sàng lọc tt cả các đề xut chính sách mới được đưa ra bởiquan chính phủ. Bhutan đã tiến hành ba cuộc điều tra tn quốc về GNH trong năm 2008, 2010 2015, các dữ liệu thu thp được cung cấp cho Chính ph một cái nhìn sâu sắc vào chất lượng cuộc sống. Đ thực hiện các cuộc kho t trên, Bhutan xây dựng tiêu chuẩn kho t dựa trên các tiêu chí. Thứ nhất, phải phn ánh được các giá trị chuẩn
 

mực GNH được nêu trong các n bản chính thức như các kế hoạch phát triển quốc gia; phn ánh các giá trị chuẩn mực phù hợp các nền n a truyền thống của Bhutan. Thứ hai, các chỉ s liên quan đến thống tài sản phải được phân tích chi tiết để đảm bảo độ chắc chắn. Thứ ba, các chỉ s được lựa chọn sẽ phn ánh chính xác hnh phúc đã hoặc đang diễn racác vùng khác nhau theo thời gian giữa các nhóm khác nhau. Thứ, các chỉ s nêu ra phải thích hợp để hành động chung, nghĩa mang tính chung nht, dễ hiểu đối với mọi người. thế, qua các cuộc kho t cho “kết quả ch ra rằng mô hình mới này mạnh hơn so với GDP khẳng định GNH là mt mô hình phát triển bền vng khthi.”[22]
Bắt đầu từ năm 2005, chính phủ Bhutan quyết định tạo ra một thước đo các ch số GNH, nhm c định kế hoạch chính sách y dựng đất nước. Năm 2006, tiến hành mt cuộc điều tra thí điểm, nhm phục vụ việc thiết kế bảng câu hỏi (1) thiết lập một khuôn khổ cho sự phát triển của các phương án; (2) cho từng ngành ch số định hướng phát triển; (3) trong phối hợp giữa các mục tiêu công cụ sàng lọc GNH, việc phân bổ hiệu quả các nguồn lực; (4) đo mức độ hạnh phúc phúc lợi của công dân; (5) Đo mức độ tiến bộ; (6) mức độ phát triển của các so sánh giữa các quốc gia. Tháng 12/2007, việc khảo t lại được thực hiện, song do hạn chế về ngân sách nên các cuộc khảo t ch cho 12 khu vực.3
Bhutan đã phát triển các câu hỏi được sử dụng trong các cuộc thăm dò người dân thường xuyên, để đánh giá sự i ng cuộc sống trong mỗi lĩnh vực. Bao gồm các câu hỏi như: Làm thế nào để bạn cảm thấy an toàn khỏi sự nguy hại của con người? Hiếm? Thông thường? Luôn luôn? v.v Bhutan sau đó sử dụng các kết quả của câu hỏi này để định hướng chính sách công, đảm bảo cuộc sống tt hơn. Do đó, ba cuộc điều tra toàn quốc về GNH vào m 2008, 2010 2015, đã được công bố trên trang www.grossna tionalhappiness.com. c d liệu thu thập được từ các cuộc điều tra hạnh phúc quốc gia được sử dụng để c đnh các ng kiến hiệu quả nht cho mỗi cộng đồng địa phương, vì vậy mọi người có điều kiện hội tt nht để được hạnh phúc.
Do đó, trong khảo t m 2010, Bhutan chia thành bốn nhóm tùy


  1. Xem thêm Karma Ura, Sabina Alkire, Tshoki Zangmo, and Karma Wangdi (2012), A Short Guide to Gross National Happiness Index, The Centre for Bhutan Studies, p.102
 

thuộc vào mức độ hạnh phúc: 50%, 66%, 77%. Những người đã đạt được đầy đ ít hơn 50% không hài lòng, ch chiếm 10,4% dân số; có 48,7% số người đạt mức độ từ 50-65% gọi suýt hạnh phúc. Nhóm chiếm 32,6%, được gọi rộng rãi hạnh phúc,đạt 66-76% trong khoảng từ u đến bảy nh vực. Và trong nhóm cuối cùng, 8,3% số người được c định cùng hạnh phúcđạt trên 77%. Đó khảo t được o cáo theo giới tính, theo khu vực nông thôn-thành thị.4
2010 GNH Mức độ Chiếm tỷ lệ dân số
Vô cùng hạnh phúc 77%-100% 8.3%
Rộng rãi hạnh phúc 66%-76% 32.60%
Suýt hạnh phúc 50%-65% 48.7%
Không hài lòng 0-49% 10.4%
Đến m 2015, theo khảo t đánh giá mới nht do The Center for Bhutan studies and GNH Research ng b trong A Compass Towards a Just and Harmonious Society:
2015 GNH Mức độ Chiếm tỷ lệ dân số
Vô cùng hạnh phúc 77%-100% 8.4%
Rộng rãi hạnh phúc 66%-76% 35.0%
Suýt hạnh phúc 50%-65% 47.9%
Không hài lòng 0-49% 8.8%
 

2.3. Ảnh hưởng đóng góp quốc tế của mô hình PTBV GNH Bhutan

Với đề xuất của Bhutan tại LHQ từ năm 1972, một loạt các hội nghị quốc tế về GNH lan khp thế giới trong thế kỷ 21 đã dn đến hành động của LHQ. Tháng 2/2004, hội nghị quốc tế về GNH lần 1 với chủ đề Operationalizing Gross National Happiness (Vận hành tổng hnh phúc quốc gia) được t chức tại Thimphu, Bhutan; tháng 6/2005, hội nghị quốc tế lần th 2 về GNH với chủ đề Rethinking Development: Local Pathways to Global Well-being (Suy nghĩ lại sự phát triển: từ lối mòn đến phúc lợi tn cầu) đã diễn ra tại Nova Scotia, Canada; tháng 11/2007 tại Bangkok, Thái Lan đã t chức hội nghị quốc tế lần th 3 về GNH với chủ đề Towards Global Transformation: World Views Make a Difference (Hướng đến

  1. Xem thêm Karma Ura, Sabina Alkire, Tshoki Zangmo, and Karma Wangdi (2012),p.36
 

sự thay đổi tn cầu: tầm nhìn thế giới tạo n sự khác biệt); tháng 11/2008, hội nghị quốc tế lần th 4 về GNH tại Thimphu, Bhutan với chủ đề Practicing and Measurements on GNH (Thực hành kiểm chứng về GNH; tháng 11/2009 tại Foz do Iguaçu, Brazil, đã t chức Hội nghị quốc tế lần th 5 về GNH với chủ đề Gross National Happiness in Practice (Tng hnh phúc quốc gia trong thực tiễn); tháng 8/2011, tại trụ sở LHQ, Resolution 65/309 Happiness: towards a holistic approach to development (Nghị quyết 65/309 v hnh phúc: hướng tiếp cận tn diện để phát triển), được thông qua trong phiên họp lần th 65 uỷ quyền Vương quốc Bhutan triệu tập một cuộc họp cấp cao về hnh phúc. Tháng 4/2012, chính ph hoàng gia Bhutan đã t chức một hội nghị 3 ngày về Wellbeing and Happiness: Defining a New Economic Paradigm (Phúc lợi Hnh phúc: Xác định một mô hình kinh tế mới) tại trụ sở LHQ, New York. Tháng 6/2012, hi nghị LHQ vphát trin bn vng, Rio + 20 diễn ra tại Rio de Janeiro, Brazil, các quốc gia đã đồng ý tìm kiếm giải pháp thay thế GDP như thước đo sự thịnh vượng, ngày 20/3/2013, đánh dấu sự công nhn đầu tn trên tn thế giới ngày quốc tế hnh phúc, trong đó có Việt Nam.
Với hội nghị lịch sử của LHQ vào ngày 02/4/2012 nhằm thảo luận về sự khác biệt lớn về mức độ hnh phúc trên tn thế giới, đã thu hút 600 đại biểu gồm nh đạo học giả từ khp nơi trên thế giới, nhằm ngoài việc khám phá những trong nghiên cứu về hnh phúc phúc lợi hội, còn có các mục tiêu phát triển bền vững mới nhằm tái hoạt động của các mục tiêu thiên niên kỷ. Như vy, đó cũng một tác động đến nhn thức các nhà học giả, các nhà nh đạo chính trị trên bình diện quốc tế5, thể hiện qua việc vạch ra chính sách phát triển quốc gia, những phát biểu, bài viết trên các diễn đàn, các buổi hội thảo quốc tế, hay thay đổi nhn thức về cuộc sống, n luyện tâm linh. Đồng thời, từ nhn thức thay đổi của giới nh đạo hay giới elite chính sách đối ngoại của quốc gia cũng có sự thay đổi theo chủ trương chính sách phát triển; với giới học giả sẽ tác động đến học sinh, sinh viên qua các diễn đàn, hội thảo, hay sẽ tác động đến các chính sách của chính ph khi tham vấn cho chính sách quốc gia. Và cũng từ tầm nh hưởng trên phương diện

  1. Xem thêm Nguyễn Tt Lân (2014), “Hệ giá trị tổng hnh phúc quốc gia Bhutan đời sống quốc tế hiện nay”, Tạp chí Đối ngoại - Ban đối ngoại Trung ương, s 12(62), tr. 46.
 

các nhân này hay quốc gia đã tác động lại mô hình GNH Bhutan, để Bhutan xây dựng mô hình ngày ng hoàn thiện. Đó chính sự tác động qua lại, hỗ tương lẫn nhau để phát triển.
Và hiện nay, mô hình GNH cũng đang được tiếp nhn áp dụng tại Brasil, Ấn Độ Haiti, nhưng phát triển rộng rãi nht các chương trình ở Canađa, Úc, Mỹ Pháp. T đó, có nhiều biện pháp hnh phúc hiện đang sử dụngcác nước, đặc biệt Gallup Poll Thế giới (GWP), World Values Survey (WVS), và các kho sát hội châu Âu (ESS), cũng như, SAARC thông qua các khái niệm về GNH bốn trụ cột của mình trong s các nguyên tắc chiến lược xóa đói giảm nghèoNam Á.
  1. HƯỚNG GỢI M PTBV KINH TẾ - HỘI VIỆT NAM PHÙ HỢP THỜI ĐẠI MỚI
Với Việt Nam, “Độc lập, T do, Hnh phúc” đã tr thành tôn chỉ quốc gia n luôn cam kết nỗ lực nâng cao chất lượng cuộc sống, xây dựng hội công bằng, phát triển bền vững nhằm đem lại hnh phúc. Trong thực tế, các chủ trương, chính sách lớn đu nhm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, n minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hnh phúc. thế, trong xu thế phát triển kinh tế hội bền vững của thế giới, cũng như tình hình kinh tế, chính trịViệt Nam trong dòng chảy đó, thì việc bảo tồn phát huy các giá trị n a cũng như bảo vệ môi trường hai hướng phát triển kh thi nht cho Việt Nam trong giai đon này.
Thnht, gigìn bản sắc văn hóa. Toàn cu hóa đã và đang to n xu thế hội nhp quốc tế ngày ng sâu rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống hội. Hội nhp quốc tế tạo n nhiều hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều thách thức, trong đó có thách thức về giữ gìn phát huy bản sắc n a của các dân tộc cũng như bảo vệ môi trường sống. Cho nên, giữ gìn bản sắc n a dân tộc trong quá trình phát triển kinh tế thời kỳ hội nhập, phát huy được bản sắc n a dân tộc như một sức mạnh nội sinh để phát triển trên nền tng kế thừa di sản n a của cha ông, kết hợp học hỏi những tinh hoa n a nhân loại cần được đặc biệt chú trọng.
Trong quá trình phát trin Vit Nam hin nay, mi quan hệ bin chứng giữa phát triển kinh tế giữ gìn bản sắc n a chưa thực sự được tôn trọng. Kinh tế đt được tốc độ tăng trưởng liên tục, nâng
 

cao vị thế trên trường quốc tế, tuy nhiên sự phát triển đó vẫn chưa tht sự bền vững coi trọng lợi ích trước mắt; giữ gìn bản sắc n a có xu hướng chạy theo phong trào, hình thức, khuôn mẫu chưa tính hết tính đa dạng, làm nghèo nàn bản sắc n a vốn . T đó dn đến đời sống hội, kinh tế có bước phát triển nhưng bản sắc n a lại bị mai một, lai ng một cách tự phát. Cùng với phát triển kinh tế thương mại, du lịch sự thương mại hóa, hàng a a những sắc thái n a dân tộc dn đến giữ gìn, phát huy bản sắc n a dân tộc tự phát, phiến diện. Mặt khác, trong quá trình phát triển kinh tế chúng ta vẫn còn tư duy phát triển những nnh công nghiệp dựa trên khai thác tiềm năng thiên nhiên chưa chú trọng thích đáng đến phát triển nnh công nghiệp n a.
Như vy, từ thực trng trên, Việt Nam cần phải xây dựng chính sách để người dân ý thức tự n luyện, nâng cao trình độ, học hỏi kỹ năng, để tham gia gìn giữ bản sắc n a dân tộc. Bởi vì, giữ gìn bản sắc n a giữ gìn cốt cách dân tộc trong quá trình phát triển, tức không chỉ nói tới những t đặc sắc, đậm đà được biểu hiện qua tính cách còn thông qua tn bộ đời sống vật chất tinh thn. Cốt cách dân tộc cái tương đối ổn định, bền vững bởi nó được hình thành, tạo dựng khng định trong lịch sử tồn tại phát triển của dân tộc. Lĩnh vực thể hiện nht cốt cách dân tộc, tinh thn dân tộc bản sắc n a. Đó chính biểu hiện sống động của cốt cách dân tộc qua bao thăng trầm của lịch sử, n giữ gìn cốt cách dân tộc để tạo n một nền n a có đủ đề kháng, chống lại sự ô nhiễm n a hay xâm ng n a một cách vô thức hay có chủ định. Đây một điều kiện bản để tiếp biến n a trước sự tác động nhiều chiều, phức tạp của khách quan được thực hiện một cách chủ động, tích cực. Chỉ như vy, nền n a dân tộc mới không bị a tan hay lai ng một cách thô thiển, mất bản sắc. Chính điều đó sẽ giúp dân tộc thích ứng được với những cái mới dân tộc a cái mới để biếnthành tài sản của dân tộc, mang hồn của dân tộc.
Cho nên, giữ gìn bản sắc n a dân tộc không chỉ để khng định mình còn giúp dân tộc có thái độ đúng mực với cái mới, cái hiện đại, hướng tới một nền n a dân tộc đa dạng, phong phú về sắc thái chứ không phải một nền n a nghèo nàn, giống nhau, cùng khuôn mẫu. ng tạo sẽ cởi trói tư duy con người thoát khỏi sự
 

khuôn buộc của thói quen, phong tục hay tiêu chuẩn đã không còn phù hợp với điều kiện mới. Với tư duy ng tạo, con người mới làm chủ được quá trình giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn, kế thừa phát triển, mối quan hệ giữa cái cũ cái mới, cái truyền thống cái hiện đại. Đồng thời, bảo tồn giữ gìn phát huy n a gắn với bảo vệ mối quan hệ a hợp giữa con người với tự nhiên hội, bởi con người n liền với quá trình phát triển lâu dài của thế giới tự nhiên nên kng thể tách rời thế giới đó. Trong quá trình tồn tại phát triển, con người ngày ng ý thức rệt về mối quan hệ a hợp giữa con người với thiên nhiên, con người với con người. Thiên thời, địa lợi, nhân hòa đã tr thành triết lý sống của con người trong mọi thời đại. Ngày nay, trước sự tác động của biến đổi khí hậu sự bất ổn tàn khốc của chiến tranh, khủng bố đang hng ngày hng giờ cảnh báo cho loài người phải biết quan tâm đến việc sống a hợp với tự nhiên hội như một nhân t không thể thiếu để phát triển, trong đó có phát triển kinh tế.
Thứ hai, bảo vệ môi trường. Chúng ta thấy, môi trường tự nhiên Việt Nam hiện nay với những hiện tượng đáng báo động như tình trạng ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên, hủy hoại các giống loài, ảnh hưởng xấu sức khoẻ con người i giá phải trả cho quá trình tự do hóa thương mại mới được tiến hànhnước ta. Với những dòng sôngcác thành phố lớn như Hà Nội hay thành phố H C Minh, tình trng bị ô nhiễm nng nề do rác thải sinh hot, rác thải ng nghề, rác thải nông nghiệp rác thải từ các khu công nghiệp vẫn đang từng ngày, từng giờ đổ xuống, làm hủy hoại nguồn thủy sản nh hưởng trực tiếp tới môi trường sống, sức khoẻ của cộng đồng. Nhiều dự án luyện, n thép lớn đã, đang sẽ xuất hiện, hứa hẹn đưa Việt Nam tr thành nước xuất khẩu thép lớn, song đồng thời cũng có nguy biến Việt Nam thành nơi tập trung rác” công nghệ cht thải v.v.
Như vy, môi trường tự nhiên môi trường hội không chỉ môi trường sống còn môi trường n hóa, nơi những giá tr n hóa hay bản sắc n hóa dân tộc hình thành, tồn tại phát triển. Để giữ gìn n hóa i chung, bản sắc n hóa i riêng, tt yếu phải bảo vệ môi trường tự nhiên hội. Điều này không chỉ ý nghĩa với n hóa còn ý nghĩa với quá trình phát triển kinh tế khi hệ lụy của quá trình phát triển công nghiệp như vấn đề ô nhiễm cạn
 

kiệt tài nguyên đang mối đe dọa đầy bất trắc cho sự tồn tại phát triển của loài người. Hơn lúc nào hết, việc giữ gìn bản sắc n hóa dân tộc gắn với phát huy cách ứng xử n hóa với tự nhiên hội được coi như một bảo đảm cho sự ổn định phát triển.
Do đó, Việt Nam cần vận dụng cả hai trụ cột này một cách cấp thiết để định hướng phát triển kinh tế - hội bền vững, bằng cách nâng cao nhn thức của cộng đồng về tầm quan trọng của việc hiểu biết về bản sắc n a dân tộc, từ đó hình thành ý thức giữ gìn bản sắc n a dân tộc một cách chủ động, tích cực tự giác. Chỉ có như vậy cốt cách dân tộc, lòng tự tôn dân tộc mới luôn giữ vai trò ht nhân trong quá trình phát triển kinh tế phát triển nói chung của dân tộc. Đồng thời, mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế giữ gìn bản sắc n a dân tộc phải được quán triệt trong tổng thể hệ thống chính sách phát triển kinh tế - hội, bảo vệ môi trường.Cho nên, phát triển kinh tế n a phải gắn với bảo vệ môi trường tự nhiên môi trường hội. Đây một trong những nhân t bảo đảm cho sự phát triển bền vững của dân tộc. Đặc biệt việc giữ gìn phát huy bản sắc n a cần gắn với giữ gìn không gian n a - nơi duy trì đời sống của cộng đồng dân tộc Việt Nam.
  1. KẾT LUN
Qua đây, con người cn suy nghĩ nghiêm túc vPTBV. Toàn cu a làm cho các dân tộc xích lại gần nhau, nhưng lại có nguy đẩy tới đơn nht a n a trên mặt địa cầu, làm phai mờ n a địa phương n a tộc người, cái lõi tạo n bản sắc n a ấy cái thiêng của các tôn giáo truyền thống. Kinh tế thị trường tạo động lực để tạo ra khối lượng của cải chưa từng có trong lịch sử nhân loại, nhưng lại đẩy tới việc khai thác đến tột cùng tài nguyên thiên nhiên, gồm cả tài nguyên trên mặt đt, tài nguyên dưới lòng đt tài nguyên trong trụ. Kinh tế thị trường tìm được động lực phát triển từ kích thích nhu cầu của con người, nhưng lại đẩy con người tới dục vọng tiêu dùng thái quá, tr thành hội tiêu dùng động vật tiêu th bị điều khiển bởi các nhà sản xuất với lòng tham không đáy. Khủng hoảng nợ công của chính ph nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay cũng xuất phát từ hội tiêu th thái quá. Cách mạng khoa học công nghệ đem lại nhiều ng chế mới, nhưng nhiều thành tựu lại được sử dụng cho lòng tham không đáy của các
 

nhà bản, các tập đoàn chính trị, khiến cho việc bóc lột tự nhiên ngày ng gia tăng. Tri thức nhân loại ngày ng tăng trưởng theo cấp s nhân, nhưng sự tăng trưởng của tri thức lại xa nh minh triết, khiến một sngười gi đó là triết lý vô minh. Triết lý này dn kng ít người tới tình trng vô cảm trước thực tại. Con người trước nhu cầu của thị trường, trước tác động của triết lý vô minh, trước hội thiêu th đã suy giảm làm mất đi cái thiêng liêng trong nếp nghĩ, cách làm, sâu xa hơn n a đạo đức. Điều đó nói n tính cấp ch hin nay trong vic vn dựng cách tiếp cn đi với PTBV.
Đây thời điểm cách tiếp cận PTBV của Pht giáo phát huy được vị trí vai trò quan trọng như thế nào đối với hội. Đ thực hiện tốt cách tiếp cận này Pht giáo cần có lối điều chỉnh hướng phát triển, thông qua các nh để giáoPht giáo tht sự đi vào hội, xây dựng nếp sống đạo đức, giúp con người khai mở nguồn ng tạo trong việc xây dựng n a trí tuệ, hướng tới một nền n a bền vững. Do đó, với tình hình phát triển hiện nay, cách tiếp cận phát triển bền vững nói chung mô hình bền vững Bhutan tiếng nói riêng biệt sâu lắng. Một sức mạnh mềm tht sự hiệu quả trong dòng chảy phát triển sức mạnh quốc gia, hướng đến kỷ nguyên kinh tế hạnh phúc, hướng đến san lc giải thoát, phù hợp mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc. Đồng thời, trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam đang tạo ra những biến chuyển quan trọng trên nhiều lĩnh vực của đời sống hội, cần có những thay đổi để thích ứng với yêu cầu của thời đại, đóng góp PTBV đt nước nhân loại trong các mối tương quan tương duyên, tương tức tương nhp giữa con người với mọi dun liên quan để tồn tại, không những cho cuộc sống bây giờ còn đảm bảo cho thế hệ tương lai, đồng thời luôn hướng đến nếp sống nhân sinh an lạc.




***
 



Tài liệu tham khảo
Nguyễn Đình Hòe (2007), Môi trường Phát triển bền vững, nhà xuất bản Giáo dục.
Lê Quốc Lý (2016), Tăng trưởng kinh tế với phát triển bền vng, thực hiện tiến bộ công bằng hộiViệt nam, nhà xuất bn luận chính tr.
Quán Như Phạm n Minh (2012), Kinh tế Phật giáo, nhà xuất bản n Hóan nghệ.
Nhiều tác giả (2012), Chính sách công phát triển bền vững, nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia.
Nguyễn n Thanh (2003), Những mảng tối của toàn cầu hóa, nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia.
H Thâm, Nguyễn Thị Hồng Diễm đồng chủ biên (2011), Toàn cầu hóa hội nhập và phát triển bền vững từ gốc nhìn triết học đương đại, nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia.
Thích Chơn Thiện (1999), thuyết nhân tính qua kinh tạng Pàli, Nhà xuất bản thành phố H C Minh.
Thích Nht Từ, Thích Đức Thiện (2014), Phật giáo về phát triển bền vững thay đổi hội, Nhà xuất bn Tôn giáo.
Nguyễn Tt Lân (2014), “Hệ giá trị tổng hnh phúc quốc gia Bhu- tan và đời sng quốc tế hin nay, Tp chí Đối ngoi - Ban đi ngoại Trung ương, s 12 (62), tr. 46.
Nguyễn Tt Lân (2015), “Vương quốc Bhutan H giá trị tổng hnh phúc quốc gia, Tp chí Nghiên cứu n Đvà Châu Á, số 8 (33), tr. 32.
Đt Lai Lạt Ma, Môi trường nội tại trách nhiệm của chúng ta, Tuệ Uyển chuyển ngữ, http://thuvienhoasen.org/p79a4604/moi- truong-noi-tai-va-trach-nhiem-cua-chung-ta-duc-dat-lai-lat- ma-tue-uyen-chuyen-ngu,ngày 4/7/2016.
Trương Quang Học, Phát triển bền vng – chiến lược phát triển toàn cầu thế kỷ XXI,http://repositories.vnu.edu.vn/jspui/ bitstream/123456789/4668/1/02%20Phat    %20trien%20


ben%20vung%20(TQHOC).pdf, ngày 4/5/2016
Dasho Karma Ura and Dorji Penjore (2009), Gross National Happiness: Practice and Measurement, The Centre for Bhutan Studies.
Karma Ura and Karma Galay (2004), Gross National Happiness and Development, The Centre for Bhutan Studies.
Karma Ura, Sabina Alkire, Tshoki Zangmo, and Karma Wangdi (2012), A Short Guide to Gross National Happiness Index, The Centre for Bhutan Studies.
Karma Phuntsho (2013), The history of Bhutan, Published by Random House India.
The Centre for Bhutan Studies and GNH Research (2016), A Compass Towards a Just and Harmonious Society, Centre for Bhutan Studies and GNH Research.
Bhutan Foundation, Bhutan believes in gross national happiness, http://www.bhutanfound.org/?p=151,  ngày  1/8/2018.
Ban Ki-moon (2012), Secretary-General in Message to Meeting on ‘Happiness and Well-being Calls for ‘Rio+20’ Outcome that Measures More than Gross National Income, http://www.un-
.org/ press/en/2012/sgsm14204 .doc.htm, ngày 3/4/2017.
Karma Ura, An Introduction to GNH (gross national happiness), https://www.schumachercollege.org.uk/learning-resourc- es/an-introduction-to-gnh-gross-national-happiness, ngày 9/1/2018.
Matthieu Ricard (2011), About Gross National Happiness and Gross National Product1, http://www.matthieuricard.org/ en/blog/ posts/about-gross-national-happiness-and-gross-na- tional-product-1, ngày 2/1/2016.
Saamdu Chetri (2016), National Happiness An Alternative Paradigm to Sustainable Socio-economicDevelopment,http://www.aquaac. org/dl/1nl3art3.html, ngày 3/12/2016.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây