22 TẤM GƯƠNG HỌC PHẬT, TRỊ NƯỚC VÀ HÒA HỢP GIA ĐÌNH CỦA VUA TRẦN THÁI TÔNG TRONG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Thứ tư - 08/05/2019 19:20
Nguyễn Ngọc Phượng - Phan Xuân Cường
265
 



 

TM GƯƠNG HC PHT, TRNƯC VÀ HÒA HỢP GIA ĐÌNH CA VUA TRN TI TÔNG TRONG PHT GIÁO VIT NAM

Nguyn Ngọc Phượng* Phan Xuân Cường**






TÓM TT

Trong vườn Thin Vit Nam, vua Trần Thái Tông là một trong nhng đại biu xut sc nht của Pht giáo đời Trần vào thế kXIII. Bài viết tp trung phân tích Trần Thái Tông đã tiếp thu và vn dụng nhun nhuyn trí tuệ và hnh từ bi Pht giáo ra sao vào con đường tu học, hoằng pháp độ chúng và đc bit trong snghip lãnh đo đt nước và hòa hợp gia đình của ông.
  1. VÀI NÉT VTIỂU S, TN THVÀ TRƯC TÁC

Trong lịch sử các triu đại phong kiến Vit Nam, tên tuổi của Trần Thái Tông được biết đến như một vị hoàng đế anh minh đã có công khai mở đu triu đại nhà Trần (1225-1400). Là nhân vt tn tài hiếm có trong lịch sử, Trần Thái Tông kng chỉ là một ông vua văn võ song tn, một nhà quân scó tài thao lược, mà còn là một trong nhng nhà Pht học xut sc nht của Vit Nam vào đu thế kXIII.

Vtiểu sử, thân thế và cuc đời của vua Trn Thái Tông đã được ghi chép trong Đi Việt sử ký toàn thư, kỷ nhà Trn như sau:

*. TS., Khoa triết học, Đại học Trung Sơn, Qung Châu, Trung Quốc.
**. NCS.TS., Khoa Lý lun chính trị, Trường Đại học Công nghip Thực phẩm Tp.HCM, Vit Nam.
 


Vua họ Trần, húy là Cnh, trước húy là Bồ; làm Chi hu chính triu Lý, được Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho. Ở ngôi 33 năm, nhường ngôi 19 năm, thọ 60 tuổi (1218-1277) băng hà ở cung Vn Th, chôn ở Chiêu Lăng. Vua khoan nhân đại đ, có lượng đế vương, cho nên có thể mở nghip, truyn sau, đt giường giăng mối, chế độ nhà Trần tốt đp.

Đời trước của vua là người đt Mân (có người nói là người Quế Lâm), có người tên là Kinh đến ở hương Tức Mặc phủ Thiên Trường, sinh ra Hp, Hp sinh ra Lý, Lý sinh ra Tha, đời đời làm nghề đánh cá. Vua là con thứ của Tha, mẹ là họ Lê, sinh vua vào năm Mậu Dn Kiến Gia thứ 8 triu Lý, tháng 6 ngày 16. Vua mũi cao, mt rng, giống như Hán Cao T. Khi mới lên 8 tuổi làm Chi hu chính chi ứng cục triu Lý, nhân có chú họ là Trần ThĐlàm Đin tin chỉ huy sứ, nên vua được vào hu trong cung. Chiêu Hoàng trông thy thì yêu. Năm t Dậu [1225], mùa đông, tháng 12, ngày 12 Mậu Dn, được Chiêu Hoàng nhường ngôi, lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiu là Kiến Trung”[1, tr.264].

Triu đại nhà Lý trong lịch sử, do vua Lý Cao Tông kng có con trai nên lp trưởng nlà công chúa Chiêu Tnh mới 7 tuổi lên làm vua, ly hiu là Chiêu Hoàng. Theo sdàn xếp của người chú họ là Trần ThĐ, Chiêu Hoàng kết hôn với Trần Cnh và xuống chiếu nhường ngôi cho chồng. Như vy, ngôi báu đã chuyn từ họ Lý sang họ Trần thông qua con đường hôn nhân hòa bình. Trần Cnh lên ngôi khi mới 8 tuổi, nên my năm đu thực cht mọi quyn hành đu do người chú là Trần ThĐộ thao túng, chỉ khi đến tuổi trưởng thành vua mới tự mình định đot.

Trong quyn Thơ văn Lý-Trn, các nhà nghiên cứu đã có nhận định khách quan vTrn Thái Tông như sau: “Là mt ông vua đu tiên ca nhà Trn, Trn Cảnh có công trong vic n đnh và đưa xã hi Việt Nam bước dần vào giai đon thnh vượng sau thời kỳ ln xn cui nhà Lý. Đc biệt ông đã đặt vn đề xây dng chế độ thi cử, góp phn mmang vic hc ở Việt Nam và cũng là người lãnh đạo thng lợi cuc đọ sức ln thnht với quân xâm lược Mông Cổ năm 1257. Trong cuc đọ sức này, Trn Cảnh đích thân tham gia chhuy nhiều trn, có mt ở cnhng nơi nguy hiểm, đem li niềm tin tưởng cho quân sĩ, và niềm tự hào cho n tc”[2, tr.19].
 


Vmặt trước c, sinh thời Trần Thái Tông đã sáng tác rt nhiu tác phm thơ văn, song một sđã bị mt hoc tht lc, có thể k ra nhng trước tác còn lưu giữ đến ngày nay như sau: Bài thơ Gửi nhà sư Đức Sơn ở am Thanh Phong, Bài thơ Tiễn sứ Bc Trương Hiển Khanh, Bài tựa Thiền tông chnam, Bài tựa Kinh Kim Cương tam muội, Bài tựa Bình đẳng Lễ sám văn (Ba quyn sách này nội dung đã mt, chỉ còn bài tựa). Bên cnh đó, Trần Thái Tông còn có hai tác phm được lưu giữ gn như trọn vn là cuốn Khóa hư lục và cuốn Lc thì sám hi khoa nghi. Đáng lưu ý là các trước tác còn được lưu lại đến ngày nay của Trần Thái Tông đã được người đời sau tp hợp lại và ghép chung vào sách đt tên là “Thái Tông hoàng đế ngchế Khóa hư lục”, gọi tt là Khóa hư lục”. Nhng tác phm này được viết bằng chHán, lời văn sáng đp, ý tứ sâu sc, tp hợp nhng bài giảng vPht giáo của Trần Thái Tông đề cp đến nhng chủ đề quan trng như quan đim về tính kng, sc thân, vô thường, phát tâm Bồ đ, nhân quả nghip báo, luân hồi, và cả nhng khía cnh pháp môn tu hành thực tin có tác dụng khai mở đối với người tu Pht như: Văn răn ngũ giới, Luận vgiới định tuệ, Luận vthgiới, Luận vniệm Pht, Luận vta thiền, Lễ sám khoa nghi v.v... Nhìn chung, nhng tác phm của Trần Thái Tông kng chỉ có giá trđc bit quan trng, đóng góp vào nn Pht học nước nhà, mà còn hàm chứa nhiu giá trsâu sc khác cả vgóc độ văn học, ngôn ngữ, tư tưởng, nghệ thut...
  1. CON ĐƯỜNG TU HC, CHỨNG NGVÀ NH THIỀN

Trong bài Tựa Thiền tông chnam, Trn Thái Tông đã tự thut lại vic từng để m học Pht từ tuổi niên thiếu như sau: “Vthuở trm còn niên thiếu, hiểu biết mới võ vẽ, được nghe loáng thoáng lời dy bo ca thiền sư đã dp tt ngay mi điều vương vn; lòng tht nhiên trong lng, để tâm vào ni giáo, tham cứu đạo Thiền, dc lòng tìm thy, thành khn mđạo. Tuy nhn, cái ý hi tâm hướng đạo đã ny mm mà cái cm xúc còn chưa thấu. Vừa mười sáu tui, Thái hậu đã chán cõi trn; trm nm rơm gi đất, huyết lệ nát lòng; ngoài ni ưu phiền, nghĩ đâu vic khác. Thế ri mới vài năm sau, Thái Thoàng đế li bngôi trời. Niềm nhmchưa nguôi, tình thương cha càng nng. Ngn ngang đau xót, khó ni khuây lòng”[2, tr.28].
Tuy nhiên nhìn nhn lại cuộc đời và snghip của Trần Thái
 


Tông có thể thy, cơ duyên học Pht, tu thin của ông tht sbt nguồn từ skin din ra vào đêm mồng ba tng 4 m Bính Tn 1237 khi ông buồn phin chuyn gia đình do bị chú là Trn ThĐép phải từ bỏ Chiêu Tnh đang là hoàng hu, gng xuống m công chúa, và buộc Trn Thái Tông phải lập vợ của anh ruột là Trn Liu, tức Thun Thiên công chúa đang có mang ba tng lên m hoàng hu, định mo nhận đứa con để m chỗ dựa vsau. Bi kịch này xut phát từ nguyên nn do sau hơn mười m nên vợ chồng với Trn Thái Tông mà Chiêu Tnh vẫn chưa có con. Trn ThĐvì lo ngại cho nn trvì của nhà Trn kng có người nối dõi nên đã dùng đến bin pp độc đoán này. Vphía Trn Thái Tông do bị dn vt vì mang tiếng ly tranh vợ của anh ruột, khiến cho ông mang m lý u ut đau kh, bèn đang đêm cải trang ra khỏi hoàng cung, bỏ trốn tìm đường lên núi Yên Tử mong cu tnh Pht để tự mình hóa giải nhng nỗi đau khổ trong đời sng. Ông kng qun ngại đường đi him trở, trèo đèo lội suối lên thẳng đỉnh núi vào yết kiến vị Quốc sư là Đại sa môn phái Trúc Lâm. Khi được Quốc sư hỏi nguyên nn nào khiến cho Trn Thái Tông từ bỏ ngôi nn chủ, muốn cu điu gì mà tìm đến chốn núi rng nghèo hèn. Trn Thái Tông rơi lệ bộc bạch: Trm đương trthơ, mcha vội mt, trơ vơ đng trên n chúng, không chỗ tựa nương; li nghĩ snghiệp các đế vương thuở trước, thay đi bt thường, cho nên tìm đến núi này chmun được thành Pht, chkhông cầu gì khác”[2, tr.28]. Nghe vvua trẻ thổ lộ m nguyn đi tu mong tnh Pht, Quốc sư Trúc Lâm ân cn khai thị chỉ bảo cho Trn Thái Tông: Trong núi vốn không có Pht, Pht ở ngay trong lòng. Lòng lng lẽ mà hiểu, đó chính là chân Pht. Nay nếu bhgiác ngộ điều đó thì lập tức thành Pht, không cn khổ công tìm kiếm bên ngoài”[2, tr.28].

Khi hay tin Trn Thái Tông trốn khỏi hoàng cung, Trn ThĐ đã kéo qun thần và các vị quốc lão tìm đến núi yêu cu vvua tr phải hồi cung, tiếp tục m vua. Trn Thái Tông trong dbăn khoăn kng muốn v, bèn tbày với Quốc sư Trúc Lâm. Quốc sư ân cn cm tay vua nói: “Phàm đã là bc nhân quân tt phi ly ý mun ca thiên hlàm ý mun ca mình; ly tm lòng ca thiên hlàm tm lòng ca mình. Nay muôn n đã mun đón bhvthì bhkhông về sao được! Duy có vic nghiên cứu ni điển xin bhđng chút xao lãng mà thôi”[2, tr.29].
 


Nghe theo lời khuyên của Quốc sư Trúc Lâm, Trần Thái Tông bèn cùng mọi người trvkinh, min cưỡng lên ngôi. Song song với vic gánh vác trng trách đứng đu lãnh đo đt nước, Trần Thái Tông vn luôn ghi khc lời nhn nhủ của Quốc sư khuyên ông để tâm nghiên cứu nội đin. Vic nghiên cứu học Pht và chng ng của Trần Thái Tông được ông thut lại như sau: Trong khong hơn chc năm, mi khi được rảnh vic trm lại hi hp c vị tuổi cao đức cả để tham vn đạo Thiền. Còn như kinh điển của đại go thì không kinh nào không nghiên cứu. Trm thường đc Kinh Kim cương, đến u Ưng vô sở trnhi sinh kỳ mvừa gấp sách lại ngân nga, bỗng nhiên tỉnh ng, liền đem nhng điều gc ngộ được m bài ca này, đặt tên là Thiền tông chnam”[2, tr. 29].

Thái độ chuyên cn học Pht, nghiên cứu chư giáo kinh đin của Trn Thái Tông còn thể hin ở ch, ông kng chỉ chú m đến con đường tự học, tự tu, tự chng, mà cao cả hơn, ông còn phát m đem skhổ học, hiu biết sâu rng vPht pp của mình biên son trước tác, giảng giải lại pp môn và yếu chỉ tu tập của nhà Pht cho chúng sinh. Một đon tự thut trong bài Tựa Kinh Kim cương tam mui chú gii, Trn Thái Tông đã thể hin rõ m nguyn hong pp độ chúngnày của ông như sau: “Trm lượng đức chủ trì ngôi u; ri trước sau chăn dắt muôn n. Tng lo vt vả; chng ngi sớm hôm. Tuy mt ny trăm vic; cũng trm lúc rảnh rang. Chăm vic tiếc giờ; hc càng tăng tiến. Một chđinh lo chưa biết đến; đêm canh hai còn gng tìm xem. Đã duyệt phn điển Khổng Ku; li xét sách kinh đạo Thích. Kinh này vừa gp, trăm cm đã sinh; sâu kín mi manh, suy đi nghĩ li. Nhm np mùi nghĩa lý; thu thập vvăn hoa. Làm rràng lời nói thánh nhân; để gp ích ít nhiều hậu hc. Lm đem chút kiến thức vn báohẹp hòi; hầu mmang tâm trí vượn đàngin ngc. Do đó rộng tỏ cõi lòng; tự thân chú gii. Dò nghĩa thng ở Long cung; tìm lời hay nơi Thứu nh. Khơi git nước ở tn ngun chính giác; đp bi sa nơi cửa ngỏ chân như. Phát huy ý chỉ; rộng mchân tông. Khiến cho vừa thoáng xem văn; đã hiểu rõ ràng nghĩa lý. Phá giậu phên bền vng ca bn tà; làm mẫu mực lễ nghi cho môn đ. Vọng kiến mênh mang, dần biết ngôi cao hướng Bc; đường mê quấn quýt, tm hay đường thng vNam. Xin làm chdựa cho người sau; để thy lòng ta không tiếc. Cho nên làm bài tựa này”[2, tr.34].
Trần Thái Tông chú trng các pháp môn tu thin, ông dành
 


nhiu công sức và tâm huyết viết ra các bài lun đề cp đến nhng phương pháp hướng dn tu Thin, đồng thời chỉ ra ý nghĩa đích thực và giá trị của vic thực hành theo nhng phương thức tu hành này, nhm mục đích khai thị cho người học, kết hợp giữa Pht pháp và thực tin tu hành. Nhng tác phm tiêu biu của Trần Thái Tông về lĩnh vực này có thể kra như: Luận vgiới định tuệ, Luận vgương tugiáo, Nói rộng vkhuyên mi người mở lòng Bồ đề, Luận vthgiới, Luận vniệm Pht, Luận vta thiền v.vNgoài nhng pháp môn tu tp này ra, Trần Thái Tông còn chú trng đến nhng phương pháp khác như chọn lọc và giảng giải 43 công án Thin tông cô đọng lại thông qua nhng bài kkhai thị để người hu học đọc tụng và chiêm nghim ý nghĩa toát yếu của nó, giúp ích cho vic tu tp hành thin.

Bên cnh đó, là một vị hoàng đế đứng đu trvì một nước, đồng thời là một Pht tử kiêm nhà Pht học uyên c, để thức tỉnh khuyên bảo người đời nh thin tránh ác, Trn Thái Tông còn tự mình sáng tác nên một tác phẩm ly tên là Lục thì sám hi khoa nghi. Đây là một tác phẩm hướng dn các trình tự, nghi thức và nội dung, ý nghĩa của pp môn sám hối, ly đó như phương tin tu tập, xóa bỏ nhng vng kiến, vô minh, tham chấp ái dục của người đời. Lục thì sám hi khoa nghi được Trn Thái Tông phỏng theo ý ly ngày đêm chia tnh sáu thì, tương ứng với sáu căn, mỗi thì sám hối tội lỗi do một căn to nên. Có thể thy, bao quát toàn bộ khoa nghi này là nhu yếu tỉnh thức, Trn Thái Tông viết nên tác phẩm này hướng đến ý nghĩa tự lợi, lợi tha(lợi cho bn tn và lợi cho người khác), tức là một mt m phương tin hỗ trợ mình tu thin, giữ tn m trong sch, dù đang ở ngôi cao tột đỉnh cũng kng bị vt dục, danh lợi, quyn thế chi phối, đồng thời chỉ bảo cho chúng sinh theo đó tu trì để đt được sự tinh tiến. Trong bài Tựa Lục thì sám hi khoa nghi, Trn Thái Tông đã tự thut lại mục đích và ý nghĩa của vic trước tác nên khoa nghi này như sau: Trm nhờ lòng trời yêu mến, ở ngôi chí tôn. Vic n vt vả; vic nước bn b. Phn hoa cám dỗ bên ngoài; thdục xé vò trong dạ. Miệng chán cao lương; mình đy vàng ngc. Mắt tai tôi tớ sc thanh; ăn ở yên trong đài tạ. Li nữa, thói đời khinh bc, nhân pp suy vi, kẻ theo hc thì bướng gàn mù quáng, khinh rthiện căn. Ny thì bi căn va chm, lưới nghiệp vn vương; ti thì màn nglấp che, dây lười trói buc. Ny đêm bám víu, đó chng phi là cái li y ra tai ha và chuc lấy hiềm khích hay sao? Trm ly điều đó ghi
 


nhớ trong lòng. Thương cm ngn ngang; quên ăn mt ngủ. Nhàn lúc vic triều rảnh ri, xem hết các kinh luận và mi nghi văn, biên son ra phép tự làm lợi cho mình để làm lợi cho người” chbo chúng sinh. Sau đó li nghĩ rng: phàm nhng nghiệp chướng tích tụ đều do sáu căn to thành, cho nên Thích Ca Văn Pht khi chưa thành đạo trước tiên phi vào Tuyết Sơn tu hành khhạnh trong sáu năm, cũng là vì sáu căn đó. Vy trm phỏng theo ý y, chia sáu căn làm sáu thì, mi thì sám hi mt căn. Trm tự tay viết ra lời lễ sám, gi là Lục thì lễ Pht sám hi khoa nghi. Văn thì lời rườm rà; nói thì ý xa xôi. Nhưng văn rườm rà thì lười sám hi; ý xa xôi thì lòng ny nghi ngờ. Cho nên không ng nhng lời phù phiếm nhét cho đy quyn, mà khiến người đc đều vui, người nghe dễ hiểu. May chi nhng kẻ có lòng tin ny đêm ny sinh lòng chí thành, ng khoa nghi này làm phương tiện lễ sám. Thế là không phcái ý nguyện tự làm lợi mình để làm lợi người” ca trm”[2, tr.157-158].

Sau khi nhường ngôi cho con vào m 1258, Trn Thái Tông ở lại triu m cvấn cho vvua tr vài m rồi lui về quê cũ, lập chùa cnh nơi ngự cung để chuyên m tu nh và nghiên cứu Pht học. Đại Vit ský toàn thư ghi chép lại vic này: “Nhâm Tuất, năm th 8 (1262). Mùa xn, tháng 2, thượng hoàng [Trn Thái Tông] ng đến hành cung Tức Mặc, ban tic to. c hương lão từ 60 tui trở lên mi người cho tước hai tư, đàn bà cho hai tm la. Đi hương Tức Mặc làm phủ Thiên Trường, cung gi là Trùng Quang. Li làm cung riêng cho vua ni đến chầu ở, gi là cung Trùng Hoa. Li làm chùa thờ Pht phía Tây cung Trùng Quang, gi là chùa PhMinh. Tđy về sau các vua nhường ngôi đều ngự ở cung này”[1, tr. 288-289].
  1. LÃNH ĐO QUC GIA BNG TRÍ TUVÀ HẠNH TBI CA PHT GIÁO

Trần Thái Tông kng chỉ là nhà Pht học nổi tiếng trong suốt chiu dài của Pht giáo dân tộc, mà điu làm người khác càng thêm kính phục, tôn vinh ông chính là ở chỗ ông là người đã đem đạo vào đời”, đã vn dụng nhun nhuyn nhng triết lý sâu sc thể hin trí tuệ và hnh từ bi cao cả của Pht giáo vào vic trnước an dân, hay nói theo ngôn ngngày nay đó là vic lãnh đo đt nước.

Vmặt thchế chính trị, Trần Thái Tông đã có nhiu cng hiến trong vic thiết lp thể chế chính trị của triu Trần theo mô hình vua cha nhường ngôi cho con rồi lên làm Thái thượng hoàng, c
 


vn cho cho vua trvài năm rồi lui v. Đây là thể chế hiếm có khác với mô hình vua băng hà con mới lên kế vị trong lịch sử các triu đại phong kiến của Trung Quốc. Có thể thy, vic thiết lp thể chế chính trnày của Trần Thái Tông chịu nh hưởng rõ rt từ tư tưởng vô thườngvà tri túc” trong Pht giáo. Khi nghiên cứu vTrần Thái Tông, nhà nghiên cứu Lê Mnh Thát đã chỉ ra cho chúng ta thy được mô hình cha nhường ngôi cho con chịu nh hưởng rõ nét từ câu chuyn cPht giáo kvvua Ma Điu trong tác phm Lc độ tp kinh do Khương Tăng Hội dịch như sau: “Đầu ta tóc bc, mà tóc bc là chng tín của vô thường, không nên n niệm vcuc đời vô ích này. Nay lp con m vua, cai trị bốn thiên hạ, thn n giao mạng cho con, con phi thương h, m như ta m thì có ththoát khi đường ác. Khi tóc bc thì hãy bnước m sa môn, lp thái tử, dy lòng bốn đẳng, năm giới, mười lành làm đu. Khi dy con mình xong, vua liền bnước, đến lều tranh dưới gc cây này, cạo brâu tóc, m sa môn”[3, tr.126- 127]. Đim khác bit giữa mô hình nhường ngôi của vua Trần Thái Tông với mô hình nhường ngôi của vua Ma Điu là ở ch, sau khi nhường ngôi cho con, vua Ma Điu lp tức đi tu, kng tham gia vào công vic triu chính nữa mà để cho vvua trẻ tự cai quản; còn Trần Thái Tông thì vn tiếp tục nm vai trò làm Thái thượng hoàng cvn chính tr, hỗ trợ cho vvua trvài năm quen với vic lãnh đo quốc gia rồi mới chuyên tâm đi tu. Skhác bit này được nhà nghiên cứu Lê Mnh Thát nhn định sâu sc sau: “Phi chăng đây là mt cải biên mô hình của Ma Điều cho phù hợp với thực tiễn chính trị nước ta? Rõ ràng, mt cải biên như thế đã xy ra. Điều này chng t vic vn dụng tư tưởng Pht go mt ch khá linh đng của giới Pht go Đi Việt. Đng thời, nó ng chng tbn lĩnh sáng tạo của n tc trong vic sdụng và kế thừa tinh hoa nhân loi”[3, tr.128]. Bên cnh đó tinh thn tri túc” của Pht giáo cũng được thể hin rõ qua vic vua Trần Thái Tông thiết lp chế độ gia pháp nhà Trần thông qua vic dâng biu trần tình vvic nhường ngôi cho con được Lê Tc ghi chép trong sách An Nam chí lược như sau: “Năm Bo Hựu thứ 6 (1258), vua An Nam hTrn ng biểu xin nhường ngôi cho con.
Tôi nghe nói:
Làm người phi tri túc, nên thoái lui không đợi tuổi già; Sanh con có khnăng, thì giao phó ni theo nghiệp trước. Đó là lẽ thường thiên đạo;
 


Li thêm thuận cnhân tình. Nay tôi truyền vcho con thơ;
Kính cn u bày lên chúa thánh”[4, tr.62-63].

Bên cnh đó, Trần Thái Tông đã thm nhun tư tưởng từ, bi, h, xả của Pht giáo trong vic trnước, trong thời gian trvì từng nhiu ln ban chiếu đại xá, min gim tô thuế cho nhân dân như vào năm 1240, 1242…

Trong đường li trnước của vua Trần Thái Tông có thể thy rõ, mọi chủ trương, chính sách, hành động của ông đu dựa trên nn tng ly n m gc, tức đt lợi ích, mong muốn của nhân dân, đt nước lên hàng đu. Nhìn lại cuộc đời của ông có thể thy, quan đim này có mối liên hệ sâu sc với lời căn dn, gửi gm của Quốc sư Trúc Lâm khi khuyên bo vvua trmang ý định bỏ ngôi vua đi tu mong cu thành Pht vào năm 1237: “Phàm đã là bc nhân quân tất phi ly ý muốn của thiên hm ý muốn của mình; ly tấm lòng của thiên hm tấm lòng của mình”[2, tr.29]. Lời khai thị của vị Quốc sư cao niên đã chỉ ra cho vvua trẻ hiu được triết lý vô ngã, vị tha, bao dung của Pht giáo hướng đến trách nhim của bc làm vua đối với bách tính, đồng thời hàm chứa trong đó cả tư tưởng nhp thế hành động của Pht giáo Vit. Nếu làm được một vvua có tm lòng từ bi qung đi, tế thế an dân, to phúc cho muôn dân thì công đức đó kng khác gì với vPht sng hay Bồ tát tại thế độ chúng sinh c. Trong bài Nói rng vmt con đường tiến lên, chính Trần Thái Tông đã nói lên tâm nguyn của mình khi là một vPht tử chân tu kiêm người đứng đu một nước như sau: Đạp đổ cung điện ma vương; mtoang m can ngoi đạo. Biến đất lớn thành quc gia vàng quý; kéo sông i làm sữa ngt cho người”[2, tr.74].

Vmặt kinh tế, cuối triu Lý do sxung đột tranh giành quyn lực giữa các thế lực cát cứ, kinh tế sa sút, cùng với nn thiên tai mt mùa đã khiến cho đời sng nhân dân vô cùng khổ sở, dân nghèo phải n mình làm nô, sng phiêu tán tha hương cu thc. Sang đến đu thời Trần, để khc phục tình trạng trên và to đà cho kinh tế phát trin, Trần Thái Tông đã xut phát từ lời dn ly ý muốn của thiên hm ý muốn của mìnhthông qua một số bin pháp hữu hiu như xuống chiếu khuyến khích vương hu, tôn tht khai khn các vùng đt hoang, bãi bồi ven bin, lp p lp làng, chiêu tp dân
 


nghèo phiêu tán vlp đin trang, phát trin sn xut nông nghip, cho phép người dân được quyn mua ruộng công làm ruộng tư, kích thích sn xut phát trin, đc bit chú trng công tác đê điu ngăn chn tác hại của lũ lụt và cho xây dựng nhng công trình thủy lợi phục vsn xut nông nghip, đt chức quan phụ trách trông coi vic hộ đê v.v... Nhng chính sách kinh tế này đã có tác dụng tích cực, hình thành nên nhng đin trang lớn, to nn tảng vng chc cho phương thức sn xut phong kiến vào thời nhà Trần đt đến sphát trin hưng thịnh. Đại Vit ský tn thư ghi lại như năm 1248 “tháng 3, sai c lộ đp đê ginước sông, gi là đê đỉnh nhĩ, đp suốt từ đu nguồn cho đến bờ biển để ginước lụt tràn ngập. Đt chức hà đê chánh phó sứ để trông coi. Chđp thì đo xem đp vào mất bao nhiêu ruộng đất của n, theo giá trlại tiền. Đắp đê đỉnh nhĩ bt đu từ đy”[1, tr.278]; năm 1254 tháng 6, bán ruộng công, mi mt diện là 5 quan tiền (by giờ gi mu là diện), cho nhân n mua m của tư”[1, tr.281]; hay như năm 1266 a đông, tháng 10, xung chiếu cho các vương hầu, công chúa, phò mã, cung tn chiêu tập nhng người xiêu n không có sn nghiệp m nô tì để khai khn ruộng hoang lp làm điền trang. Vương hầu có trang thực bt đu từ đy”[1,tr.291] v.v...

Trên lĩnh vực văn hóa, go dục-khoa cử, bang giao và hòa hợp xã hi, Trần Thái Tông đã tiếp thu và chịu nh hưởng tư tưởng hòa mục, viên dung của Pht giáo thể hin ở chỗ ban hành nhiu ch trương tiến bộ như ông đã cho xây dựng, trùng tu nhiu công trình chùa tháp, tc tượng Pht, đúc chng làm nơi thờ Pht và hoằng pháp, độ chúng. Bên cnh đó với tư tưởng hòa đồng Tam giáo Pht
- Nho - Đạo, ông còn cho lp Quốc học vin, khuyến học và định lệ mở các khoa thi Tiến sĩ nhm tuyn chọn nhân tài bổ nhim vào bộ máy triu chính, lp Giảng võ đường để rèn luyn thể cht, xây dựng quan hệ bang giao hòa hợp với nhà Tng, nhà NguyênTrung Quốc và Chiêm Tnh, tht cht mối quan hệ với các tù trưởng người dân tộc cai trị ở nhng vùng biên giới v.v... Sách sử ghi lại nhng skin tiêu biu như năm 1231 a thu, tháng 8, vua ng đến hành cung Tức Mc, m lễ hưởng ở Tiên Miếu, ban yến cho c bô o trong hương, và cho lụa theo thbc khác nhau”[1, tr.269]; năm 1246 “a thu, tháng 7, định lệ thi Tiến sĩ, cứ 7 năm mt khoa” [1, tr.277]; năm 1247 “a thu, tháng 8, thi c khoa thông Tam go”[1, tr.278]; năm 1253 tháng 6, lp Quc hc viện, tô tượng Khng Tử, Chu Công, và Á Thánh, vẽ tượng 72 người hiền để thờ. Mùa thu, tháng
 


8, lập Giảng võ đường. Tháng 9, xuống chiếu cho các Nho sĩ trong nước đến Quc tử viện giảng hc tứ thư lc kinh”[1, tr. 281]; m 1256 tháng 3 nhuận, đúc 330 quchng”[1, tr.283]; năm 1258 Sai s sang thông hiếu với nhà Tng”[1, tr.286] v.v

Trên lĩnh vực quân schng ngoi xâm và đi đãi với btôi, Trần Thái Tông còn là một vvua anh hùng và rt mực từ bi, khoan dung. Tinh thn này là sự tiếp thu quan đim nhp thế, vô ngã, vtha” của Pht giáo được ông vn dụng linh hot trong lãnh đo đt nước. Điu này được thể hin rõ trong skin vào năm 1257 khi nước Đại Vit phải đối mt với cuộc xâm lược ln thứ nht của quân Mông C. Trước ssng còn tồn vong của một dân tộc, với tư cách là người đứng đu cả nước, vua Trần Thái Tông đã kng chút nao núng shãi, mà dũng cm tài trí đích thân thống lĩnh sáu quân đi chống gic, lãnh đo tn quân, tn dân đn kết tiến hành cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại trước một đội quân xâm lược lớn mnh và hung hãn bc nht thế giới thời by giờ. Tm gương anh dũng, xả thân vì xã tc, nhân dân của ông đã hàm chứa trong đó triết lý nhp thế và vô ngã của Pht giáo dân tộc, quyết tâm bo vệ nn độc lp dân tộc dù có phải vào ra sinh tử nơi chiến trường nguy him. Sách Đại Vit ský tn thư đã ghi lại với lời lẽ tn trng sau: Tháng 12, ngày 12, tướng nhà Nguyên là Ngt Lương Hợp Đài xâm lấn đng Bình L. Vua tự m tướng đc chiến đi trước xông pha tên đạn. Quan quân hơi núng, vua ngoảnh trông hai bên, chỉ có Lê PhTrn (tức là Lê Tn) cưỡi ngựa mt mình ra vào trn giặc, sc mặt như thường. Lúc y có người khuyên vua đóng li để trông coi chiến đu. PhTrn cố sức can rng: Như nay chlà bhạ dc túi đánh nước cuối ng thôi. Nên lánh đi, chnên nhtin lời người ta. By giờ vua mới lui quân đóng ở sông Lô, PhTrn đi giữ ở sau; quân gic bn tới tắp, PhTrn ly ván thuyn đche được thoát nn, ngày 24, vua và thái tngthuyn lu tiến quân đến bến Đông đón đánh, phá được quân gic”[1, tr. 284-285].

Là một vị hoàng đế uy quyn tột đỉnh nm quyn sinh sát trong tay, tuy nhiên Trần Thái Tông đã thm nhun tư tưởng từ bi, khoan dung cao đp của Pht giáo. Điu này kng chỉ thể hin trong nhng trước tác vPht học của ông, mà còn trong cả vic đối x nhân từ, độ lượng của ông đối với bề tôi phm ti. Tiêu biu như skin năm 1257, sau kháng chiến chống quân Mông Cgiành thắng lợi, ông đã tha tội cho tiu hiu Hoàng CĐà. Sử cũ chép lại
 


svic này như sau: “Trước là vua cho các quan hầu cn ăn quả xoài, CĐà không được ăn. Đến khi quân Nguyên đến bến Đông, CĐà ngi thuyền nhẹ trn đi. Đến Hoàng Giang, gp hoàng thái tử đi thuyền ngược lên. CĐà tránh sang bờ sông bên kia, thế thuyền đi rt gp. Quan quân hô to lên hi: Quân Nguyên ở đâu? Cự trả lời: Không biết. c ngươi nên hi nhng người ăn xoài đy. Đến đây, thái tử xin khép CĐà vào cực hình để răn nhng kẻ làm tôi bt trung. Vua nói: C Đà ti đáng giết ch, song đời xưa có vic Dương Châm không được ăn thịt dê, đến ni làm quân nước Trnh bị thua. Vic ca CĐà là li ca ta; tha cho ti chết, cho đánh gic chuc ti”[1, tr. 285]. Qua đó cho thy, Trn Thái Tông đã thấm nhun tư tưởng từ bi, hiếu sinh, khoan dung của Pht giáo mà tha tội cho CĐà, nhận lỗi vphía mình. Đây quả là cách cư xử hiếm thy ở bậc vua chúa, đối với người khoan dung, đối với mình nghiêm cn.
  1. TINH THẦN HÒA MỤC, VIÊN DUNG CA PHT GIÁO TRONG HÒA HỢP GIA ĐÌNH

Trần Thái Tông kng chỉ tiếp thu, vn dụng tư tưởng Pht giáo trong vn đề lãnh đo đt nước, mà cả trong vic hòa hợp gia đình ng đã trở thành một tm gương sáng cho người đời sau học tp. Đó là thái độ từ bi, vị tha, hòa mục, bao dung của Trần Thái Tông trong mối quan hệ với người anh ruột Trần Liu, với người vợ cũ Chiêu Tnh và cả với vic dy bo các con của ông.

Nhìn lại skin xy ra năm 1237 đối với Trần Thái Tông khi ông bị chú họ là Trần ThĐép phải từ bỏ Chiêu Tnh, lp Thun Thiên công chúa - đang là vợ của anh ruột tên Trần Liu và đang có mang Quốc Khang ba tháng - lên làm hoàng hu. Svic này khiến Trần Liu tức gin, bèn họp quân làm lon ở sông Cái, còn vphía Trần Thái Tông khiến ông áy náy đau khổ bèn bỏ kinh thành trốn lên núi Yên Tử tìm gp quốc sư Trúc Lâm, mong muốn đi tu. Hôm sau, svic bị Trần ThĐphát hin bèn kéo qun thn lên núi tìm và buộc vua vkinh, lại được quốc sư khuyên bo nên Trần Thái Tông bèn hồi kinh, min cưỡng lên ngôi. Vphía Trần Liu làm lon, Đại Vit ský tn thư thut lại như sau: “Được hai tuần, Liễu tự biết thế cô, khó lòng đi lp được, ngm đi thuyền đc mc gim người đánh cá, đến chvua xin hàng. Khi y vua đương ở thuyền lớn, nhìn nhau khóc. ThĐnghe tin, đến thng thuyền vua, rút gươm
 


thét to rng: Giết chết tên giặc Liễu. Vua giu Liễu ở trong thuyn, vội vàng bo ThĐrng: Phng n Vương (Phng n là hiệu cũ của Liễu vthời nhà Lý) đến hàng đó thôi, và ly mình che đỡ cho Liễu. Th Độ tức lắm, ném gươm xung sông nói: Ta chlà con chó săn thôi, biết đâu anh em nhà ngươi thuận nghch thế nào? Vua nói giải hòa, ri bo ThĐrút quân về. Ly đất c xã Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang cho Liễu m p thang mc và phong m Yên Sinh Vương, ở đất y”[1, tr.273]. Qua đó cho thy Trần Thái Tông là một vvua coi trng tình nghĩa anh em ruột thịt, dù bị rơi vào nghịch cnh dễ dn đến tình trạng huynh đệ tương tàn chém giết ln nhau, song với cái tâm từ bi độ lượng và tinh thn hòa mục của nhà Pht, ông đã nhìn thu vào gốc r, bản cht của vn đề mà bỏ qua cho hành động bộc phát họp quân làm lon” bị coi là gic” của người anh ruột. Càng cao cả hơn khi Trần Thái Tông dám ly thân mình ra che chở cho Trần Liu khi bị Trần ThĐkéo quân đến truy sát và đứng ra hòa giải mâu thun, phong vương và ban cp thái p cho Trần Liu. Lịch sử các triu đại phong kiến của Vit Nam và Trung Quốc kng thiếu nhng sự biến vì tranh giành quyn lực đã dn đến cnh huynh đệ nồi da xáo thịt, hãm hại giết chóc ln nhau. Thậm chí để củng cvà bo vệ đa vị của mình, kng hiếm nhng kđã nhn tâm hi sinh đi tình cm ruột thịt để đt được mục đích. Do vy, cách cư xử của Trần Thái Tông kng chỉ khiến người đời cm phục khi dùng tình nghĩa chân thành để đối xvới nhau, mà còn chứa đựng cả tm lòng từ bi, vị tha của Pht giáo. Ông đã dy cho chúng ta thy rằng, kng phải sức mnh của bá quyn hay hình lut pháp chế hà khc hoc lễ giáo phong kiến chiếm đa vhàng đu, mà để thu phục lòng người phải xut phát từ cái tâm từ bi và trí tuệ của nhà Pht, cụ thể ở đây chính là triết lý vô ngã, tinh thn phá chấpvượt lên mọi quan nim chp trước thông thường.

Tư tưởng hòa mục, viên dung của Trn Thái Tông còn được thể hin ở chỗ ông hết mực quan m đến vic to nên sự hòa hợp gia đình êm thấm. Tuy đm nhận cương vlà người nh đo một nước, bn trăm công nghìn vic, lại cm chỉ học Pht tu thin và thông qua trước tác để khaim chỉ bảo cho người mê, Trn Thái Tông còn là một người cha hin từ rt quan m chú trng vic dy bảo đo đức cho con cái như m 1251 Vua thân làm bài minh cho các hoàng tử, dy về trung, hiếu, hòa, tn, ôn, lương, cung, kiệm”[1, tr.279]. Theo
 


Trần Thái Tông, đây chính là nhng đức tính quan trng, cn phải học tp để nên người, sng có ích cho đt nước.

Trong quan hệ phụ tử, Trn Thái Tông còn ly tư tưởng viên dung để yêu thương các con như nhau, kng pn bit đối xgiữa con riêng (Quốc Khang, tức con của Trn Liu và Thun Thiên) và con chung. Sử cũ ghi lại như sau, m 1268, “Mùa đông, tng 10, vua (tức thái tử Hong) cùng anh là Tĩnh Quốc đại vương Quốc Khang cùng đùa ở trước mt thượng hoàng (tức Trn Thái Tông). Thượng hoàng by giờ mc áo vải bông trng, Tĩnh Quốc múa kiu người H. Thượng hoàng cởi áo ban cho Quốc Khang. Vua cũng múa kiu người Hồ để xin áo y. Quốc Khang nói: “Quý nht là ngôi hoàng đế, hthn không m tranh với chú hai, nay đức chí tôn cho thn mt vt nhmn này mà chú hai mun cướp ly chăng? Thượng hoàng ccười nói: Thế ra mày coi ngôi vua với cái áo xoàng này không hơn kém gì nhau. Khen ngợi hi u, ri cho Tĩnh Quc cái áo y. Trong chcha con anh em hòa thuận vui vnhư thế đy”[1, tr. 293].

Một đim nổi bt khác thể hin nn sinh quan Pht giáo mà ông tiếp thu, đó là quan nim phá trngã chấp” trit đ, đt đến thông suốt, viên dung vô ngi” để to phúc cho người khác. Đó là nh động sau bao m khi cuộc hôn nn đu với Chiêu Tnh bị chia ct, đứt đon, đã để lại trong ông nim day dứt khc khoải khôn ngi. Nỗi nim bi kịch hôn nn gia đình mà Trn Thái Tông phải sớm nếm trải đó mà ông xem như nghip chướngto nên. Có điu với cái m hướng thin, mong muốn xóa bỏ nhng nỗi khổ đau nn thế, mang lại hạnh phúc cho nhng người từng tn cn với mình, mà sau khi chiến thắng quân Mông Cm 1258, Trn Thái Tông đã đứng ra tác hợp cho Chiêu Tnh và tướng tài công thần Lê PhTrn. Sách Đại Vit ský toàn thư ghi li: Mùa xn, tháng gng, ny mồng 1, vua ngchính điện, cho trăm quan vào chầu. Trăm hyên nghiệp như cũ. Định công phong tước; cho Lê PhTrn làm Ngsđại phu và đem công chúa Chiêu Thánh gcho. Vua nói: Trm không có khanh thì làm gì được có ny nay. Khanh nên cố gng để cùng hưởng phúc sau này”[1, tr. 285]. Chkiến và nh động của Trn Thái Tông tác hợp se duyên cho người vợ trước là Chiêu Tnh và vị tướng từng lập nhiu công trn, cùng vào ra sinh tử Lê PhTrn bảo vệ cho ông trên chiến trn là điu bị các các nhà sử học theo quan đim Nho gia ppn. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa
 


trên quan nim đời thường và hệ thống luân lý đo đức Nho gia s kng thể nào lý giải thu suốt được nguyên cgì mà Trần Thái Tông lại có chủ ý như vy. Chỉ có bc đã chng ngộ trí tuệ cao cả và từ bi của Pht pháp mới có thể hoan h, buông x, vượt lên cái ngã chấpđời thường để to phúc cho chúng sinh bằng cách xsự như thế. Đó là lúc Trần Thái Tông đã thu trit bản tâm và ly câu nói nổi tiếng trong Kinh Kim Cương:Ưng vô sở trnhi sinh kỳ mđể quán xuyến hết mọi tư tưởng và hành động của mình. Đó là nét đp đem đạo vào đời” mà kng phải ai đi tu, học Pht đu có thể thực hin viên mãn được.

KT LUN

Trong thời đại ngày nay, nghiên cứu vTrần Thái Tông với tư cách một bc chân tu đc đo, một nhà Pht học nổi tiếng của dân tộc, kiêm vị hoàng đế có công khai mở đu triu đại nhà Trần giúp chúng ta thêm hiu sâu sc về cuộc đời, con đường học Pht tu thin, chng ngvà đc bit là svn dụng tài tình, nhun nhuyn nhng tư tưởng chđo toát lên từ trí tuệ và hnh từ bi của Pht giáo trong vic lãnh đo đt nước nói chung, cũng như trong vic xây dựng gia đình hòa hợp. Dù từ góc độ tu học cá nhân giữ gìn sự trong sch của thân tâm, hay vic vun đp sự hòa hợp trong phm vi gia đình, gia tộc, cho đến thm chí gánh vác nhng trng trách lớn lao như bo vệ nn hòa bình, độc lp tự chủ cho đt nước, xây dựng quốc gia phát trin thịnh vượng v.v... đu đáng để chúng ta suy ngm và soi rọi bản thân, gn đo với đời” tiếp tục giữ gìn và phát huy nhng giá trị cao đp của Pht giáo Vit Nam đóng góp vào sphát trin chung của Pht giáo khu vực và thế giới, vì một tương lai hòa bình, thịnh vượng và phát trin của nhân loi.









***



 

Tài liệu tham kho


Lê Mnh Thát: Toàn tp Trn Thái Tông, Nxb. Tng hợp Tp. HC Minh, 2004.

Lê Tc: An Nam chí lược, Quyển đệ lục, 1335. (Bn dịch của Vin Đại học Huế, y ban phiên dịch sử liu Vit Nam năm 1961).
Mật Thể: Việt Nam Pht giáo slược, Nxb. Tôn giáo, 2004.

Ngô Sĩ Liên: Đại Vit ský tn thư (Cao Huy Giu dch), Nxb. Thời Đi, Hà Ni, 2013.

Nguyn Đăng Thục: Thiền hc Trn Thái Tông, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Ni, 1996.

Nguyn Đăng Thục: Thiền hc Việt Nam, Nxb. Thun Hóa, Long An, 1996.

Nguyn Duy Hinh: Tư tưởng Pht go Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Ni, 1999.

Nguyn Hùng Hu chủ biên: Đại cương lịch sử tư tưởng triết học Vit Nam, tp 1, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Ni, Tnh phố H CMinh, 2002.

Thích Hnh Tnh: Biên niên sử Thiền tông Việt Nam, Nxb. Hng Đức, Hà Ni, 2016.

Vin văn học: Thơ văn Lý – Trn, tp 2, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Ni, 1977.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây