22. KHAI THÁC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA PHẬT GIÁO PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DULỊCH BỀN VỮNG TẠI HỘI AN (QUẢNG NAM)

Thứ sáu - 03/05/2019 06:52
Đào Vĩnh Hợp
-ThS. NCS., Giảng viên, Trường Đại học Sài Gòn, Việt Nam.
 Võ Thị Ánh Tuyết
- ThS. NCS., Giảng viên Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG   TP.HCM.
341

 
KHAI THÁC GIÁ TRỊ DI SN N A PHT GIÁO PHỤC VPHÁT TRIỂN DULCH BỀN VỮNG TI HỘI AN (QUNG NAM)

Đào Vĩnh Hợp* Võ ThÁnh Tuyết**






M TẮT
Hội An (Quảng Nam) từng một thương cảng quan trọng của Đông Nam Á trong các thế kXV-XIX. Vào thời kĐàng Trong, cũng lúc đô thị - thương cảng Hội An tồn tại cực thịnh, tại phố cảng này đã phát triển mạnh mẽ các hoạt động văn hóa, tôn giáo, thương mại. Phật giáo ở Hội An hình thành phát triển khá sớm. Các di sản văn hóa Phật giáo đã tạo nên nét độc đáo cho Di sản văn hóa thế giới Hội An, đồng thời cho thấy sự đa dạng về đời sống văn hóa, tôn giáo của dân Hội An sự phát triển của Phật giáo địa phương. Trên đà phát triển toàn diện của thành phố Hội An hiện nay, đặc biệt sự nổi trội của hoạt động du lịch trong những năm gần đây, các di sản văn hóa Phật giáo Hội An cần được nghiên cứu, bảo tồn phát huy hơn bao giờ hết. Qua đó, nhằm góp phần cho sự phát triển du lịch bền vững cùng sự phát triển của Phật giáo ở Hội An nói riêng Phật giáo Việt Nam nói chung hội bền vững.
  1. KHÁI QUÁT VỀ DI SẢN N A THẾ GII HI AN (QUNG NAM) BỐI CNH PHÁT TRIỂN CỦA PHT GIÁO




*. ThS. NCS., Giảng viên, Trường Đại học Sài Gòn, Việt Nam.
**. ThS. NCS., Giảng viên Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG   TP.HCM.
 
 
    1. Tng quan vHội An (Qung Nam) và c giá trị di sản văn hóa của vùng đt
Hội An (Quảng Nam) hiện nay tên một thành phố cách thành phố Đà Nẵng 30km về phía Đông Nam cách thành phố Tam K (tỉnh Quảng Nam) khoảng 55 km về phía Đông Bắc. Theo kết quả điều tra ngày 01/04/2009, Hội An diện tích 6.068km2, dân số 82.850 người, chia thành 9 phường 4 . Các phường gồm: Cẩm An, Cẩm Châu, Cẩm Nam, Cẩm Phô, Cửa Đại, Minh An, Sơn Phong, Tân An, Thanh Hà. Các gồm: Cẩm Hà, Cẩm Kim, Cẩm Thanh, Tân Hiệp (xã đảo nằm trên Cù lao Chàm) (Cục thống Quảng Nam 2013, tr.13).
Vốn là một vùng đt lịch slâu đời nằm ở min Trung Vit Nam, Hội An may mắn được thiên nhiên ban tặng cho những điều kiện tự nhiên thuận lợi. Thêm vào đó, nhờ các yếu tố trong ngoài nước, từ sau thế kỷ XV đến thế kỷ XVII–XVIII, thương cảng Hội An được hình thành phát triển phồn thịnh. Thương thuyền c nước đã cập bến đến buôn bánHội An. Quá trình giao lưu kinh tếvăn a trong mấy trăm năm cộng với những biến động của lịch sử, thời gian đã tạo cho đô thị cổ Hội An ngày nay được một kho tàng di sản văn hóa (vật thể phi vật thể) giá. Hội An chính một mô hình cảng thị truyền thốngĐông Nam Á được bảo tồn nguyên vẹn chu đáo.
Hội An vẫn bảo tồn gần như nguyên trạng quần thể kiến trúc đô thị cổ quý báu với hầu hết các loại hình kiến trúc cổ của Việt Nam. H thống các di tích với mức độ tập trung khá dày đặc hiếm nơi nào sánh được. Theo số liu điu tra của Trung m bảo tồn di tích Hội An (tính đến cuối năm 2001) trên địa bàn Hội An hiện 1352 di tích, trong đó 1268 di tích kiến trúc nghệ thuật thuộc các công trình dân dụng (nhà ở, cầu, giếng, chợ), công trình tín ngưỡng (đình, chùa, ng miếu, hội quán, nhà thờ tộc) công trình đc thù (m) (Trn Ánh, 200), tr. 44). Bên cnh đó, Hi An còn lưu giữ một nền tảng văn hóa phi vật thể cùng độc đáo, đã trải qua quá trình gạn lọc, tiếp biến, định hình n những sắc thái rất riêng, đúng như Trần Quốc Vượng đã từng nhận xét Hội An – Đó mt sự hội thủy, hội nhân hội tụ văn hóa cùng đa dạng (Trần Quốc Vượng, 1991, tr. 52).
 


Có thể thấy, các giá trị di sản văn hóaHội An (Quảng Nam) khá phong phú đa dạng, bao gồm quần thể di tích kiến trúc khu phố cổ cùng những giá trị văn hóa phi vật thể độc đáo còn được bảo tồn khá nguyên vẹn. Quan trọng hơn cả con người Hội An với những đc trưng về tính ch, lối sống, phong ch ứng xử vừa bình dị, vừa sâu sắc. Hay nói cách khác, nếu quần thể di tích kiến trúc khu phố cổ được xem như một “bảo tàng sống”, thì người dân Hội An bao đời nay vẫn được xem những con người sống cùng ph cổ, sống với ph cổ, sống ph cổ. Cũng nhờ vai trò lịch sử của mình, cộng với những giá trị độc đáo của một đô thị cổ từ di sản các thế hệ trước đã để lại, cư dân Hội An ngày nay đã xây dựng nên cấu kinh tế đa ngành nghề đã biết tận dụng thế mạnh của một di sản n a thế giới để phát triển c nnh dịch vụ để phục vụ cho du lịch (Trung m Qun lý Bảo tồn Di tích Hi An, 2008, tr.32).
    1. Bối cảnh du nhập, phát triển Phật giáoHội An
Vào các thế kỷ XVII, XVIII, tình hình chính trị Đại Việt nhiều biến chuyn, cục din Đàng Trong và Đàng Ngoài tiếp tục mâu thun. Trước tình hình chiến tranh loạn lc, đt nước phân chia, các chúa Nguyn ở Đàng Trong đã ra sức khôi phục lại đa vị của Pht giáo, nhm mục đích phục vụ cho nền chính trị đương thời.
Thực tế lịch sử cho thy, ở Đàng Trong, kể từ sau khi vị chúa tiên Nguyễn Hoàng lên ngôi, vai trò địa vị của Phật giáo được phục hồi. Đặc biệt, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu cầm quyền vào năm 1691, sự phát triển của Phật giáo đạt đến đỉnh cao. Chúa Nguyễn cũng rất sùng đạo Phật, coi trọng tăng nên đã nhiều chính sách ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi tranh thủ mọi biện pháp để phát triển Phật giáo. Một trong số đó chính sách mời các nhà sư Trung Hoa đến với Đàng Trong. Do vy, nhng ng sư đến từ Trung Quốc có thể tiếp cn chúa Nguyn một cách dễ dàng và được chúa rất tin dùng. Thông qua hoạt động buôn bán qua lại, các thương gia cùng ng sư Trung quốc đã có mt ở Đàng Trong ngày một đông. Trường hợp có mt của nhà sư như Nguyên Thiu đến từ Trung Hoa, là một đin hình. Nhc lại nhng quan sát của mình về Nguyên Thiều đoàn tùy tùng của ông năm 1680, nhà truyền giáo người Pháp Benigne Vachet đã viết: khong 30 nhà sư cùng với phụ”, nhà vua thường xuyên kính cẩn giới thiệu mt vài nhà
 


sư Trung Hoa khi tiến hành nghi lễ theo ththức thích hp(Trn Đức Anh Sơn, 2017). Như vậy, trong trào lưu truyền Phật giáo vào Việt Nam, cùng với quá trình Nam tiến dưới thời các chúa Nguyễn, Đàng Trong đã trở tnh đim đến truyn bá Pht pháp của các nhà sư Trung Hoa.
Riêng tại Hi An - một thương cng quan trng của Đàng Trong Đông Nam Á trong các thế kỷ XVI–XIX, vào thời cực thịnh, phố cảng này đã phát triển mạnh mẽ các hoạt động văn hóa, tôn giáo, thương mại giữ vai trò cửa ngõ quan trọng cho việc giao lưu, tiếp xúc văn hóa Đông - TâyViệt Nam. Phật giáo Hội An được hình thành phát triển khá sớm, đồng thời chịu nh hưởng mnh mẽ bởi Pht giáo Trung Hoa. Đin hình như từ thế kXVII, thin sư Minh Hải (quê phTuyn Châu, tỉnh Phước Kiến, Trung Quốc) và thin sư Minh Lượng (phTriu Châu, tỉnh Qung Đông, Trung Quốc) đã đến Hội An. Thiền Minh Hải đã khai sơn chùa Chúc Thánh (thế kỷ XVII).
Như vậy, bên cạnh vai trò điểm gặp gỡ giao lưu giữa các nền văn hóa Đông Tây, một trong những cái nôi ra đời chữ Quốc ngữ vào thế kỷ XVII, Hội An đồng thời cũng nôi truyền Thiên chúa giáo và Pht giáo ở Đàng Trong. Tại Hi An song song tồn tại nhiều tôn giáo khác nhau như Phật giáo, Công giáo Rôma, Tin Lành, Cao Đài... nhưng Phật giáo vẫn chiếm đa số nhất.
  1. VỀ CÁC DI SẢN N A PHT GIÁOHI AN VÀ VAI TRÒ ĐỐI VỚI HOT ĐỘNG DU LỊCH THÀNH PHỐ
H thống di sản văn hóa Phật giáoHội An khá đa dạng, bao gồm cả di sản văn hóa vật thể phi vật thể.
    1. Di sản văn hóa Phật giáo th hiện qua kiến trúc cổ các ngôi chùa
Hội An nơi hội tụ, giao thoa của nhiều nền văn hóa, tôn giáo. Nơi đây đã tập trung dày đặc các công trình văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo đc sc. Trước nht, đó chính là một qun thể di tích tôn giáo đặc sắc với những kiến trúc chùa chiền độc đáo. Hiện nay, thành phố Hội An gần 30 sở thờ tự theo hệ phái Bắc tông và Nam tông. Trong đó có mười ngôi chùa thuộc thin phái Lâm Tế Chúc Thánh: Chúc Thánh, Vn Đức, Phước Lâm, Long Tuyền, Pháp Bảo, Viên Gc, An Lc, Minh Gc, Bảo Thắng, thiền tự Bảo
 


Châu, Long Thọ. Ba tổ đình chính của Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh tổ đình Chúc Thánh, Vn Đức Phước Lâm đã trở thành những trung tâm Phật giáo của Hội An. Những ngôi chùa cổ nơi lưu giữ di sản kiến trúc,liệu, hiện vật giá trị, cùng hoạt động sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng đặc trưng. H thống chùa, tịnh góp phần làm phong phú thêm loại hình tham quan du lịch của du khách. Một số ngôi chùa cổ tiêu biếu đã được xếp hạng di tích quốc gia như:
  • Chùa Chúc Thánh
Chùa Chúc Thánh, tên dân gian Chùa Khoai, tên chữ Chúc Thánh tự”. Di tích hiện tọa lạc tại số 104 đường Tôn Đức Thắng, phường Tân An, thành phố Hội An, cách trung tâm thành phố chừng 1,5km về phía Bắc. Chùa được tổ Minh Hải xây dựng vào cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII (năm 1684) (Ban quản lý di tích Hội An, 1991).
Chùa xoay mặt về hướng Tây Nam, tọa lạc trên một khu đất cao thóang đãng được bao bọc xung quanh gần như bởi khu nghĩa địa. Nền chùa được xây dựng trên với diện tích hơn 10.000m2 (chiều rộng 130m chiều sâu 100m). Hiện tại, khuôn viên chùa được bao bọc bởi một lớp hàng o bng cây dày độ khong 2m.
Chùa Chúc Thánh kiến trúc mỹ thuật tiêu biểu với sự kết hợp hài a giữa phong ch kiến trúc trong ngoài nước, giữa truyền thống và hin đi, mà tiêu biu là kiến trúc Trung Hoa và Vit Nam. Kiến trúc chùa theo kiểu tiền công hậu quốc” liên hoàn, đăng đối, gồm các hạng mục: tiền đường, chính diện, hậu tổ, nhà Đông - nhà Tây các hạng mục phụ khác. Các gian đều thông nối với nhau, thuận lợi cho tất cả sinh hoạt tôn giáo của chùa. Vật liệu xây dựng phần lớn bằng vôi, gạch, gỗ, đá, ciment. Mái chùa lợp bằng ngói âm dương. Nóc mái tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, trang trí các đề tài rồng, phụng hay c tích của nhà Pht. S hiện hữu đồng thời của o “chồng rường giả thủ (phong ch Hoa)gian tiền đường n cạnh kèo “cột trốn kẻ chuyền” (phong cách Việt)gian chính diện một cách cân đối, hợp lý đặc trưng phổ biến trong kiến trúc cổ Hội An.
Nội thất chùa được trang trí bng hoành phi, liễn đối chm khc nhiều mô típ hoa văn phong phú như hình cá chép, giao long, dơi,
 


hoa lá... Bộ di vật của chùa khá đa dạng với các tượng thờ cổ, bia , kinh sách giá trị về mặt lịch sử học thuật, liên quan đến quá trình du nhập và phát trin Pht giáo ở Đàng Trong, Vit Nam, tinh thần tu học của chư Tăng nơi chốn T từ trước đến nay. H thống tượng thờ trong chùa đều thể xem như những tác phẩm nghệ thut. Trong đó có nhiu tượng lớn, trm trổ cu k. Chính đin thờ Tam Thế Phật, Di Lc, 18 vị La Hán, trước sân tượng Quan Thế Âm Bồ tát. Các pho tượng như: Phật A di Đà, Phật Thích Ca, Phật Di Lặc, Bồ tát, Văn Thù, Phổ Hiền, A Nam, Ka Diếp, Quan Âm Chuẩn Đồ, Thập Bát La Hán, H Pháp Vi Đà, Tiêu diện Đại , Địa Tng Vương, hu hết được làm bng hợp cht, sơn son thép vàng, cao từ 0,3 - 1,6m. Gian Hậu tổ 12 bài vị bằng gỗ, cũng những tiêu phẩm chạm khắc với nhiều hoa văn sinh động như rồng, mặt trời, mây, phụng, dơi, hoa sen, mai, cúc, c loại hồi n.
Xung quanh vườn chùa các tháp, bia tháp của T khai sơn cùng các vị Hòa thượng, Thượng tọa, chư Tăng trong môn phái đã quá c. Trong số đó, ni bt nht là Tp của Tsư Minh Hi, cao trên 10m, gồm 7 tầng, trước tháp mộ song thân của T Minh Hải Ông Lương Đôn Hậu Trần Thục Thận. Những tháp khác cao 5 tầng, 3 tầng hay 1 tầng, một s tháp đã được trùng tu hay hại chỉ còn lại phần bia.
Chùa Chúc Thánh lịch sử hơn 300 năm với nhiều lần trùng tu (2 lần lớn vào năm 1956 năm 1964) trải qua 12 đời trụ trì. Đây chính T đình của Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh. T nơi đây, dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh được hình thành phát triển. Đây ngôi chùa sớm nhất được biết đến vẫn lưu giữ nhiều di vật, tượng thờ, bia liên quan đến quá trình du nhp phát triển của Pht giáo ở Đàng Trong (Nguyn CTrung, 2007).
    • Chùa Phước Lâm: Được T Thiền Thiệt Dinh (1712- 1796) - Ân Triêm khai sơn vào thế kXVIII. Thit Dinh, quê xã Bến Đền, phủ Điện Bàn, dinh Quảng Nam xưa, đời thứ 35 Lâm Tế đời thứ hai của chi phái Lâm Tế Chúc Thánh. Thiền Thiệt Dinh một đệ tử xuất sắc của Thiền Minh Hải. Theo tài liệu, chùa được người làng mộc Kim Bồng Hội An thi công xây dựng vào năm Nhâm Thìn (năm 1736). Di tích đã trải qua nhiều lần trùng tu, trong đó các lần quan trọng vào các năm 1864, 1891, 1965 (Ban quản lý di tích Hội An, 1991B). Chùa được xây theo hướng
 


Đông Nam. Kiến trúc chùa quy mô lớn, ngoài khu chính điện cùng bình phong uy nghi còn hệ thống tam quan với các cửa hình vòm, tiền đường, chính điện, nhà Đông - Tây, nhà T, miếu N Hành giếng cổ xây bằng gạch... Khuôn viên chùa được phủ mát bởi nhiu cây ci và có Tp mộ của Thin sư như: Ân Triêm, Minh Giác... Toàn bộ công trình chính được xây dựng theo li ch Môn, chính đin là nơi thờ tự chính. Phần nóc mái của kiến trúc chính này lợp ngói âm dương, dáng hình thuyền, bờ hồi uốn cong, trên mái đp nổi bng hợp chất, khm nh sứ c tượng tròn: rồng, phng, lân và nhiu đề tài khác. Trong chùa bài trí và lưu giữ nhiu di vật, tượng thờ, bia , kinh sách giá trị lịch sử văn hóa. Chùa hệ thống tượng thờ đa dạng, phong phú. Chính điện nhiều bàn thờ để thờ các vị Phật tổ cùng hóa thân của Phật: A Di Đà, Phật Thích Ca, Di Lc, Quan Thế Âm, Đại Thế Chí, Đa Tng Vương, Thích Ca sinh, A Nan, A Diếp, Quan Thế Âm Bồ tát, Đại Thế C Bồ tát, tượng 18 vị A La Hán. Phía sau bàn thờ vị Giám Trai cùng T Thiên Vương (các vị hộ pháp). Nhà T để thờ các vị tổ khai sơn chùa a thượng kế tiếp đã qua đời. Đc biệt hơn, chùa Phước Lâm nơi bảo quản hơn 100 bản gỗ, gồm nhiều kích cỡ khác nhau, được khắc bằng chữ Hán chữ Nôm, niên đại trên 300 m (Trung m Qun lý Bảo tồn Di tích Hi An, 2017).
  • Chùa Vn Đức: Tên chlà “Lang Thọ tự, Vn Đức tự. Tên thường gọi chùa Cây Cau, chùa Vn Đức (Ban quản lý di tích Hội An, 1991C). Chùa Vạn Đức nằm trong 1 khu đất hữu ngạn sông Đế Võng, thuộc xứ Đồng Nà, làng Thanh Hà, phủ Điện Bàn, trấn Quảng Nam, nay thuộc thôn Đồng Nà, Cẩm Hà, Hội An, cách trung tâm Hội An khoảng 4 km về phía Bắc. Chùa được thiền Minh Lượng (1626 – 1709), quê huyn Triu Dương, phTriu Châu, tỉnh Qung Đông, Trung Quốc. Ngài là đệ tử của tsư Nguyên Thiều (đời 33 Thiền ng Trung Quốc), đệ của Minh Hải, xây dựng vào cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII. Ban đầu chùa một thảo am nhỏ. Sau đó thay tre bằng gỗ. Đến nửa đầu thế kỷ XVIII, Thực Khoan (đời 33) kế tục trụ trì chùa, ông xây lại chùa bng vôi gch. Cui thế kXVIII, sư trụ trì Phổ Triêm (đời 36) đại trùng tu chùa, xây thêm tiền đường, hậu tẩm, nhà Đông, nhà Tây nhưng hướng chùa vẫn quay về hướng Đông Bắc. Đầu thế kỷ XX, Hoàng Nhơn (đời 40) đại tu lần nữa, quay chùa theo hướng Tây Nam gần như cố định như ngày nay.
 


Chùa diện tích khong 600m2, được xây dựng theo kiểu “ch U, gm: tin đường, chính đin, hu tẩm, nhà Đông, nhà Tây, nhà trai nhà bếp. Các hạng mục công trình được thông với nhau, thuận lợi cho các sinh hoạt tôn giáo. Vật liệu xây dựng phần lớn vôi, gạch gỗ, sau này ciment. Kiến trúc cổ của lần trùng tu sau cùng được tồn tại đến ngày nay. Mái chùa lợp ngói âm dương, bờ nóc bờ nồi uốn lượn mềm mại với c mô típ lưỡng long tranh châu, tử, rùa, phụng... thể hiện tài năng nghệ thuật của các nghệ nhân mộc, nề đa phương qua các thế h. Trong chùa còn lưu giữ, bài trí nhiu tượng thờ, di vật, kinh sách quý. Có các hiện vật gốm sứ niên đại thời Minh, Thanh Trung Quốc, các chng đồng lớn
Ngoài ra, ngoại ô khu phố cổ còn nhiều ngôi chùa khác như Vn Đức, Kim Bửu, Viên Giác, Long Tuyền... mang niên đại muộn hơn, được xây dựng khoảng đầu thế kỷ XX. Tại Hội An còn các ngôi chùa làng gắn với những quầnnhư một thành phần hữu của tổng thể làng xóm. Điều này phản ánh giới tu hành gắnvới thế tục chứng tỏ Minh Hương Xãđây đã một thiết chế văn hóa sinh hoạt cộng đồng khá mạnh (T Thị Hoàng Vân, 2007, tr.68). Hiện nay các di tích trên đều được giáo hội Phật giáo Quảng Nam quản . Các di tích ở Hội An đã được xếp hạng từ khá sớm, năm 1991 (Ủy ban nhân dân thành phố Hội An, 2015, tr.231, 246).
    1. Di sản văn hóa Phật giáo th hiện qua h thng các di vật c, kinh Phật, tư liệu lịch sử, văn hóa khác
Song hành cùng các kiến trúc cổ, các chùa cổHội An hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật,liệu kinh sách quý, bia đá, đặc biệt mộc bản kinh khắc gỗ liên quan đến lịch sử Hội An, đến quá trình du nhập và phát trin Pht giáo ở Hi An, Đàng Trong và khu vc. Đặc biệt hơn cả, tại các chùa thuộc dòng thiền Lâm Tế còn lưu giữ các mộc bn (ván khc) với s lượng khá đồ sộ. Thông qua đây cho thấy bấy giờ tại vùng đất Hội An đã in ấn phổ biến nhiều loại kinh đin của Pht giáo, trong đó có nhiu bn được khc từ Trung Hoa vận chuyển chuyển sang, số khác do các thợ địa phương khắc ván. Loại chữ được khắc chủ yếu trên các mộc bản chữ Hán, số ít bn được khc bng ch Phn (Sacncrit).
Cá mộc bản chính nguồnliệu quý để nghiên cứu về lịch sử, n hóa, kiến trúc, m thuật Phật go quá trình hình thành, phát
 


trin của Pht giáo ở Hi An nói riêng, Đàng Trong nói chung. H thống mộc bn này như sau:
Chùa Chúc Thánh tổ đình của dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh, từng nơi in ấn, phát hành kinh điển của dòng Lâm Tế Chúc Tnh nhiu nht xĐàng Trong. By giờ, vì số lượng mộc bản in kinh quá lớn nên trụ trì chùa phải cho lập thêm một ngôi chùa bên cạnh tổ đình để chứa bản in chuyên ấn tống kinh điển của nhà Phật. Tải qua thời gian đặc biệt ảnh hưởng bởi chiến tranh hiện nay số lượng mộc bản của chùa còn lại rất ít, chỉ trên 12 bản in với nội dung bộ kinh Quan Âm Phổ Môn.
Chùa Chùa Vn Đức hiện lưu giữ nhiều mộc bản nhất. Đó các y, bát của T Minh Lượng với 115 mộc bản. Các mộc bản này khá phong phú về chủng loại niên đại. Có nhiều bản kinh được khắc vào thời Minh - Trung Quốc, đin hình như 3 bộ Di Đà, Quan Âm, Kim Cang được khc vào thời Minh Anh Tông. Theo các ni dung phụ trong bản kinh cho biết, đây những bộ kinh do T kheo Vn Tung cho thợ khc o ngày Phật đn năm Thiên Thuận Nhâm Ngọ. T những thông tin trên cho thấy, rất thể 3 bộ kinh này được du nhập từ Trung Hoa sang nước ta từ khá sớm (khong thế kXV). Đại đa số các mộc bảnchùa Vn Đức được khắc bằng chữ Hán, theo thể chân phương, sắc nét chùa Phước Lâm nơi bảo quản hơn 100 bn gỗ, gồm nhiều kích c khác nhau, được khc bng ch Hán chữ Nôm, niên đại trên 300 năm. Căn cứ vào nội dung thể xác định đây những bộ kinh của Phật giáo đại thừa gồm Niệm Phật Vãng Sanh, kinh Pháp Hoa, kinh Kim cang... Bên cạnh đó còn các bản khắc bài kệ, chú trong tang lễ, độ điệp. Ngoài việc lưu truyền nhữngtưởng, giáo lý của đạo Pật, các mộc bản tại tổ đình Phúc Lâm còn một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc tinh xảo thể hiện tài năng, trí tuệ của những người thợ khc g xưaHội An nói riêng, Quảng Nam nói chung. Hiện nay (ngày 13/9/2013), tại tổ đình Phúc Lâm, các cán bộ png Qun lý Di tích thuộc Trung tâm Quản Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An đã tiến hành bàn giao tủ đựng mộc bản cho Chùa Phước Lâm . Niên đại xưa nhất của mộc bản chùa Phúc Lâm vào niên hiệu Khang Hy năm Giáp Thìn, đây là niên hiu của vua Tnh tổ nhà Thanh, Trung Quốc. Do vy, bộ kinh này rt có thể được khc tại Trung Quốc, sau đó chuyn sang nước ta.
 


Các T đình - những nơi gắn liền với hành trạng chư vị T cao Tăng, đã đóng vai trò quan trọng như một trong những trung tâm sinh hoạt truyền thừa của môn phái, góp phần làm phong phú thêm đời sống tôn giáo của vùng đất Hội An. T đây, đạo pháp được truyền đi khắp mọi nơi khiến cho môn phái ngày càng phát triển. Với bề dày lịch sử được, T đình Chúc Thánh, Phước Lâm, Sơn Long... đã trở thành những trung tâm giáo dục Phật giáo, nơi quy ngưỡng cho Tăng Ni, Phật tử đến xuất gia học đạo.
T trước đến nay, các chùa đều tổ chức những lễ lớn trong năm như: Vía Phật Đản sanh (15/4); Vía Quan Thế âm (19/6); Vu Lan báo hiếu (15/7); Vía Đức Phật thành đạo (12/12)… Bên cạnh đó, môn đồ còn tổ chức kỵ tổ các Thiền khai sơn công trùng tu xây dựng chùa. Vào những dịp L, các di tích đã thu hút đông đảo con Phật tử ở Hội An cùng nhiều tỉnh thành lân cận tập trung về tham dự. Nghi lễ thờ cúng tại các di tích mang nhiều nét độc đáo cho thấy sự đa dạng về văn hóa lễ hội.
Phật giáo đã tác động rất lớn đến đời sống tín ngưỡng, tôn giáo sinh hoạt văn hóa của các cộng đồngdân phố Hội. Nhiều gia đình ở Hội An không theo đạo Phật giáo những vẫn thờ Phật ăn chay theo hình thức tín ngưỡng thờ ông tổ tiên. Những vị Phật được thờ chủ yếu Phật Quan Âm Thích Ca Mâu Ni, một số gia đình còn thờ Tam Thế Phật, gồm Thích Ca Mâu Ni hai vị Quân Âm Bồ tát, Thế C Bồ tát. Trong mỗi nhà, khám thờ Phật được đặt nơi trang nghiêm, thanh tịnh, thường cao hơn ban thờ gia tiên một bậc. Thậm chí những gia đình dành riêng một gian rộng để thờ Phật làm nơi tụng niệm (Bùi Quang Thắng, 2005, tr. 39).
    1. Giá trị đặc trưng của di sản văn hóa Phật giáoHội An vai trò đối với hoạt động du lịch Thành ph
Dưới góc độ lịch sử - văn hóa, thể thấy, sự tồn tại của các di sản văn hóa Phật giáo Hội An trước nhất đã minh chứng cho cho sự tồn tại phát triển của đô thị - thương cảng Hội An trong lịch sử cùng vai trò, vị trí quan trọng của Hội An trong quá trình du nhập và phát trin Pht giáo ở Đàng Trong trước đây và Pht giáo Vit Nam sau này. Vào thời vàng son cực thịnh, Hội An còn giữ vai trò cửa ngõ quan trọng cho việc giao lưu, tiếp xúc văn hóa Đông y.
 


Tại phố cảng này cũng đã phát triển mạnh mẽ các hoạt động văn hóa, tôn giáo, thương mại, trong đó Phật giáo.
Vùng đất Hội An (Quảng Nam) nói chung vai trò, vị trí hết sức quan trọng trong quá trình du nhp phát triển của Phật goĐàng Trong trước đây và Pht giáo Vit Nam sau này. Hi An từng là một trung m Pht giáo sớm của Đàng Trong. By giờ, các nhà sư Trung Quốc đã đến Vit Nam nói chung, Hi An nói riêng với số lượng khá đông họ đã vai trò rất lớn trong việc truyền giáong như đóng góp cho sphát trin của Pht giáo Đàng Trong. Bằng chứng việc xây dựng nhiều ngôi chùa, đào tạo đệ tử, phát triển Phật pháp. S ra đời của dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh một trong những dụ điển hình. Lâm Tế Chúc Thánh một dòng tu mang dấu ấn văn hóa đậm nét qua nhiều thời đại. Sau khi phát tích tại Hội An với sự kiện T Minh Hải xuất kệ truyền thừa khai sơn chùa Chúc Thánh, thiền phái này đã nhanh chóng truyền rng rãi và phát trin mạnh mẽ tại các tỉnh min Trung, min Nam Việt Nam cả ở nước ngoài.
Kiến trúc các ngôi chùa cổ Hội An nói chung, trong đó điển hình tổ đình, niên đại ra đời khá sớm: vào cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII. Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, thách thức thời gian những lần trùng tu, mặc dù kiến trúc gốc đã ít nhiều thay đổi, thậm chí mai một, biến thiên nhưng các giá trị di sản văn hóa vẫn được bảo tồn. Tại đây còn lưu giữ nhiềuliệu, hiện vật giá trị, phản ánh những nét văn hóa bản địa giao lưu với bên ngoài, tạo nên nét độc đáo cho di sản. Các ngôi chùa những công trình kiến trúc tôn giáo giá trị về nhiều mặt: lịch sử, văn hóa mỹ thuật, kiến trúc... góp phn m phong phú loại hình kiến trúc chùa Phật Hội An. Đây vốn những danh lam nổi tiếng của đất Quảng Nam, thu hút khá đông tín đồ Phật giáoHội An, Đà Nẵng các nơi khác. Tháp mộ các Thiền được xây dựng trong khuôn viên các chùa cũng góp phần làm phong phú đặc điểm kiến trúc của loại hình mộ cổHội An. Kiến trúc chùa phản ánh sự phát triển biến động của vùng đất qua c thời kỳ lịch sử.
Song hành cùng c kiến trúc cổ, c chùa hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật, liệu kinh ch quý, bia đá, đc biệt mộc bn kinh khc gỗ… liên quan đến lịch sử Hội An, đến quá trình du nhập phát trin Pht giáo ở Hi An, Đàng Trong và khu vc. Đây là nguồn tư
 


liệu quý để nghiên cứu về lịch sử, n hóa, kiến trúc, m thuật Phật giáo quá trình hình thành, phát triển của Phật giáoHội An nói riêng, miền Nam Việt Nam nói chung.
Các ngôi chùa trở thành những địa điểm sinh hoạt tôn giáo, góp phần làm phong phú thêm đời sống tôn giáo Hội An. T đình Chúc Thánh tổ đình Phước Lâm đóng vai trò quan trọng như những trung tâm truyền thừa phát triển dòng Lâm Tế Chúc Thánh. T đây, đạo pháp được truyền đi khắp mọi nơi khiến cho môn phái ngày càng phát triển. Ngày nay, các tổ đình trở thành những trung tâm Phật giáo của Hội An, thu hút nhiều môn đồ đến xuất gia học đạo. Nghi lễ thờ cúng tại các di tích mang nhiều nét độc đáo cho thấy sự đa dạng về văn hóa lễ hội của Hội An.
Các di sản văn hóa Phật giáoHội An còn góp phần phản ánh c giai đon lịch sử hình thành, hưng hịnh suy n của vùng đất Hội An – Quảng Nam. Đồng hành cùng những thăng trầm của lịch sử dân tộc lịch sử vùng đất Hội An, Quảng Nam, Phật giáo nói chung đã nhiều đóng góp to lớn đối với Đạo pháp, Dân tộc Văn hóa. Các di sản văn hóa Phật giáo điểm phong phú thêm đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của các cộng đồngdân Hội An.
Ngày nay, Hội An được biết đến không chỉ một Di sản Văn hóa thế giới còn vùng đất còn lưu giữ nhiềuliệu, hiện vật giá trị, phản ánh những nét văn hóa bản địa giao lưu với bên ngoài, tạo nên sự độc đáo cho di sản. Các ngôi chùa cổ bộ phận hữu cấu thành quần thể kiến trúc đô thị cổ Hội An, những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo gắn liền với Phật giáo của cộng đồngdân phố Hội trở thành bộ phận không thể thiếu của văn hóa xứ Quảng.Thông qua những di sản văn hóa Phật giáo đã cho thấy sự ảnh hưởng của Phật giáo được thể hiện khá nét tại cảng thị Hội An thời trung cận đại đô thị cổ Hội An ngày hôm nay. Qua đó đã phn ánh sự phát triển cùng những thành tựu giá trị của Phật giáo Hi An nói riêng cũng như Pht giáo min Trung và Pht giáo Việt Nam nói chung.
  1. PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TẠI HI AN GẮN VỚI BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN N A PHT GIÁO: THỰC TRẠNG NHỮNG ĐỀ XUT
 
 
    1. Thực trạng khai thác giá trị giá trị di sản văn hóa Phật giáo trong phát triển du lịch Hội An thời gian qua
Ngày 4 tháng 12 năm 1999, T chức Văn hóaKhoa học – Giáo dục Liên hiệp quốc UNESCO đã ghi tên Hội An vào danh mục các di sản Văn hóa thế giới. Hiện nay, Hội An được coi một trong những điểm đến du lịch nổi tiếng trong nước thế giới. Thành quả lớn nhất của ngành du lịch Hội An trong những năm qua đã xây dựng phát triển được uy tín thương hiệu Hội An - một điểm đến an toàn, thân thiện. Năm 2013, Hội An được nhiều tổ chức tạp chí du lịch quốc tế bình chọn Thành phố được yêu thích nhất thế giới, Thành phố cảnh quan năm 2013, thành phố du lịch hấp dẫn đứng thứ hai châu Á, 1 trong 7 địa danh đặc sắc nhất Việt Nam. Hội An cũng đã tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch, được du khách yêu thích, tiếp tục được các tổ chức du lịch quốc tế bình chọn thành phố hấp dẫnchâu Á (Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch, Tng cục Du lịch, 2014). Năm 2018, kênh truyn thông lớn nhất thế giới CNN vừa đưa Hội An vào danh sách “16 điểm đến thư giãn tốt nhất thế giới, top 10 điểm đến lãng mạn nhất thế giới” (Tng cục Du lịch Vit Nam, 2018). Cùng với đó, trong “10 đim đếnĐông Nam Á được Unesco công nhận mang giá trị văn hóa lịch sử Hội An”, thánh địa M Sơn Huế của Việt Nam.
Bảo tồn các giá trị di sản văn hóa Phật giáo chính góp phần quan trọng vào việc bảo tồn di sản văn hóa thế giới Hội An. Thành phố Hội An vốn vùng giàu tiềm năng về du lịch, trong đó các di tích lịch sử văn hóa vị trí đặc biệt quan trọng. Qua bao thăng trầm của lịch sử, đến nay các ngôi chùa cổ vẫn còn tồn tại, đồng thời lưu giữ những giá trị kiến trúc di vật đặc sắc. Với những giá trị lịch sử - văn hóa tiêu biểu, một số ngôi chùa cổ như chùa Quan Âm do người Việt người Hoa khởi dựng vào khoảng thế kỷ XVII (Nguyễn Phước Tương, 2004, tr. 218), một thời gian di tích trở thành Bảo tàng Lịch sử - Văn hóa Hội An, ngày nay đã trả về đúng chức năng tín ngưỡng, tôn giáo vốn mở cửa cho du khách tham quan. Các ngôi chùangoại khu phố cổ như chùa Chúc Thánh, Long Tuyền, Phước Lâm, Vn Đức... cũng đang được Thành phố đầu tư tu bổ để, khai thác để trở thành những điểm tham quan du lịch. Mặcvậy, hiện nay số lượng du khách đến với các di tích này còn khá khiêm tốn.
 


Cùng với các chương trình thường xuyên, định kỳ như “Lung linh Hội An” vào 14 âm lịch hằng tháng “Đêm Cù lao” thứ 7 hằng tuần, hiện nay, ngành du lịch Hội An khai trương nhiều sản phẩm du lịch mới đồng thời tổ chức nhiều sự kiện, lễ hội để mời gọi du khách cùng về với Hội An. Hoạt động lễ hội chẳng những thỏa mãn được nhu cầu tâm linh của cộng đồng còn một hoạt động du lịch thu hút đông đảo du khách đến với Hội An, tạo điều kiện để thành phố phát triển. Các nghi lễ Phật giáo theo định kỳ hàng tháng, hàng năm đã giữ một vai trò nhất định trong đời sống kinh tế, văn hóa, hội, đặc biệt việc phát triển du lịch của thành phố Hội An. Một trong số hoạt động quan trọng diễn ra gần đây nhất Tuần lễ kỷ niệm Đức Phật Đản sanh, diễn ra liên tục từ ngày mồng 7-4 ÂL đến ngày 15-4 ÂL, năm 2018, tại phố cổ Hội An, BTS Phật giáo thành phố tổ chức nhiều hoạt động sôi nổi như: lễ rước Phật từ tổ đình Chúc Thánh về lễ đài chính đặt tại chùa Pháp Bảo lễ Tm Phật được diễn ra vào 18 giờ ngày mồng 8-4 ÂL; diễu hành xe đạp diễn ra vào ngày 13-4 ÂL; lễ chính thức Phật đản được diễn ra vào lúc 19 giờ ngày 14-4 ÂL tại lễ đài chính (chùa Pháp Bảo); đêm chung kết hi thi tiếng hát Pht tử TP.Hi An... Ngoài ra còn tổ chức nhiều chương trình ý nghĩa như: ta đàm, thuyết pháp, diễu hành cộ hoa, tham gia đêm phố cổ, từ thiện, phóng sanh đăng… Đại lễ Phật Đản đã thể hiện tinh thần hòa đồng đạo pháp dân tộc; tạo n sự đoàn kết, thể hiện tinh thn a hợp giữa Phật go với quần chúng, thu hút lượng lớn du khách, đặc biệt với bạn bè quốc tế khi đến du lịch tại phố cổ Hội An (Ban TT-TT PG Quảng Nam, 2018).
Mặt khác, cũng giống như những giá trị di sản khác của Hội An, các kiến trúc di vật găn liền với Phật giáo tuy mang nhiều giá trị nhưng cũng đã trải qua nhiều thử thách ác liệt của bom đạn chiến tranh, sự tác động khắc nghiệt của môi trường khí hậu xu thế hiện đại hóa của con người. Đặc biệt hơn, dưới tác động của quá trình đô thị hóa hiện nay, các ngôi chùa cổ cũng đứng trước tình trạng hại, xuống cấp. Tại một số ngôi chùa cổ, cấu kiện kiến trúc g bị mối mọt, trang trí bng hợp chất bị gãy vỡ, bám rêu đen, nhiều hiện vật cổ đã bị hỏng, mất mát theo thời gian; hoạt động dân sinh, kinh doanh du lịch của các hộ dân tác động đến cảnh quan di tích sự trang nghiêm của khu vực thờ cúng... Vn còn ít nhiều biểu hiện không lành mạnh, mê tín dị đoan trong việc thực thành
 


tín ngưỡng, tôn giáo như tục xin xăm, coi ngày, xem tướng số, đốt vàng mã, bán sách, ảnh.... đã tạo nên những ảnh hưởng không tốt đến hoạt động tâm linh của cộng đồng, đến hoạt động văn hóa du lịch. Đc biệt hơn, thực trạng này vẫn còn tồn tạinhững ngôi chùa đã được công nhận di sản. T đó, gây ra không ít ảnh hưởng đến niềm tin của người dân o c giá trị n a tốt đẹp của đo Pht.
Có thể thấy, cùng với cảnh quan di tích kiến trúc các hình thức tín ngưỡng khác, nghi thức thờ cũng, lễ hội Phật giáo đã trở thành nơi thực hành tín ngưỡng quan trọng của cộng đồng điểm tham quan hấp dẫn thu hút khách thập phương. Tuy nhiên, theo thống của thành phố Hội An, các ngôi chùa cổ vẫn chưa được đưa vào danh mục những điểm tham quan chính ( bán ) của Hội An. Mặc dù, hiện nay, Hội An đến hiện 21 điểm tham quan cảnh quan bán .
Ngoài ra, vẫn còn nhiều tồn đọng khác cho các di sản văn hóa Phật giáo Hội An, nhất trên con đường khai thác để phục vụ cho sự phát triển du lịch bền vững của Thành phố. Tại các sở Phật giáo, vẫn còn một số bất cập chưa đồng nhất trong việc quản , xếp hạng, bo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị c di tích hay trong công tác tổ chức các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa, lễ hội...
    1. Một vài đề xuất cho s phát triển du lịch bền vững Hội An gắn với bảo tn phát huy các di sản văn hóa Phật giáo
Phát triển du lịch bền vững của Việt Nam nói chung Hội An nói riêng thực sự một chiến lược lâu dài. Đ phát triển du lịch Hội An phù hợp với tiềm năng thế mạnh vốn , đưa Hội An trở thành một thành phố di sản, phát triển hài hòa với cuộc sống con người, đồng thời bảo tồn được các giá trị văn hóa, cảnh quan môi trường sinh tháimức cao nhất, cần sự phối kết hợp chặt chẽ giữa Nhà nước với c ban nnh cả cộng đồng.
Trước nhất, cần ưu tiên ti đa cho vic bo tn và phát huy tt c giá trị các di sản văn hóađây một thế mạnh đặc biệt của du lịch Hội An. Trong đó, vấn đề bảo tồn các giá trị di sản văn hóa Phật giáo là điển hình.
Trước quá trình đô thị hóa mạnh mẽ như hin nay, từng di tích kiến trúc chùa cổ rất cần được bảo vệ, trân trọng, giữ gìn bằng
 


những giải pháp phù hợp, đồng thời, gắn với hoạt động đầu tư, sửa chữa nâng cấp để phục hồi vẻ đẹp ngun trạng, trở thành nguồn tài nguyên du lịch đc bit trong hành trình khám phá min Trung của du khách. Đó việc tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học để đánh giá đầy đủ, chuẩn xác hơn về giá trị của di sản kiến trúc độc đáo này. Đầu tư kinh phí để tu bổ, cứu nguy khẩn cấp cho những công trình xuống cấp nghiêm trọng, sử dụng hợp lý nguồn vật liệu, kỹ thuật truyền thống đội ngũ cán bộ để phục vụ tu bổ di tích, chống mối mọt, bảo vệ các hiện vật... Hoạt động sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội tại các di tích cần được duy trì. Cần chính sách quản lý linh hoạt, tôn trọng nét đẹp tín ngưỡng tâm linh, xây dựng môi trường n a nh mnh. Nâng cao trách nhiệm của c cấp, các ngành đặc biệt ngành văn hóa, du lịch nhận thức của nhân dân trong công tác quản tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội, nhất những lễ hội đặc sắc của cư dân tại các di tích hay các điểm sinh hoạt công cộng. Di tích luôn phải sự cấu thành tổng hợp của các yếu tố khác nhau, như kiến trúc, hiện vật sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội... Do đó, bên cạnh chiến lược bảo quản di tích cần gắn với tín ngưỡng, tôn go của cư dân, quy hoch lại cảnh quan di tích, khôi phục các loại hình văn hóa nghệ thuật, lễ hội của cộng đồng.... L hội Phật giáo như: L Phật đản, L Vu lan.. đã thu hút đông đảo nhân dân trong vùng các khu vực lân cận về tham dự. Cần nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành đặc biệt ngành văn hóa, du lịch nhận thức của nhân dân trong công tác quản tổ chức lễ hội. Cần nghiên cứu, bảo vệ, phát huy những giá trị tốt đẹp của lễ hội, khôi phục lại các nghi thức các loại hình n a nghệ thuật độc đáo vốn đã tồn tại trước đây, đồng thời giản lược bớt c hoạt động thiếu nh mnh của lễ hội....
Thứ hai, đầu khai thác tiềm năng di sản văn hóa Phật giáo gắn với phát triển du lịch văn hóa tâm linh các loại hình du lịch mới, đặc biệt khác.
“Du lịch văn hóa” (cultural tourism) khái niệm được đặt ra sử dụng rộng rãi từ giữa thế kỷ XX. Theo định nghĩa của T chức du lịch thế giới WTO (World Tourism Organization): Du lch văn hóa những chuyến đi mục đích chính hoặc mục đích bao gồm trong đó thăm các địa điểm, sự kiện mà giá trị văn hóa, lịch sử của chúng khiến chúng trở thành mt phần trong di sản văn hóa của mt
 


cộng đồng. Du lịch văn hóa thực chất chính hình thức du lịch đi ra khỏi nơi cư trú của mình đến một nơi khác để khám phá tham gia những hoạt động văn hóa bao gồm các hoạt động âm nhạc, hội chợ lễ hội, cưới hỏi các nghi lễ, tham quan các nơi ở công trình di tích, tìm hiểu tự nhiên, văn hóa nghệ thuật dân gian (Alexis Papathanassis (2011), tr. 191). Như vậy, thể thấy Du lịch văn hóa loại hình du khách muốn được thẩm nhận bề dày lịch sử văn hóa của một nước, một vùng thông qua các di tích lịch sử, văn hóa, nhng phong tục, tập quán còn hin din(Trn Văn Thông, 2003, tr. 96-97). “Du lịch di sản (heritage tourism) một phn của du lịch văn hóa. Loại hình du lịch này cung cấp một trải nghiệm xác thực về giao tiếp với đời sống, sự kiện hay những thành tựu của các dân tộc trong quá khứ. Ở một nghĩa rộng, điều đó bao gồm đi đến các địa điểm khảo cổ lịch sử, vườn quốc gia, bảo tàng hay những nơi mang ý nghĩa truyền thống dân tộc để trải nghiệm những nền văn hóa khác khám phá nguồn gốc tiền sử lịch sử của họ, những giá trị di sản cả vật thể phi vật thể (x. David Leslie, Marianna Sigala (2005), tr. 5 – 7).
Trong thế giới toàn cu hóa hin nay, các quốc gia trên thế giới nói chung, đặc biệt phương Tây, thường xu hướng du lịch về phương Đông, bởi những nơi này nguồn tài nguyên du lịch văn hóa tâm linh rất lớn. Hoạt động du lịch tại Hội An đã đang diễn ra khá mạnh mẽ, thu hút đông đảo du khách thập phương. Nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của du khách qua các di tích cũng như hoạt động tín ngưỡng, lễ hội rất cao. Hiện tại, một số di sản văn hóa Phật giáo cổ đã được bảo tồn giữ gìn khá tốt. Đây không những các sở thực hành tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng còn những điểm tham quan du lịch. Di sản văn hóa Phật giáo Hội An thực sự đã tạo nên lực hút đối với ngành du lịch, nhất du lịch văn hóa, tâm linh... T đó mang đến cho Thành phố một loại hình du lịch mới độc đáo: du lịch di sản văn hóa. Thế nhưng, trong thời gian qua, ngành du lịch thành phố thật sự vẫn chưa khai thác được thế mnh của c di sản n a Phật giáo.
Thành phố cần tăng cường xây dựng sản phẩm du lịch đa dạng, trong đó, chú trọng đến xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù: loại hình du lịch văn hóa tâm linh, đây lợi thế đặc biệt của Hội An. Căn cứ ban đầu thể thực hiện dựa trên tham quan các di tích kiến
 


trúc tôn giáo, cảm nhận không gian tâm linh của những ngôi chùa trải nghiệm với đời sống sinh hoạt n hóa, tôn giáo, tín ngưỡng ngưỡng đặc sắc của cộng đồng. Với những giá trị đặc trưng cùng vị trí tọa lạc ngay tại trung tâm thành phố, ngành văn hóa du lịch thành phố cần đưa tất cả các di tích Chùa Phật giáo, đặc biệt đã những di tích đã được công nhận di tích cấp quốc gia, di tích cấp tỉnh như: Chùa Quan Âm, chùa Phước Lâm, chùa Vn Đức, chùa Chúc Thánh... trở thành các điểm tham quan của du khách. Các di tích n gắn hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng với du lịch địa phương. Trong tương lai gn, tnh phố cn có chiến lược cụ thể để bảo tồn phát huy những giá trị tốt đẹp của hoạt động lễ hội Phật giáo, đưa lễ hội trở thành một hoạt động du lịch độc đáo, hiện đại của thành phố: du lịch lễ hội.
Thứ ba, cần giải quyết tt mối quan h giữa bảo tồn phát triển.
Theo Ông Đặng Văn Bài - nguyên Cục trưởng Cục Di sản văn hóa, thì: Giải quyết tht thỏa đáng mối quan h giữa kinh tế văn hóa nói chung, giữa bảo tồn phát triển nói riêng vấn đề mang tính toàn cầu, được quan tâmtt cả các quốc gia, đặc biệt đối với các nước đang phát triển hội nhập như Việt Nam ặng Văn Bài, 2017). Hơn nữa, điểm cốt yếu của du lịch văn hóa, du lịch di sản mối quan hệ bộ ba: giáo dục – phát triển – bảo tồn. Phát triển một điểm du lịch kho cổ cần xem xét nhu cầu của địa phương những nh hưởng trên cộng đồng địa phương(Surabhi Srivastava (2015), tr. 35 – 36).
Như vậy, trong chiến lược phát triển du lịch bền vững của Hội An, nhất thiết cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa bảo tồn phát triển. Phát triển quy luật vận động khách quan, một nhu cầu tất yếu của cuộc sống. Bo tồn phát triển hai nhiệm vụ song hành, đồng thời cũng áp lực lớn của chính quyền nhân dân Hội An. Hạt nhân cấu thành đô thị cổ Hội An chính các giá trị kiến trúc đô thị cổ đời sống sinh hoạt thường nhật của cộng đồng dân cư. Do đó cần bảo tồn phát triển cả những vẻ đẹp cổ kính, rêu phong của di sản cũng như nét ứng xử thân thiện, hiếu khách, chuẩn mực văn hóa riêng của người Hội An. Kết hợp bảo tồn tốt kiến trúc đô thị cổ; giữ gìn lối sống truyền thống; đáp ứng cuộc sống hiện tại ngăn chặn biến dạng di tích trong phố cổ Hội An. G trị của các di sản văn hóa Phật giáo Hội An bao gồm cả giá trị vật thể phi vật
 


thể. Do đó trong chiến lược bo tồn, phát huy, cần phải đc biệt chú ý đến cả hai yếu tố này.
Phát triển du lịch Hội An theo định hướng chiến lược: Bảo tồn di sản vững chc phát huy du lịch bền vững. Bo tồn ti đa những giá trị n a vật thể phi vật thể vốn có. Đồng thời, giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa nhiệm vụ bảo tồn di sản với lợi ích mang lại từ việc khai thác, phát huy giá trị của di sản thông qua hoạt động du lịch - dịch vụ. Phát huy các lợi thế của du lịch Hội An: du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch ng nghề gắn với nghỉ dưỡng, giải trí, hội nghị, hội thảo... Tất cả nhằm mục tiêu xây dựng một hình ảnh, thương hiệu Hội An đặc trưng. Thậm chí, tương lai xa hơn, thể quy hoạch quy mô quốc đối với Hội An, như lời Ông Nguyễn C Trung – Giám đốc Trung Tâm Qun lý Bảo tồn Di sn Văn Hóa Hi An, đã phát biểu gần đây:... chúng ta không nên đóng băng giá trị văn hóa vật thể phi vật thể, phải bảo tồn để phát triển. V dài hạn, Hội An cần mt quy hoạchquy mô quốc tế. Quy hoạchđây không ch địa giới hành chính mà quy hoạch tổng th Hội An trong phm vi không gian văn hóa và kinh tế khu vực. (Thế Phong, 2018).
Cuối cùng, trong khai thác các giá trị di sản văn hóa Phật giáo để phát triển du lịch thành phố, cần kết hợp với những giải pháp tổng hợp.
Bảo tồn, phát huy giá trị của các di sản văn hóa Phật giáo cần gắn với sự nhp cuộc của nhà nghiên cứu quảng bá hình nh của di sản ra bên ngoài một cách rộng rãi qua các phương tiện truyền thông như sách báo, tạp chí, internet...; Đầutối đa cho việc nâng cao hơn nữa các yếu tố hạ tầng đô thị, môi trường cảnh quan, đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng c chương trình quảng bá du lịch...; Việc hình thành những tuyến du lịch gồm các cụm công trình chức năng dịch vụ, du lịch các công trình kiến trúc lịch sử, văn hóa sẽ ý nghĩa quan trọng. Với vị trí thuận lợi trung tâm của các tỉnh min Trung, bên cnh vic xây dựng các tuyến du lịch ni thành, Hội An cũng thể triển khai nhiều tuyến du lịch kết nối với tnh phố Đà Nng, Thừa Thiên Huếvà các tỉnh min Trung thông qua các kiến trúc Phật giáo của những nơi này chẳng hạn. Trong đó, vic xây dựng các tuyến đim tham quan di tích văn hóa Phật giáo, các ngôi chùa cổ... chắc chắn sẽ tạo ra các tuyến điểm du lịch mới lý thú hấp dẫn du khách. Tại Hội An – thành phố du lịch nổi tiếng tiềm năng về các giá trị di sản văn hóa Phật giáo,
 


cũng thể xây dựng một bảo tàng văn hóa Phật giáo, như trường hợp bảo tàng văn hóa Phật giáo đầu tiên tại Việt Nam, nằm tại tầng 2 khu chính điện của chùa Quán Thế Âm (đường Vạn Hạnh, quận N Hành Sơn, TP Đà Nẵng) với hơn 500 cổ vật Phật giáo được đưa o sử dụng o cuối năm 2015 (Thanh Tâm, 2018).
Trong qun lý, bảo tồn, phát huy giá trị các cơ svà các hot động Phật giáo, đc biệt trong giải quyết những tồn đọng để khc phục tháo gỡ những khó khăn trước mắt, cần chú trọng phối hợp giữa Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Quảng Nam với y ban Nhân dân TP. Hội An, các ban ngành liên quan, Ban trụ trì các ngôi chùa cả cộng đồng. Tương lai gần, cần tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu khoa học đối với các di sản văn hóa Phật giáo Hội An, triển khai thêm các công trình nghiên cứu khoa học, tổ chức nhiều cuộc hội thảo mang tầm quốc gia quốc tế để nhằm nghiên cứu, làm sáng tỏ đời sống văn hóa, tôn giáo của cư dân Hội An nói chung sự phát triển của Phật giáo Hội An nói riêng. T đó, tìm ra những giải pháp tối ưu nhất cho việc giữ gìn, bảo tồn phát huy các di sản Phật giáo, góp phần vào việc phát triển bền vững du lịch Hội An trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
  1. KẾT LUN
Hội An vùng đất Phật giáo hình thành phát triển khá sớm. Qua bao thăng trầm của lịch sử, nhưng những giá trị di sản n a Phật giáo của Hội An chẳng những bị mai một còn được được bồi đắp phát triển theo thời gian. Các T đình, ngôi chùa vẫn bảo tồn được đường nét kiến trúc cổ kính cùng nhiềuliệu, hiện vật giá trị. Bên cạnh đó, đời sống sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo đa dạng, gắn liền với Phật giáo luôn được cộng đồngdân phố Hội trân trọng gìn giữ. Có thể thấy, kho tàng di sản văn hóa Phật giáo hiện tồn Hội An cùng các giá trị của nó đã góp phần minh chứng cho vị trí quan trọng của Hội An trong quá trình du nhập phát trin Pht giáo ở Đàng Trong trước đây và Pht giáo Vit Nam sau này. Trong giai đoạn hin nay, để bảo tồn và phát huy di sn văn hóa Thế giới Hội An, các giá trị di sản văn hóa Phật giáo rất cần được ng- hiên cứu chuyên sâu, nhằm định hướng tôn tạo khai thác tốt các giá trị di sản. Qua đó, sẽ góp phần vào sự nghiệp phát triển toàn diện kinh tếvăn hóa – du lịch của thành phố Hội An hiện tại cả tương lai. Đc biệt sự phát triển bền vững du lịch của thành phố.
 

 

Tài liệu tham khảo

Alexis Papathanassis, 2011, The Long Tail of Tourism, GableVerlag. Ban quản lý di tích Hội An, 1991, Lý lịch di tích chùa Chúc Thánh,
Bn đánh máy hin lưu tại Trung m qun lý và bảo tồn di sn
văn hóa Hội An.
Ban quản lý di tích Hội An, 1991B, Lý lịch di tích chùa Phước Lâm, Bn đánh máy hin lưu tại Trung m qun lý và bảo tồn di sn văn hóa Hội An.
Ban quản lý di tích Hội An, 1991C, Lý lịch di tích chùa Vạn Đức, Bản đánh máy hin lưu tại Trung m qun lý và bảo tồn di sn văn hóa Hội An.
Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Tng cục Du lịch, Số liu m 2014.
Bùi Quang Thắng, 2005, Văn hóa phi vật th Hội An, Hà Nội: Nhà xuất bn Thế giới, tr. 39.
Cục thống Quảng Nam, 2013, Niên giám thống 2012, Nxb.
Thống , tr.13.
Đặng Văn Bài, 2017, “Bảo tồn di sản văn hóa trong quá trình phát trin, từ http://dch.gov.vn (Cục Di Sn Văn hóa), truy cp ngày 01/09/2018.
Nguyn CTrung, 2007, Di tích - danh thắng Hi An, Qung Nam: Trung m Qun lý Bảo tồn Di tích Hi An.
Nguyễn Phước Tương, 2004, Hội An - Di sản thế giới, Thành phố H C Minh: Nhà xuất bản Văn nghệ.
Surabhi Srivastava, 2015, Archaeotourism: an approach to heritage conservation and area development, GJESS.
T Thị Hoàng Vân, 2007, Di tích kiến trúc Hội An trong tiến trình lịch sử, Hà Nội: Đại học Quốc gia Hà Nội.
Thanh Tâm, 2018, “Khám phá bảo tàng văn hóa Phật giáo đầu tiên Việt Nam”, truy cập từ https://phatgiao.org.vn (Cổng thông tin Phật giáo Việt Nam thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam)



Thế Phong, 2018, “Bảo tồn “di sản sống”: Cách làm từ Hội An”, từ http://baochinhphu.vn (Báo điện tử của Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam), truy cập ngày 10/10/2018.
Trần Ánh, 2005, N gỗ Hội An – Những giá trị giải pháp bảo toàn, Trung m qun lý bảo tồn di tích Hi An.
Trần Đức Anh Sơn, “Môi trường, dòng chảy hội thay đổi văn hóa: sự hình thành của Phật giáo việt nam từ các cảng biển trong những năm 1650 – 1750, nguồn: http://giaodiemon- line.com/2016/12/moitruong.htm (truy cập lúc 07:47 ngày 24/08/2018)
Trần Quốc Vượng, 1991, “ V thế địa- lịch sử bản sắc địa- văn hóa của Hội An”, Đô thị cổ Hội An, Nxb Khoa học hội.
Trn Văn Thông, 2003, Quy hoch du lch: nhng vn đlý luận và thực tiễn, Trường ĐHDL Văn Lang. Khoa Du lịch. Tài liu u nh nội bộ.
Trung m Qun lý Bảo tồn Di tích Hi An, 2008, Nghề truyền thng Hội An,.
y ban nhân dân thành phố Hội An, 2015, Di tích – danh thắng Hội An, Nxb. Đà Nẵng.
David Leslie, Marianna Sigala (2005), International Cultural Tourism, Elsevier.
Cinet, 2018, “Hội An – Điểm đến bình yên, lãng mạn nhất thế giới?, từ http://vietnamtourism.gov.vn (Tng cục Du lịch Vit Nam), (truy cập lúc 08 giờ 00’ ngày 24/02/2019).
https://hoianheritage.net (Trung m Qun lý Bo tồn Di tích Hội An) (truy cập lúc 08 giờ 00’ ngày 24/05/2018).
Ban TT-TT PG Quảng Nam, 2018, “Du khách thích thú khi đến Hội An mùa Pht đn, truy cp từ https://giacngo.vn (o Giác Ng online) (truy cập lúc 08 giờ 00’ ngày 24/01/2019).

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây