21 SỰ LÃNH ĐẠO BẰNG CHÁNH NIỆM VÌ HÒA BÌNH BỀN VỮNG TRONG VĂN HÓA VĂN HỌC PHẬT GIÁO VIỆT NAM (TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN ĐƯƠNG ĐẠI)

Thứ tư - 08/05/2019 19:22
Nguyễn Hữu Sơn
251
 




 
SLÃNH ĐO BNG CNH NIVÌ HÒA BÌNH BỀN VỮNG TRONG VĂN HÓA VĂN HC PHT GIÁO VIT NAM
(TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN ĐƯƠNG ĐI)

Nguyn Hữu Sơn*




 
  1. MĐẦU

Trong lịch svăn hóa – văn học Vit Nam, khái nim Chánh nim” – Chính nim” liên quan đến các vn đề chánh nim vì hòa bình, chánh nim vì hòa bình bn vng và slãnh đo bằng chánh nim vì hòa bình bn vng có một ý nghĩa đc bit. Sách Tđiển
Pht hc Hán – Việt xác định: CHÍNH NIM 正念 (Thut ngữ).
Một trong Bát chánh đo, lìa tà phân bit và nim thực tính của pháp.
Luận Khởi tín: “Nếu tâm tán lon thì nên thu li trụ ở chính niệm”.
Quán kinh sớ của Tuệ Viễn: “Xu hướng nhập thc, gi là Chính niệm
[2, tr.250-254]. Tinh thn Chánh nim” thường được đt trong nhiu mối liên h, tương quan, chi phối khác nhau: Chính báo , Chính định 正定, Chính giác 正覺, Chính kiến 正見, Chính lnh 正令, Chính lun kinh 政論經, Chính nghip 正業, Chính ng正語, Chính nhân 正因, Chính nim 正念, Chính pháp kinh 正法經, Chính pháp luân 正法輪, Chính quả 正果, Chính quán 正觀, Chính s正使, Chính thể quả báo 正體果報, Chính th , Chính tông 正宗, Chính tư duy 正思惟, v.v… Điu này được
quán chiếu và thể hin trước hết ở nhn thức bản cht khái nim, xác định giá trhằng xuyên và mô tả thực tin tiến trình lịch sử của slãnh đo bằng chánh nim vì hòa bình, an bình bn vng trong văn hóa – văn học Pht giáo Vit Nam từ truyn thống đến hin đại

*. PGS. TS., Vin Văn học – Vin Hàn m KHXH Vit Nam, Vit Nam.
 


và đương đi. Vic xác định tư tưởng chánh nim vì hòa bình bn vng thời trung đại được kho sát qua các giai đoạn thượng k(Lý
- Trần, thế kX-XIV), trung k(Lê - Trịnh, thế kXV - nửa đu thế kXVIII) và hkỳ trung đại (Nguyn, nửa cuối thế kXVIII - hết XIX). Tiếp theo, vic nhn din ý thức chánh nim vì hòa bình bn vng thời hin đại và đương đại (thế kXX đến nay) đt cược vào nhim vxác định vai trò và vị trí Pht giáo trên tt cả các lĩnh vực khoa học, chính tr, kinh tế, văn hóa, xã hội và nhn mnh khnăng tp hợp lực lượng, thâm nhp, tác động, chuyn hóa nhn thức và chi phối phương thức tổ chức xã hội con người
  1. NHẬN DIỆN SỰ LÃNH ĐO CNH NIM VÌ HÒA BÌNH BỀN VỮNG TRONG LCH SỬ VĂN HÓA – VĂN HC VÀ PHT GIÁO DÂN TC

Trên nn tảng Pht giáo phát trin từ đu thời Bc thuộc (thế kỷ II), bước sang thời độc lập, tự ch(thế kX), mối liên hệ thần quyn - vương quyn Đại Vit ngày càng được củng cvng chc. Đc đim này thể hin đc bit sâu đm ở thời Lý - Trn (thế kX-XIV), Ngô Quyn, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hòan đến Lý Thái T. Trên ctài liu từ các nguồn sách Thiền uyển tập anh, Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Kiến văn tiểu lục,… nhà Pht học Nguyn Lang xác định: Thế kỷ thmười là thế kVit Nam bt đu thực sgnh được quyn tự chủ… Chính trong thế knày mà đo Phật tích cực đóng góp vào việc dựng nước. Năm 971, vua Ðinh Tiên Hòang định giai cp cho ng sĩ và ban chức ng thống cho Ngô Chân Lưu của thin phái Vô Ngôn Thông, cho ông hiu Khng Vit Thái sư, chính thức nhn Phật go m nguyên tc chỉ đo tâm linh cho chính s. Cũng chính trong thế knày mà vua Lê Ðại Hành mời thin sư Pháp Thun và thin sư Vn Hnh của thin phái TNi Ða Lưu Chi làm cố vn chính s. Các thin sư Khng Vit, Pháp Thun và Vn Hnh cũng đã tiếp tục giúp vua Lý Thái Ttrong thế kkế tiếp” [4, tr.230] (NHS nhấn mạnh)…

Đt trong tương quan chung, nếu như Lý Thái Tcó Thiên đô chiếu (Chiếu dời đô) lưu danh thiên cvà hòan tt công cuộc thiết lp vương triu Lý thì đệ nhị Lý Thái Tông – người cùng tuổi với kinh thành Thăng Long - mới chính là người đóng vai trò khởi đu cho mu tác gia hòang đế - thin sư - thi sĩ nối dài suốt cả bốn thế
 


kỷ thời Lý – Trần. Trên tư cách hòang đế, ông chưa đi tu như nhiu vua Trần sau này nhưng nhn thức và công vic hoằng dương Pht giáo đủ để coi ông như một cư sĩ, một tín đồ Pht giáo thun thành. Tác phm của ông vừa có nhng bài chiếu, lời n lun in đm du n văn học chức năng vừa có nhng bài k, truy tán bằng thơ chuyn tải được nhng nội dung thiết yếu của Pht giáo. Với mức độ đm nht khác nhau, nối tiếp Lý Thái Tông, các tác gia Lý Tnh Tông, Lý Nhân Tông cũng đu có thể được xếp vào loại hình tác gia, hòang đế, thin sư, để rồi đến triu Trần, loại hình tác gia này phát trin và đt đến độ ổn định, đin hình... Trên thực tế, theo nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vương, có thể nhn din vTrần Nhân Tông (1258-1308) như một nhân vt lịch sử, một mu hình hòang đế phương Đông đt tới nhng phm cht cơ bản của đấng minh quân chí hiếu - chí nhân - chí minh - chí thành - chí kínhgn với vị thế thin sư - nhà truyn giáo và tư cách thi nhân - người kiến to nhng giá trvăn hóa [14, tr.53-70]. Trong mối duyên lành với nhà Pht, Trần Nhân Tông có điu kin thun lợi bởi vượt lên giữa nhng cuộc chiến chống xâm lược ác lit là một thời Pht giáo hưng thịnh. Trực tiếp hơn, Trần Nhân Tông từng được tiếp nhn tư tưởng Pht giáo từ ông nội Trần Thái Tông (1218-1277), vua cha Trần Tnh Tông (1240-1290) và đc bit chịu nh hưởng sâu đm từ Tuệ Trung Thượng sĩ (1230-1291)... Slãnh đo bằng chánh nim Pht giáo vì hòa bình bn vng ở Trần Nhân Tông thể hin sâu sc cả trong tinh thn nhp thế, ý thức chính danh hòang đế quyết thắng gic Nguyên; khi đt nước hòa bình thì nhường ngôi và chính giác thức tỉnh chọn đường tu hành, chính tông để lp ra thin phái Trúc Lâm Yên Tử nội sinh trong Pht giáo dân tộc; thực hin chính lun kinh, chính ngữ, chính tư duy để soạn Thượng sĩ hành trng (Hành trạng của Thượng sĩ Tuệ Trung) và sáng tác thơ văn. Theo một chiu hướng khác, thy Thích Thanh Từ đi sâu phân tích đc tính chánh nim và nhng đóng góp của Hòang đế - Thin sư - Thi sĩ Trần Nhân Tông: Quyn Hai quãng đời của Sơ TTrúc Lâm do chúng tôi giảng giải để nói lên một con người siêu vit của dân tộc Vit Nam... Con người của Sơ TTrúc Lâm làm vic gì phải đến nơi đến chốn, đt kết quả viên mãn mới thôi. Đánh gic khi nào quân xâm lăng ra khỏi nước mới dừng. Nghiên cứu Pht pháp đến chỗ uyên thâm nht mới tha mãn. Tu hành đến ngđo mới đi hoằng hóa. Tht là một tm gương sáng ngời để cho kẻ đời, người đo học
 


hỏi theo” [13, tr.5-6]. Có thể nói đây chính là một cách nhn din vị thế tinh thn lãnh đo bằng chánh nim của Trần Nhân Tông cả trên vai trò vương quyn và thn quyn, khi làm vua cũng như khi trở thành đệ nht tổ thin phái Trúc Lâm.
Nối tiếp vương triu Trần, vào giai đoạn trung k(thời Lê
  • Trịnh, thế kXV – giữa thế kXVIII), lịch sxã hội Vit Nam chuyn sang trang mới với sự thắng thế căn bản của mô hình quân chủ Nho giáo, từ đó xut hin loại hình tác gia hòang đế gn với slãnh đo quốc gia kiu mới và thể hin mối quan hệ vương quyn – thn quyn kiu mới. Trong bối cnh độc tôn Nho giáo nhưng Pht giáo vn có nn tảng vng chc với cu trúc công thức tinh thn Đa
  • văn hóa “Đất vua chùa làng. Nhiu nho sĩ xut sc được đào luyn nơi cửa Khổng sân Trình vn khế hợp với giá trị tinh thn Pht giáo, vn “Dĩ Nho nhp Thích. Bằng sự chng nghim trong trường đời và sở học uyên thâm, Nguyn Trãi (1380-1442) đã có sgp gỡ nhng giá trị nhân bản căn cốt trong tư tưởng Pht giáo, thể hin một cách hình dung về cuộc đời tương đồng với quan nim của Pht giáo. Tinh thn chánh nim của Nguyn Trãi thể hin ở nim tin các giá trị nhân văn, các chun mực và nim tin về quốc gia, dân tộc và mọi chúng sinh [10, tr.75-80]. Khác bit hơn, vua Lê Tnh Tông (1442-1497) bộc lộ chánh nim với tt cả sự siêng năng, bổn phn và trách nhiệm: Lòng vì thiên hnhng sơ âu,/ Thay vic trời m trđâu./ Trng dời canh còn đc sách,/ Chng xế ng chửa thôi chầu (Tthuật)Đy cao hơn là nhng cm xúc của người lữ thứ, khi khỏi bnh thy lòng thư thái mà chợt như đốn ngra cái lẽ chân lỹ chánh nim thường tình: Chỉ kiến phương niên bt i hòan (Chỉ thy tuổi xuân kng bao giờ trli), khi khác là sự đối din với chính nỗi lòng mình, khép cửa tâm tư và thy cái đp của thực tại đã hin hữu thành cái ngoài ta”: Tiếng chim oanh lanh lảnh hót, át tiếng mi vt - Thhi chim mang a xuân đến cho ai vậy? Oanh thanh huyên vt ngoi – Tá vn vthuỳ xuân” (Xn nht bnh khởi, bài 2). Rồi đó ông tìm đến nhà chùa, quán đo am thanh cnh vắng, đàm đo với sư tăng và có tới my chục bài thơ trong một đề mục Đđạo nhân vân thy cư (Đề nơi ở chốn mây nước của nhà Đạo sĩ). Cho đến tháng Giêng năm Đinh Tỵ (1497), Lê Tnh Tông ốm nặng. Biết khó qua khỏi, ông bèn tựa ngọc kỷ mnh cho Hòang Thái tử
lên nối ngôi và làm bài thơ Tthut:
 


Ngũ thập niên hoa tht xích khu,
Cương trường như thiết khước thành nhu. Phong xuy song ngoi hòang hoa tạ,
Lộ p đình tiền lc liễu cù.
Bích hán vọng cùng vân diểu diểu, Hòang lương mng tỉnh ddu du. Bng lai sơn thượng âm dung đon, Băng ngc u hn nhập mng vô?
Bn dịch thơ: By thước thân kia đã ngũ tuần,/ Lòng như st cng cũng mềm dần./ Grung làm héo hoa ngoài cửa,/ Sương giãi thêm gầy liễu trước sân./ Tng bước trông mây xa thm thm,/ Kê vàng tnh gic nhng phân vân./ Âm dương cách biệt non Bồng vng,/ Băng ngc hn thng nhập mộng chăng?

Có thể coi đây là lời cm thán của người đang đối din với hư vô, vừa bàng hòang trước cái dằng dc vô cùng vô tn của thời gian, vừa nuối tiếc một thời hin hữu trên cõi đời đã dn sp qua đi. Ở đây kng còn ngôi vHòang đế, chỉ có một tiếng thơ nức nở, xa xót trước quy lut của to hóa, sáng trong và chan chứa tình người. Mới hay, đức vua Lê Tnh Tông gn với một thời thịnh trđã lưu lại cho lịch sử hình nh vương triu Hng Đức vàng son và dòng thơ quan phương của ông gn với mu hình vua sáng tôi hin” hiếm thy trong thời đại quân chủ Nho giáo. Có thể nói sự đồng vng giữa tiếng thơ chính nim thăng hoa qua mọi chức quyn, thăng hoa qua mọi cách ngăn thời đi, giao hòa với tình đời – tình người
con người nhân văn muôn thuở đã giúp Lê Tnh Tông từng có lúc tôn sùng Nho giáo một chiu thì đến cuối đời lại càng biết dung hòa với Pht giáo trong cách điu hành vương triu, đt nước cũng như quân bình tâm thế con người cá nhân mình [7, tr.339-347]. Các chúa Nguyn và Trịnh cũng thể hin tinh thn chánh nim cao, coi Pht giáo là một phương din nhân văn, tu dưỡng đo lý, hướng đến chun mực giá trị trong sách lược chăn dân, điu hành xã hội. Có thể thy sphục hưng các môn phái Trúc Lâm, khnăng tiếp nhn, tiếp biến, phát trin các môn phái Lâm Tế, Tào Đng đã to đà sinh khí cho một giai đoạn kết hợp vương quyn – thn quyn (Nho – Pht) “Một tng hợp Nho Pht độc đáo” [5, tr.273-282] thực sự mới m.
 


Đến giai đoạn hkỳ trung đại (thời Nguyn, cuối thế kXVIII
– hết thế kXIX), vượt qua các cuộc nội chiến, tinh thn chánh
nim Pht giáo ngày càng có tính độc lp hơn và được ứng dụng
như một phép cứu rỗi m linh con người và xử thế trnước an dân.
Trước hết, các vua triu Nguyn như Gia Long (1762-1820), Minh
Mạng (1791-1841), Thiu Trị (1807-1847), Tự Đức (1829-1883)
đu quan tâm đến Pht giáo, coi trng sư sãi, chú ý sc cp xây mới
và tôn to các chùa Thiên Mụ, Quốc Ân, Tnh Duyên, Diu Đế,
Linh Hu, Quang Long (Huế), Tam Thai, ng Chân – Ngũ Hành
Sơn à Nẵng), Khai Tường (Gia Định), Trấn Quốc, Diên Hựu
(Hà Ni)… Xin dn hai trường hợp vua triu Nguyn gn bó, coi
trng và chịu nh hưởng sâu đm tư tưởng Pht giáo. Thứ nht, vua Minh Mạng ghi câu đối trước chùa Tnh Duyên: 聖即是佛/ 即是聖 (Tnh tức thị Pht, Pht tức thị Tnh) – một cách vn dụng uyn chuyn nhng nguyên lý kinh đin của Pht giáo: 即是空, 空即是色 (Sắc tức thkng, kng tức thsc), 心即 是佛, 佛即是心 (Tâm tức thị Pht, Pht tức thtâm). Thhai,
vua Thiu Trvn dụng li chơi chữ đề trong văn bia chùa Tnh Duyên với ngụ ý đề cao cả Nho giáo và Pht giáo: 聖緣普濟咸 歸善,/ 佛蹟增光自有人 (Duyên thánh nhân lan rng dn dt
về no thin,/ Dấu Pht tngày càng sáng là từ lòng người), đồng thời trin khai sc nét tinh thn Cư Nho mộ Thích” trong văn bia
chùa  Diu  Đế:  有請應當誌慶崇徽永留勝蹟.因念大學之道
誠正格致修齊治平在止於至善雖象教虛無亦勸人為善
妨于王道者哉 (Có lời thỉnh cu ghi du điu tốt đp để giữ lại
nơi thắng tích. Nhân vy mà nhớ lại đo của sách Đi hc là thành ý,
chính tâm, cách vt, trí tri, tu thân, tgia, trị quốc, bình thiên hvà
dừng lại ở chỗ chí thin, tuy đo Pht vốn chủ trương hư vô nhưng
đu khuyên người làm điu thin, vy thì có gì làm hại đến vương
đo đâu!) [1] … Thực tế trên cho thy ý thức chánh nim Pht
giáo đã được chuyn hóa, dn nhp phù hợp với xu thế thực học
của Nho giáo, giúp cho vương quyn gn kết với thn quyn, vương
triu thâu thái được các giá trị nhân văn của Pht giáo trong ý thức
tu dưỡng tâm thin và điu hành chính sự.

Trong bước chuyn tiếp, nhà nho thun thành Ngô Thì Nhm - Hải Lượng Đại thin sư (1746-1803) cùng một sngười khác trong thời kphục hưng Pht giáo lại hướng tới quan đim dung hợp Tam giáo trong Trúc Lâm tông chnguyên thanh [6, tr.1829-1830]… Với
 


đại thi hào Nguyn Du (1765-1820), dường như tư cht thi sĩ đã sớm định hình trong ông một cách cm nhn về cuộc đời, sớm ý thức vsphn và stồn tại của mỗi thân phn con người trong cõi đời mong manh, chp chờn bt định. Nỗi đau đời, thương đời tiếp tục theo đuổi ông trong nhng ngày ra làm quan và thể hin bàng bc trong cả thơ chHán, kit tác Truyện Kiều [3] cũng như Văn chiêu hn. Được làm quan với thường nhân ai kia là cả một nim khc khoi, một dịp vinh thân và cơ may tiến thân. Riêng với Nguyn Du, ông ngại ngn và cm nhn nhiu hơn ở phía mt trái, nhng hệ lu, ràng buộc, mt tự do. Nguyn Du nhn mnh sự đối lp giữa hôm nay và hôm qua, giữa vic làm quan và cuộc sng tự ti, giữa sự bó buộc và tháng ngày lãng du:
Ththân dĩ tác phàn lung vt, Hà xứ trùng tm hãn mn du?
(Tân thu ngu hng) (Tn này đã là vt trong lồng ri,
Còn tìm đâu được cuộc đời png khoáng tự do nữa?)
(Đầu mùa thu ngu hng)

Đặc bit khi viết về chiến tranh, ông mng vui khi đt nước thu về một mối, gián cách ngay cả với nhng ta - địch, chính - phn, thắng - thua mà đề cao đức hiếu sinh, vẻ đp hồn tn của to hóa và cuộc sng thanh bình:
Nam Bc xa thư khánh đại đng, Pháo đài hư thiết ththành đông. Sơn băng thch liệt thành do tráng, Hán đot Tn tranh sdĩ không. Tc giđại khuy sinh vt đc,
Nhĩ lai bt quí sát nhân công. Thanh bình thời tiết vô tranh chiến, Ngưu đc ưu schính trọng nông.
(Pháo đài)

Bn dịch: Nam bc, xe và chviết, mng đã giống nhau,/ Pháo đài bkhông ở phía đông thành đất./ Núi lở đá tan, nhưng bức thành còn
 


vng,/ Nhà Hán nhà Tn tranh giành nhau, chuyện đã qua./ Trước kia thương tn rt nhiều đến đức muôn vt sinh tn,/ Giờ đây không quí cái công giết người nữa./ Trong bui thanh bình không có chiến tranh,/ Trâu bò cày bừa, chính giờ là lúc coi trọng nghnông).

Phải ghi nhn rằng tâm thức Nhĩ lai bt quí sát nhân công (Giờ đây kng quí cái công giết người na) của Nguyn Du tht vô ng siêu vit, hin đi, đt đến tm cao giá trị nhân văn muôn thuở, đt tới tính Pht, tinh thn yêu chuộng hòa bình của bc hin triết, minh triết. Có thể nói, nếu các bc vua chúa, các nhà lãnh đo ckim quán chiếu được tinh thn chánh nim vì hòa bình như Nguyn Du đã nêu thì thế giới đã trở nên an lc hơn, bớt đi biết bao khổ đau, núi xương sông máu.

Một trường hợp khác là danh Nho tài tử Nguyn Công Tr (1789-1858) mà ở chặng cuối cuộc đời, dường như ông đã chuyn tâm, có đọc sách nhà Pht, mong tìm được nim thích thảng nơi cửa chùa, có ý nguyn tôn to nhà chùa, gn bó với sân chùa cnh Pht. Nhà nghiên cứu Lê Thước xác định: Năm TĐức thhai (1849), cvào ở mt i chùa trên núi Cảm Sơn, thuc xã Đi Ni, gn tỉnh lHà Tĩnh bây giờ… Thường khi c quan chức trong kinh ngoài quận đi qua vlại, ai ng lên núi vào chùa, hi han thăm viếng, du xe chân ngựa c nào ng tp nập ở trước cửa ngoài... Năm thứ tư (1851), cra chơi Bc k, c trvề tu sửa chùa Viên Quang và chùa Trung Phu tại ng chính quán ri nhân m nhà bên cạnh chùa mà ở” [12, tr.22- 23]... Trong sáng tác của nhà Nho Nguyn Công Trứ cũng thy thp thóang từ ngữ biu đt vPht, Di đà, Như Lai, kiếp, duyên, tiền duyên, chùa, tiếng chng và nhng cm nhn về cuộc đời qua nhanh, về nỗi Đời người thm thóat, về nhng bâng khuâng c vgià, vtâm trạng “Thoát ng danh lợivà đến bản tng kết “By mươi tuổi tự th, ông mới thực sự trải nghim qui lut cuộc sng và ngra cái điu hữu lý sc sc kng kng” trong cốt lõi tinh thn nhà Pht... Trên tt c, nhà nho thun thành Nguyn Công Trđã có được bài thơ Vịnh Pht thực sự độc đáo: Thuyền từ mt lá vơi vơi,/ Bể trn chở biết my người trm luânBài thơ thể hin rõ cách cm, cách hiu của Nguyn Công TrvPht giáo. Trước hết, đây là cách hiu của một người có vốn kiến văn sâu rng, bao quát nhiu phương din nội dung tư tưởng văn hóa, kể từ Pht học đến Nho học, Đạo học và chính Pht giáo - xã hội sử. Nội dung bài thơ kng chỉ biu
 


cm tư tưởng Pht giáo mà luôn mở rng so sánh, đối sánh với các hệ phái tư tưởng khác - chyếu với Nho học. Điu này khiến cho sc thái chủ thể tác giả thiên về tiếng nói của người ngoài cuộc, ngoại đo nhn xét vPht giáo. Thông qua tác phm, Nguyn Công Tr trình bày nhng ý nim cơ bản trong tư tưởng và giáo lý nhà Pht như thuyền từ (thuyn từ bi, ân đức), bể trn (bể kh, trần cnh, cõi trần), người trm luân (người chìm đm trong bể kh), cõi tĩnh (Niết n), kiến tính (kiến tính thành Pht), hư vô (thực thể của vô vt, vô vi tự nhiên), bát khang trang (bát nhà chùa, nhà Pht), luân hi (vòng sinh tử), nghiệp duyên (nhân duyên, duyên kiếp), N Lai (chân thân Như Lai, đức Pht)... Trên cơ sở nhn thức khung cốt tư tưởng Pht giáo, nhà nho Nguyn Công Trứ đem chiếu ứng chkiến tínhvới sut tínhvà cho rằng chúng có nội hàm tư tưởng, nội dung và ý nghĩa như nhau. Nói khác đi, chúng có tính tương đồng, nghĩa là kiến tính” của Pht giáo cũng giống như sut tính” trong Nho giáo!? Trên thực tế, kiến tính” cũng gn với chánh nim, có nghĩa là thy rõ được Pht tính trong mình. Trong thực cht, kiến tínhvà sut tínhcó vẻ tương đồng vphương thức coi trng sự hồn tn của bản ngã nhưng lại rt khác nhau về tính mục đích: một bên hướng đến khnăng chuyn hóa về cht, hướng đến hòa đồng với tính Pht, một bên dừng lại ở tính khc k, vk, hòan thin chính mình. Rõ ràng hai khái nim này có nhng đim khác bit, kng thể tương đồng như nhau, kcó thể qui về một mối. Trong tư cách nhà nho, Nguyn Công Trứ tiếp tục đo đếm Pht giáo theo quan đim Nho giáo, qui theo cách hiu của Nho giáo, coi Pht cũng dựa theo Nho, đu có nguồn gốc từ thiên lý(lẽ tri). Từ đim nhìn và thước đo Nho giáo, Nguyn Công Trứ duy lý quan sát thy sức mnh chánh nim trường tồn của Pht giáo bt chp thể chế xã hội, bt chp vic có người như Hàn Dũ (768-824) từng dâng biu xin vua nhà Đường bỏ đo Pht, buộc thy chùa vlàm dân, đốt sách Pht và ly chùa làm nhà ở: Kẻ muốn đem nhân kỳ nhân, ha kỳ thư, lư kỳ cư,/ Song đạo thng hi rành rành công cứ. Vy mà đo thống này vn được muôn người “công c, tin cy noi theo. Rút cuộc, Nguyn Công Trứ thừa nhn căn trần còn nặng, còn mơ h, còn nhiu lm lc và đích đến cõi Pht Như Lai còn xa vời phía trước: Vì chưa thóat lòng trn mắt tc,/ Nên mơ ng mt bước mt khơi./ Khiến cho phiền muộn Như Lai!... Với một nhà Nho hành đo ngang tàng như Nguyn Công Trứ, chỉ nội một vic hồi thủ,
 


hồi đu, hồi hướng đáo bỉ ngn” cũng chng tsức hp dn của sức mnh chánh nim Pht giáo [7, tr.42-54].

Nguyn Công Trđã gn bó gn trọn cuộc đời với  cửa Khổng sân Trình và con đường quan chức, ông chỉ có thể đến với nguồn sáng chánh nim Pht giáo bằng tt cả vốn tri thức và nhng giới hn thực có của đời mình. Nguyn Công Trứ căn bản là nhà Nho hành đo nhưng hin tượng dĩ Nho nhp Thích” ở ông càng soi sáng thêm giá trị nhân văn và chiu sâu minh triết chánh nim Pht giáo, khnăng hòa gii, dung np của Pht giáo đối với các nguồn sáng tư tưởng khác. Đt trong thế ứng xvới Pht giáo, hin tượng nhà nho Nguyn Công Trứ tiếp tục khẳng định tính qui lut của đời sng tinh thn chánh nim giai đoạn nửa cuối thế kXVIII đến hết thế kXIX, xu thế vừa phân hóa vừa đan xen, giao hòa một cách hòa bình giữa các hệ phái tư tưởng, đc bit giữa Nho giáo và Pht giáo...
  1. SỰ LÃNH ĐO CNH NIM VÌ HÒA BÌNH BN VỮNG THEO TINH THẦN PHT GIÁO Ở VIT NAM THỜI HIỆN ĐI VÀ ĐƯƠNG ĐI (THKXX ĐN NAY)

Chúng sinh đu biết rằng, kng có gì khác hơn, đo Pht cũng do chính con người sáng to nên, do con người to lp các tổ chức Pht đn, xây dựng các hệ thống giáo lý kinh - lut - tạng. Kng có gì khác hơn, Pht giáo cũng nhm tới lý giải nhng thách đố triết học muôn thuở như bản cht ssng, lẽ sinh tử, con người đến từ đâu và đi vđâu, con người là gì giữa cõi tm tm năm và trước cái vô cùng vô tn của kng gian và thời gian. Kng có gì khác hơn, Pht giáo cũng nhm tới giải quyết mối quan hệ giữa khnăng nhn thức và phương tin hành đo, giữa nhng mâu thun trong xã hội và mơ ước đt tới hnh phúc trước thách thức nhng tham, sân, si, ái, , h, n” của cuộc đời và trong vòng chuyn hóa thời gian Quá khứ - Hin tại - Vlai của mọi kiếp chúng sinh. Kng có gì khác hơn, Pht giáo cũng là một bộ phn hin hữu trong cu trúc văn hóa
- xã hội, trong lịch sphát trin tư tưởng và nn văn minh của xã hội loài người và tương đồng với nhng cách hình dung khác, nhng hệ phái tư tưởng và giáo phái khác [9, tr.456-466] … Đây chính là cơ sở triết học để tìm hiu slãnh đo bằng chánh nim Pht giáo vì hòa bình bn vng ở Vit Nam thời hin đi, từ khoảng đu thế k XX đến nay.
 


Bước sang thế kXX, xã hội Vit Nam phát trin mnh mẽ trong xu thế canh tân, hội nhp Thổ np Á – Âu, điu hòa tân cựuvà hin đại hóa theo quy lut chung của cả nhân loi. Điu khác bit ở Vit Nam là sphát trin nửa đu thế kXX gn với các cuộc khai thác thuộc đa của nước mẹ Pháp, thời gian còn lại cho đến gn cuối thế klà các cuộc đu tranh giải png dân tộc, bo vđt nước trường kvà ác lit. Chính trong bối cnh đó mà ý thức nhp thế, lý tưởng chánh nim hòa bình và slãnh đo bằng chánh nim vì hòa bình đã trở thành ngọn ctp hợp lực lượng Pht giáo gn với sphn quốc gia, dân tộc qua các chặng đường lịch sử. Đối din với thử thách của thời cuộc bị xem là mt vn, Pht giáo giai đoạn nửa đu thế kXX tiếp tục tồn tại và phát trin, đc bit với phong trào chn hưng, hoằng dương Pht giáo din ra rng khp trong cả nước với sra đời các tổ chức tăng đn gn với các cơ quan ngôn lun báo chí (Pp âm, Pht go Tân thanh nn, Khai hóa nht báo, Từ bi âm, Tam bo, Bồ đề tp chí, Duy m Pht hc, Bác nhã âm, Anh sáng Pht pp, Pp âm Pht hc, Tp chí Niết bàn, Tp chí Tiến hóa, Pht pp chNiết bàn, Tquang Pht hc, Viên âm, Đuc tuệ, Tiếng chng sớm, Liên hoa…), xut hin nhiu cuộc đăng đàn thuyết pháp, din thuyết, tho lun và xut bản các công trình kho cứu, dịch thut, giới thiu… Phong trào chn hưng Pht giáo đã góp phn hồi hướng, thức tỉnh chánh nim về hòa bình, an lc và đề xut, đt ra yêu cu vslãnh đo, tổ chức xã hội bằng chánh nim vì hòa bình bn vng. Nghịch lý là ở ch, chánh nim vì hòa bình lại phải chịu thách thức trước vn đề độc lp dân tộc, chiến tranh, bt bình đẳng, an sinh, đói nghèo, lc hu. Chính vì thế mà có lúc lâm tình thế, cả dân tộc và ngay cả nhà sư cũng quyết lit Cởi áo cà sa khoác chiến bào, Pht hội và chúng tăng phải đứng lên chống chính quyn họ Ngô (1963) và rực sáng nhng ngọn lửa Thích Qung Đức, Thanh Tu, Diu Quang, Tiêu Diêu, Qung Hương, Thin Mỹ tự thiêu vì một chánh nim hòa bình cho tương lai đt nước.

Tính từ sau 1975, nht là từ Đại hội đại biu thống nht Pht giáo (tháng 11-1981) với vic thành lp Giáo hội Pht giáo Vit Namđã to điu kin thun lợi cho chánh nim Pht giáo đồng hành cùng dân tộc, hoằng dương Pht pháp, đáp ứng nguyn vng của các tầng lớp Tăng Ni, Pht tử. Kể từ đó đến nay, hệ thống chùa chin trong cả nước được coi trng ở tm mức di tích lịch sử - văn
 


hóa - danh lam thắng cnh đã được qui hoch, tôn to, xây dựng và phát trin. Điu đó cho thy ý nghĩa văn hóa của hot động Pht giáo đã ngày càng được xã hội thừa nhn và tác động tích cực trlại đời sng xã hội. Một điu quan trng khác nữa giữ vai trò quyết định sức sng và quy định chiu hướng vn động của Pht giáo chính là khnăng nâng cao nhn thức và qui tụ lương tri tâm linh con người hướng về nhng giá trị nhân bản của tinh thn chánh nim Pht giáo. Rõ ràng Pht giáo kng thể làm thay các công vic thuộc v thể chế xã hội, sự qun lý hành chính, pháp lut, giáo dục... nhưng hòan tn có thể tham gia điu chỉnh khnăng nhn thức, khuyến khích điu thin và ngăn chn cái ác, lòng tham. Tinh thn chánh nim Pht giáo đã từng nhun thm trong lời nhc Trịnh Công Sơn (1939-2001), từng hin din man mác trong tranh Bửu Chỉ (1948- 2002), từng được nhà văn Nguyn Huy Thip thức nhn: Bt đu từ truyện ngn Sang sông trđi, văn ca tôi có gì đy có ảnh hưởng Pht giáo, nó ngm ngm trong từng trang văn, nhiều truyện rt khó viết như Ông ng bà ng, Sng dễ lắm, Thcẩm” [11]... Đng thời với hình thức đi lễ chùa, hội chùa, hành hương thăm xPht, lễ báo hiếu, lễ xá ti, thp hương tun rằm mùng một mang ý nghĩa tâm linh đã được kết hợp, chuyn hóa bằng hot động từ thin, cúng dường, phát tâm cứu giúp người nghèo, kể cả nhng vn đề an sinh xã hội (bo vệ môi trường, kế hoch hóa gia đình, png chống tnn xã hội)... Điu quan trng hơn, nhng khnăng thp sáng hin hữu tinh thn chánh nim Pht ở mỗi cá nhân kng đợi đến khi gp vn hn, khi tuổi đã sang chiu, vãn chiu, xế bóng, gn cn lúc cuối đời mới biết sám hối, tỉnh ngmà cn được thức nhn ngay từ thời tuổi tr, từ lúc đang còn sức mnh, lúc đang ở đỉnh cao quyn lực, tột đỉnh vinh quang. Con người, đc bit người lãnh đo, giới lãnh đo và thể chế lãnh đo nói chung, cn thu hiu được sức mnh cũng như bản cht nhng giới hn và shữu hn của đời người mới có thể giải thóat khỏi nhng tham dục vt cht, ác tâm, vk... Kng còn con đường nào khác, chỉ khi người lãnh đo, giới lãnh đo và thể chế lãnh đo thức nhn được nhng him hoạ của tư dục, cái ác, qui lut nhân quả và hướng về điu thin thì khi đó mới tìm ra nguồn sáng chân lý giải thóat cho mỗi cá nhân cũng như mọi kiếp chúng sinh. Đđt được điu này, người lãnh đo, giới lãnh đo và thể chế lãnh đo cn học hỏi, trải nghim nhng bài học kinh nghim từ trong lịch sử, từ các vương triu và soi chiếu qua các
 


tm gương hoàng đế Trần Thái Tông – Tnh Tông - Nhân Tông, Lê Tnh Tông, Gia Long, Minh Mạng, Thiu TrMt khác, khi đề cao tư duy lãnh đo bằng chánh nim vì hòa bình, vì san bình, hòa hợp, giao lưu, hội nhp, ổn định, hợp tác, phồn vinh, phát trinng tức là cn nâng cao ý thức giác ng, tự giác, giác tha, kịp thời lên tiếng pphán tư tưởng và hành động phi chánh nim, phn tiến b, phn nhân văn, gây bt hòa, chia r. Một năng lực nhn thức và thực hành tôn giáo đt tới cht lượng đời sng tâm linh như thế chính là nhng giá trị nhân văn đích thực, góp phn kiến to tâm thế lãnh đo bằng chánh nim Pht giáo vì hòa bình bn vng, có trách nhim với nhân dân, đt nước và chúng sinh tn thế giới.
  1. KT LUN

Đng hành cùng lịch sdân tộc, Pht giáo Vit Nam đã góp phn xác lp sức mnh lãnh đo bằng chánh nim vì hòa bình và được thể hin sc nét trong đời sng văn hóa – văn học từ truyn thống đến hin đại và đương đi. Đến ngày nay, sức mnh truyn thống lãnh đo bằng chánh nim vì hòa bình vn tiếp tục ta sáng trên cả hai phương din: xác định quan nim tư duy chánh nim (lẽ phi, lý tưởng, chân lý, chính nghĩa, chun mực, cơ sgiới lut, pháp lut, qui chế, qui định…) và bồi dưỡng, xây dựng quyn năng lãnh đo bằng chánh nim vì hòa bình bn vng (ý thức vn dụng, thực thi an sinh xã hội, mục đích độc lp và liên lp, hợp tác và phát trin…). Một thời đại mới đang mở ra cùng với nhng thách thức của hội nhp và phát trin, lợi ích cá nhân và cng đồng, phm cht vị tha và cnh tranh thị trường đòi hỏi snăng động của tinh thn chánh nim Pht giáo, yêu cu dung hợp, phát huy nhng giá trị nhân bản chánh nim vì hòa bình và slãnh đo bằng chánh nim vì hòa bình bn vng.









***



 

Tài liệu tham kho

Phan Đăng (2007), Quan niệm Cư Nho mộ Thích của c vua chúa nhà Nguyễn qua văn bia chùa Huế. Nguồn: www.hannom.org. vn/detail.asp?param=660&Catid=6
Giáo hội Pht giáo Vit Nam (1992), Tđiển Pht hc Hán – Việt, Tp I. Phân vin Nghiên cứu Pht học Xb, Hà Ni.
Nht Hnh (2005), Thmt bè lau. Nxb. Tôn giáo, Hà Ni, 262 trang.
Nguyn Lang (1994), Việt Nam Pht go sluận, Tp I. Tái bản.
Nxb. Văn học, Hà Ni.
Nguyn Lang (1994), Việt Nam Pht go sluận, Tp II. Tái bản.
Nxb. Văn học, Hà Ni.
Xin xem Nguyn Đức Mu (2004), Trúc Lâm tông ch nguyên thanh.
Tđiển văn hc (Bộ mi). Nxb Thế giới, Hà Ni.
Nguyn Hữu Sơn (1997), Lê Thánh Tông – Đời thơ và nhng du hiệu trtình, trong sách Lê Thánh Tông (1442-1497) – Con người và snghiệp. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Ni.
Nguyn Hữu Sơn (2009), Nhà Nho Nguyễn Công Trvới Pht go.
Nghiên cứu Văn hc, (3).
Nguyn Hữu Sơn (2018), Nhn diện bn cht Pht go như là thế ng xnhân văn trong xã hội đương đi, trong sách Pht giáo nhp thế và các vn đxã hội đương đi. Nxb. Đi học Quốc gia Hà Ni.
Nguyn Hữu Sơn (2000), Vcm quan Pht giáo trong thơ văn Nguyễn Trãi. Tp chí Văn hc, (6).
Nguyn Huy Thip (2006), Làm nhà văn bây giờ khó lắm. Nguồn: https://www.tienphong.vn Văn nghệ
Lê Thước (1928), Sự nghiệp và thi văn ca Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Tr. Nhà sách Mc Đình Tư Xb, Hà Ni.
Thích Thanh Từ (2002), Hai quãng đời ca Sơ TTrúc Lâm. Nxb.
Tôn giáo, Hà Ni.
Trn Ngọc Vương (2007), Mu hình hòang đế và con đường tìm kiếm sthhiện bn ngã trong triết hc và văn hc khu vực Đông, trong sách Về con người cá nhân trong văn hc cổ Việt Nam. Nxb. Giáo dục, Hà Ni.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây