20 TINH THẦN BÌNH ĐẲNG CỦA ĐẠO PHẬT GIÚP CUỘC SỐNG HẠNH PHÚC VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI

Thứ tư - 08/05/2019 19:23
SC. Thích Nữ Nhuận Bình
237






 
TINH THẦN BÌNH ĐNG CA ĐO PHT GIÚP CUC SNG HẠNH PHÚC VÀ BO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH TI

 
SC. Thích Nữ Nhun Bình*





TÓM TT

Trên trái đt này, con người và svt hin tượng luôn tồn tại song hành, cng sinh và bình đẳng hin hu. Đạo Pht đưa ra học thuyết duyên khởi, giải thích rõ về bốn hin tượng thành, trụ, hoi, kng và sinh, trụ, dị dit để chng minh tinh thn bình đẳng giữa con người với con người, giữa con người với vn vt, đc bit là môi trường sinh thái - ssng còn của mẹ trái đt. Xã hội hin đi, đời sng con người phát trin, cũng là lúc nhng khổ đau, phin muộn, lo svà bt an luôn đè nặng lên thân phn của bao kiếp nhân sinh. Nhiu thân phn người bị chà đp, khinh r, skhng hoảng, ô nhim về môi trường sinh thái đe da tính mạng con người. Nhiu loại bnh him nghèo xut hin, nhng cơn động đt, sóng thn nổi lên ly đi sinh mạng của hàng ngàn người, phá hoại nn kinh tế, gây hoang mang, lo lắng cho con người.

Phi cng, tt cnhững ni khnim đau và ni shãi đó đu bt nguồn tsthiếu tôn trng tinh thần bình đng, không tu dưỡng đo đức tâm linh, xem nhtính mạng con người và mthiên nhiên-môi trường sinh thái. Bài viết này nhằm nhấn mạnh đến tinh thần bình đng ca đo Pht, như một cánh ca đtìm thy con đường hạnh phúc và bo vmôi trường sinh thái nh mạnh, tt đp cho con người.



*. NCS.TS, Học vin Pht giáo Vit Nam tại TP.HCM.
 
 
  1. KHÁI NIM BÌNH ĐNG

Trong tiếng anh, từ “Bình đng” được viết là “Equality, tức là ngang ng nhau về đa v, về quyn lợi. Trong khi đó, thut ng Samànaattalà từ mà bộ môn cngPàli dịch là bình đng (samàna) với tôi (attan), hay giống như tôi1. Bình đng là thut ngcó m nghĩa giống nhau cả về nhận thức và đo đức sng, m người, nghĩa là phải đối xvới con người và vạn vt như cách mà i đi xử với chính tôi”.

Pht giáo nguyên thủy cho rằng, bình đẳng là “chăm sóc người khác ging như tôi chăm sóc chính tôi2. Như vy, bình đẳng là tôn trng, là sđánh giá cao và như nhau về các loài sinh vt hay kng phải sinh vt tham gia trong tiến trình hin hữu và ssng của muôn loài. Đối xvới tt cả cùng một thái đ, cùng cách cư xử như chính mình muốn được đối xvà tôn trng. Tuy nhiên, vic đối x này phải phù hợp với tình huống và đc tính của các chng loại mà chúng đang là, thì tinh thn bình đẳng trong Pht giáo mới đt được ý nghĩa nhân văn.
  1. TINH THẦN BÌNH ĐNG CA ĐO PHT GIÚP CUC SỐNG CON NGƯỜI HẠNH PHÚC

Trước khi đức Pht tnh đo, xã hội n Đpn chia tnh bốn giai cp kht khe, đy tn phận con người đến tận cùng thống kh. Từ thuở hồng hoang, con người sinh ra vốn kng có giai cp, vốn rt bình đng, bình đng vsuy ngh, bình đng về môi trường sinh thái, về quyn lợi, về đối xử tử tế…. Nhưng theo thời gian, do sự lớn mạnh vbn ngã-cái tôi, xã hội bt đu xut hin kgiỏi người dỡ, kgiàu người nghèo, kmạnh người yếu nên dn dà có sự hiếp đáp, pn chia, đè bp, khiến một bộ phận người bị coi r, kng có cơ hội ngốc đu lên, kng thể tự do sng theo ước muốn của mình, xây dựng tương lai snghip theo lý tưởng mình mong đợi. Xã hội n Độ lúc by giờ, chỉ có ba giai cấp đu được phép tng đc các Veda, còn giai cấp Shadra bị cm đoán hoàn toàn3. Spn chia giai cp khc nghit tại n Độ trở tnh nổi ám nh kinh hoàng cho
 
    1. Karma Lekshe Tsomo (2009), Ra khi bóng tối, Thích Nữ Diu Nghiêm dịch, Nxb Tôn Giáo, TP.HCM, tr.700.
    2. Sđd, tr.700.
    3. Viên T, Ấn Độ Phật Giáo Sử Lun. Nxb Phương Đông, tr.27.
 

triu triu lớp người sng trong vũng bùn khổ đau của xã hội. Có ai trn đời muốn mình sanh ra đã bị kỳ thị, ghét b, khinh thường của đồng loi? Ai cũng cn có nhu cu sng, nhu cu được yêu thương, tn trng và sng một cuộc đời theo ước muốn của bản thân.

Tinh thần bình đng của Pht giáo xut hin sau khi đức Pht Thích Ca Mâu Ni tnh đo dưới cội bồ đề là hồi chng cnh o, là cuộc cách mạng vĩ đi, mang đến tự do và hạnh phúc dành cho tn phận người phnữ cũng như ng triu triu người thuộc các giai cp cùng đinh. Đo Pht kng chú trng đến xut tn, bởi xut phát đim - nguồn gốc của một người kng liên quan đến tài ng và đức hạnh của người đó. Đo Pht chú trng đến sự tu dưỡng, đến đời sng đo đức m thước đo chun mực của sự bình đng: “Sự sang, hèn ca con người là do nhân cách chkhông phi do giòng hmà có; đi với vic tu đạo, giòng dõi tuyệt đi không có mt ý nghĩa nào cả, mà chkhác nhau ở chỗ có hăng hái hay không trong vic tiến tu mà thôi: đó là chủ trương ct ty ca Pht và các đệ t4. Trong rt nhiu bài thuyết giảng, đức Pht nhiu lần nhấn mạnh rng, mọi ng sông trên thế gian khi đổ về bin cả đu có chung vmặn của muối. Cũng vy, giáo pp của đức Thích Ca cũng chỉ có một v, đó là vngọt của hạnh phúc và vgiải thoát cho nhơn thiên. Bởi tt cả chúng sanh đu có Pht nh và đu có khng tnh Pht, đó là tinh thần bình đng tuyt đối của đo Pht, là con đường chơn cnh mang lại hạnh phúc cho muôn loài.

Trong cuốn Từ đin Triết học nhấn mạnh rng: Bình đẳng khái niệm nói lên vị trí như nhau ca con người trong xã hi, nhưng li mt ni dung khác nhau trong nhng thời đại lch skhác nhau và ở nhng giai cấp khác nhau… Sự bình đẳng hoàn toàn chđược to ra dưới chnghĩa cộng sn. Nhưng sự bình đẳng ca cộng sn chnghĩa không có nghĩa là mt sự san bng nào đó đi với tt cmi người, mà ngược li, nó m ra nhng khnăng vô hn cho mi người tự do phát triển nhng năng lực và nhu cầu ca mình, tương xứng với nhng phm cht và năng khiếu cá nhân5.


 
    1. Kimura Taiken, Nguyên Thy Phật Giáo Tư Tưởng Lun, Thích Qung Độ dịch, Nxb Tôn Giáo, Hà Ni, 2007, tr.231.
    2. Tđiển Triết hc, Nxb Tiến bộ Mát-xcơ-va (bản dịch ra tiếng Vit của Nxb Tiến bộ và Nxb Sự tht),1986.
 

Tnhu cu cn thiết ca từng ct mốc lịch sthời đại, ca con người, nn văn hóa đa phương ca các quốc gia và vùng lãnh th, quan nim bình đẳng luôn đi theo nhu cu thc tế ca cuộc sng. Con người sđược tdo phát trin i năng, phm hnh theo lý tưởng, ước muốn ca mình, nhưng phi tương xng vi phm cht đo đức mà hđã dành hết tâm sc i to nên. Hsđược hưởng thành quả hnh phúc khi dành hết khi óc và trái tim đtác thành và cng hiến. Tư tưởng này đồng nht quan nim vi triết gia Aristotes vtinh thn bình đẳng là công bình như sau: Bt công là bt bình đng và công bình là bình đng. Nhng người không bng nhau được đãi ngtùy theo skhác biệt ca h. Tinh thn bình đẳng được xếp theo nhu cu và năng lực ca từng cá nhân. Hđược hưởng thành quhnh phúc tchính đôi tay, khi óc và con tim hcng hiến.

Quan đim này cũng đồng nht với tinh thn bình đẳng của bản Tuyên ngôn Nhân quyn và quyn Công dân Cách mạng Pháp năm 1789, điu 6 ghi như sau: Nhn thức rng tất cmi công n đều bình đẳng trước pp luật, nên tất cả đều có quyền được trlương như nhau và ngang hàng nhau trong vic đảm nhn nhng chức vụ công, tùy theo khnăng của hvà chdựa trên mt tiêu chuẩn duy nht là đức độ và trí thức của h. Marx cũng từng nói: Làm theo năng lc, hưởng theo nhu cu. Với bản Tuyên ngôn và câu nói của Marx rt công bằng và hợp lý này, thì tùy vào khnăng, mức độ chuyên cn và sự tu dưỡng về tri thức, đo đức, nhân cách của từng cá nhân mà con người nhn lại scông bằng, xng đáng với nhng gì mình cgắng.

Đạo Pht nêu cao tinh thn bình đẳng, khuyến khích con người nên sng hài hòa, đối đãi công bình với tha nhân bằng tâm thương yêu và sự hiu biết. Tuy nhiên, trên thế giới sở dĩ xut hin tt cả mọi ssai bit về từng thân phn thp-cao, sang-hèn, gii-dỡ, hnh phúc-khổ đau của con người là bởi nghip lực của họ chi phối. Bởi, . . . mi bt công vđẳng cp (tn phận) đều do hậu qutất yếu của nghiệp trong quá khtạo thành. Do vậy con người trong hiện tại phi mặc nhiên gánh chu và nlực để tôn trng kỷ luật của giai cp mình6. Mỗi người sanh ra trên thế giới này, phn lớn chịu sự chi phối của nghip lực trong quá khứ. Nghip thin stác thành quả thin, bao gồm nhng hoa trái hn ho, ngọt lành, sanh ra với thân phn cao

 
    1. Viên T, Ấn Độ Phật Giáo Sử Lun, Nxb Phương Đông, TP. HCM, tr.28.
 

quý, tn hưởng cuộc sng may mn, hnh phúc. Nghip bt thin đưa đến quả báo bt tn, cuộc đời kng my sáng sa, may mn, tốt đp, tươi vui. Đó là lý do mà có người vừa sanh ra đã bị mù, đã bị khuyết tay chân và các bộ phn trên cơ th, có người sanh vào nhà tôn quý, có người làm con cái của khành khách sng lây lt qua ngày. Dĩ nhiên, tt cả nhng sbt tn, đau khổ này kng thể đổ thừa cho một xã hội thiếu tính bình đẳng được. Đó là do nghip lực của mỗi người tác to trong quá khứ chiêu cm ly.

Trong cuốn “Nhng viên ngc trí tuca Pht giáocó viết: “Con người to nên mi thứ, tt cnhng bun đau và bt hạnh cũng như hạnh phúc và thành công ca mình. Nhng người khác có thsdng ảnh hưởng vì cuộc sng ca h, nhưng chính con người y gây to ra bao nghiệp lc ca mình. Cho nên người y chu trách nhiệm v nhng hậu quđó7. Trong kinh Trung A Hàm đức Pht cũng dy: Chúng sanh kia do nơi hành nghiệp ca chính mình, do ng- hiệp mà thbáo, duyên vào nghiệp, y nơi nghiệp, tùy nơi nghiệp xứ có cao thp mà cng sanh có tt đẹp hay kng tt đẹp8. Như vy, hnh phúc hay đau khca con người nm ở chính nghip thân, khu, ý ca người đó. Chcn tu tập, hướng đến đời sống đo đức, lương thin thì chng nhng an lc đời này mà scó nh hưởng tích cực đến mai sau.

Nhiu người khởi tâm lo s, không dám ttin mình stu tp thành công đcó hnh phúc. Trong rt nhiu bản kinh đức Pht từng khuyến cáo vtinh thn bình đẳng như sau: Ta là Pht đã thành, chúng sanh là Pht sthành. Hay, Nht thiết chúng sanh giai hu Pht nh, nht thiết chúng sanh giai cam c Pht. Có thmi người sanh ra trong nhng gia đình, xã hi và quốc đkhác nhau, nhưng bản thể chân như, giác ngluôn nm trong tim thc mi người. Lc tHuệ Năng từng dy: Con người có Nam Bc, nhưng Pht nh thì không phân biệt Nam Bắclà vy. Con người gây to nghip chướng là bởi do vô minh che lp Pht tánh, làm tánh Pht bvùi lp trong lớp nghip chướng sâu dày. Chcn n bức màn vô minh, chcn tri giác Pht được phát hin, được biu lra ngoài, lp tức ng ti vô minh stiêu

 
    1. Nhiu tác giả (2002), Nhng Viên Ngc TTuệ Phật Giáo, Thích Tâm Quang dịch, Nxb Tôn Giáo, Hà Ni, tr.209.
8.. Trung A m (1992), tp III, kinh Oanh Vũ, Thích Minh Châu dịch, VNCPHVNn nh, tr.747.
 

dit. Khi vô minh dit thì minh sanh. Cũng vy, khi khđau chm dứt thì an lc, hnh phúc scó mt tức thì.

Do vy, quan nim về tinh thn bình đẳng của đo Pht giúp cuộc sng con người hnh phúc, ý nghĩa, nhân văn, là chân lý được đức Pht truyn dy hàng ngàn năm qua, giúp tháo gỡ nhng nội kết, nhng bt an, nhng nỗi khổ nim đau của bao người. Tinh thn bình đẳng của Pht giáo kng liên quan đến xut thân thp hèn hay cao thượng, cũng kng phải do thói đời đen bc làm hoen ố lương tri, mà bởi chính hành động thin lành hay nhim ô khiến chúng sanh khổ đau hay hnh phúc. Không cha mẹ, trời đất hay ai m cho ta cao thượng hay thấp hèn, chỉ có hành đng của ta m cho ta cao thượng hay thấp hèn mà thôi; không phi ai khác m cho ta ô nhiễm hay trong sch, mà chỉ do ta m cho ta ô nhiễm hay trong sch mà thôi9.

Xã hội hin đi, người người hô hào thực hin tinh thn bình đẳng, nhà nhà ủng hộ các vn đề liên quan đến bình đẳng như: Bình đẳng vgiới tính, bình đẳng về lợi dưỡng, bình đẳng về các nhu cu, bình đẳng về tri thức, bình đẳng về môi trường sinh thái,… nhưng chúng ta thực sđã ứng dụng bao nhiêu phn tm cho các công trình nghiên cứu về tính bình đẳng nhân văn này! Bởi đâu đó trên trái đt này, skỳ thị và phân bit giới tính vn còn nhan nhãn, sbc đãi và hà hiếp phnvn còn khp nơi, đc bit, vn đề môi trường sinh thái bị đối xbt công đang ngày một đe da tính mạng của triu triu con người trên thế giới.

Nói thì d, nhưng m được lại rt khó. Do đó, “Phương thức để cuc sống chúng ta phong phú và hạnh phúc hơn là: xác đnh cách nhìn mt cách toàn diện vthế giới, vũ trụ, nht là khng đnh cuc sống chúng ta trong vũ trbao la y, giống như nhng con sóng, bt nước, sinh ra tn ti và cui cùng cũng mt đi trong đại dương mênh mông ca vũ trụ. Do đó mi mt giây phút còn hiện hữu trên cõi đời là vô cùng qúy giá và vô cùng hạnh phúc10. Thế nên, ngoài vic thực hin tinh thần bình đng đối với con người, giúp nn loại tận hưởng cuộc sng an lc, hạnh phúc trọn vn, con người cn chú trng đến vấn


9 Thích Quang Nhun (2005), Phật hc khái lun, tập 2, Nxb Tôn Go, Hà Ni, tr.148. 10 Huy Thông- Nguyên Hạ(2005), Gặp gỡ tư tưởng đức Phật và Eíntein, Nxb Văn Ngh,
TP.HCM, tr.124-125.
 

đề bình đẳng cho môi trường sinh thái, bởi nó chính là chiếc chìa khóa để mở ra cánh cửa an lành cho vũ trvà triu triu lớp người trên thế giới.
  1. TINH THẦN BÌNH ĐNG CA ĐO PHT GIÚP BO VMÔI TRƯỜNG SINH TI

Pht giáo quan nim rằng mỗi chúng sanh đu có mối tương quan tương duyên mt thiết với nhau. Giữa các svt, dù là hữu tình hay vô tình đu kng có giới hn, cng sinh và cùng tương tác, cùng tham gia vào quá trình sinh, trụ, d, dit của tiến trình duyên khởi. Trường phái Huayen đã nói một câu nổi tiếng v đo Pht mt là nhiều và nhiều là mt” để nói lên mối liên hệ mt thiết giữa con người và thế giới, giữa con người và vũ trụ nhân sinh. Đó là điu mà các vn đề về môi trường sinh thái trở nên có ý nghĩa đối với mọi người.

Cuộc khng hoảng về môi trường sinh thái đe da tính mạng, s an tn của nhân sinh đu do chính con người to ra. H đã dùng cái tôi để thể hin sự tham lam, ích kỷ của mình và đối xbt bình đẳng với thế giới xung quanh. Con người đã to nên khổ đau, gây tổn hại môi trường sinh thái do ba sự ô nhim tinh thn, đó là tham (ràga), sân (dosa) và si (moha) và ba nghip bt thin, thân (kàya), khu (vàci) và ý (manas). Kết quả của vic làm này gây đau khổ cho con người, khiến đời sng của con người bt an, bị đe da với nhng rủi ro có thể xy ra bt cứ lúc nào khi môi trường sinh thái bị ô nhim, khng hoảng.

Nếu sự biến đổi khu, làm ô nhim môi trường sinh thái bt nguồn từ suy ngh, hành vi bt thin của con người to ra, thì s giải quyết vn đề này cũng tùy thuộc vào con người và chỉ có loài người mới trlại cho vũ trụ, thế giới vnguyên sơ, thanh tịnh vốn có của nó. Tuy nhiên, vic chữa lành vết thương của các vn đề khng hoảng về môi trường sinh thái kng phải kiếm tìm các bin pháp từ bên ngoài, mà phải có li sng, suy nghỉ và tịnh hóa tâm hồn (citta visuddhi) từ bên trong, sau đó làm trong sch các hành vi (kamma visuddhi) bên ngoài bằng li sng bình đẳng, tu dưỡng các thin pháp.

ng dụng tinh thn bình đẳng của đo Pht trong vn đề môi trường sinh thái sto nên đời sng an hòa cho nhân sinh, con
 

người sẽ tìm thy giá trị từ cuộc sng, cm nhn được nim hnh phúc và bình an trong thế giới ổn định và thanh sch này. Dĩ nhiên, vic tu tp thân tâm là cách để chuyn hóa mọi suy nghỉ và hành động của mỗi người. Chuyn hóa cái tôi cá nhân, sự tham lam, ích kỷ để vì một môi trường sinh thái lành mnh. Quán chiếu vn s vn vt là bạn đồng hành, là cng sinh, đối xử bình đẳng với vũ tr vn vt như cách mà chính bản thân mình muốn được đối xử. Muốn làm được điu này, con người cn trải qua tiến trình tu tp, thể hin đức tánh từ bi với mình và tha nhân.

Cho nên phương thức để chữa trị skhng hong môi trường sinh thái là phc hi li các trng thái tâm và các hành vi trong sáng. Phương thức chữa trị là n trng và đi xử với tt ccác thành phn tham gia hthng chính thluận thế giới với nhng thái độ ging như chúng ta cư xử với chính mình bng cách tu tập các giới vô hi, từ, bi. Tóm li, n trng sự bình đẳng, sự sống ca mi loài với tâm trong sch và hành vi trong sch là nòng ct ca vn đề môi trường sinh thái hc Pht go11, ng là cốt lỏi để gieo trng của ht giống hạnh phúc cho nn sinh.

Tt cả mọi loài trên thế giới dù kng phải động vt như đt, nước, lửa, gió, cây ci, svt và các loài mng thú khác nhau, nhưng tt cả phải được tôn trng, đánh giá cao vai trò, nơi chốn, v trí và sự hin hữu của chúng. Con người cn nhn thức và hiu một cách sâu sc rằng, tt cả đu phải trải qua sự chi phối của vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anatta). Hiu và chp nhn định lut này, loài người sẽ dễ dàng đồng cm, thu hiu và tôn trng đối với sự hin hữu của muôn loài, xem bản thân và muôn loài là tương sinh, là cng sinh như quan đim về “bình đẳng xã hi12 mà ông David Miller đã nhn mnh. Do vy, thực hin tinh thn bình đẳng, nghĩa là loài người phải bỏ đi tâm nim tham lam, ích k, hơn thua đối với con người và các svt, hin tượng nói chung.

Bình đẳng xã hội và môi trường sinh thái có nghĩa là con người và vn svn vt đu được đối xcông bằng, ngang nhau, được tôn trng, giữ gìn và bo v. Tuy nhiên, bình đẳng kng có nghĩa tt cả

 
  1. Karma Lekshe Tsomo (2009), Ra khi bóng tối, Thích Nữ Diu Nghiêm dịch, Nxb Tôn Giáo, TP.HCM, tr.698
  2. David Miller (2002), Phẩm cht và scông bằng, Đạo đức học ứng dụng: Các khái nim then chốt trong triết học VI, R. Chardwick và D. Schroeder,Nữu ước: Routledge.
 

đu ngang nhau vnăng lực và tài sn, cũng kng phải bằng nhau vsức mnh và sự thông minh. Nếu trong một xã hội mà đời sng con người và môi trường sinh thái kng được đối xử bình đẳng, thiếu tôn trng thì quốc gia và vùng lãnh thổ đó kng thể nào tồn tại một cách bn vng và lnh mnh lâu dài. Tầng bc cao nht của sự bình đẳng kng phải hô hào đòi quyn bình đẳng, mà là vượt lên trên, tức nhn mnh vào tính trách nhim về tinh thn bình bẳng có trong mọi người, mọi loài. Sự bình đẳng này kng phải là điu lut, nội quy bt buộc, nó được thể hin bởi đức tính tôn trng đối với cá nhân mỗi người bt nguồn từ từ sự tự nguyn bên trong.

Tt cả các pháp trên thế gian đu có mối liên hệ mt thiết, và tt cả đu quan trng vì góp phn hình thành con người và thế giới, chúng tùy thuộc ln nhau, nương tựa ln nhau để tồn tại trong một thời gian nht định nào đó. Đó là lý do mà tt cả các loài hữu tình và vô tình đu có giá trngang nhau và đáng được nâng niu, tn trng. Ước mơ có được nim vui, nim hnh phúc và tnh gây tổn thương, đau khổ kng chỉ là mong cu của các hữu tình chúng sanh, mà cây cvà các loài vô tình cũng rt khát khao được tồn ti. Bởi stôn trng, giữ gìn môi trường sinh thái lành mnh, sẽ trực tiếp bo vssng bình an cho loài hữu tình chúng sanh. Có thể loài vô tình chúng sanh (môi trường sinh thái) kng có nhng ước muốn được tôn trng, được hnh phúc và shãi khổ đau như loài hữu tình chúng sanh, nhưng chc chn chúng sẽ cung cp điu kin sng cn và đủ để các loài hữu tình chúng sanh có nơi cư trú an tn, ổn định. Do vy, cn thực hin các mối quan hệ bình đẳng cho ước muốn được tôn trng của môi trường sinh thái. Vic làm này chính là hành động bo vệ môi trường sng của tt cả chúng ta.

Ngày nay, môi trường sinh thái bị ô nhim trầm trng, skhng hoảng đang ở mức báo động đ. Đây là kết quả của hành vi bt thin của con người khi đối xkng công bằng với các loài vô tình chúng sanh. Skhng hoảng của môi trường sinh thái là kết quả của phn lớn là đời sng bị sự chi phối của ba sự ô nhim tâm thúc đy là tham (ràga), sân (dosa) và si (moha) và ba nghip bt thin, thân (kàya), khu (vàci) và ý (manas)13. Hành vi của con người do tâm

 
  1. Karma Lekshe Tsomo (2009), Ra khỏi bóng tối, Thích Nữ Diệu Nghiêm dịch, Nxb tôn Giáo, TP.HCM, tr.706
 

dn đu và thế giới hin tượng là biu lộ rõ ràng nht của m thức con người. Cũng vy, nghip được biu lộ qua tn, khu và ý. Đó là lý do để người ta cho rng môi trường được chia sẻ ca chúng ta là kết qunghiệp ca tổng số các tư tưởng và ý đnh mà chúng sanh phóng chiếu ra ngoài trong nhng hành vi ca h14. Trong kinh Tương Ưng I đức Pht cũng từng nhấn mạnh, Thế giới do tâm đng đu và dẫn dắt nơi này và nơi kia15.

Theo như trên có thể thy rng, skhng hong môi trường sinh thái là sn phẩm của nh vi con người, cũng gọi đó là sn phẩm từ m con người mà có. Phương pp để giảm thiu skhng hong, bảo vệ môi trường sng cho con người là sng tỉnh thức, có cnh nim, m sch m và kim soát các nh vi đến từ gốc rvô minh. Nói cthhơn, đó là tu tập mt thái độ bình đẳng tôn trọng tt cchúng sanh và hành đng cho phù hp. Thái độ bình đẳng, trong sch trong tư tưởng và hành đng bám rễ trong mi liên hbt nhgiữa tâm và vt, xem tt cchúng sanh đều bình đẳng trong sự biến hóa ca thế giới: mt tính cách bt nhgiữa mrộng từ lãnh vực bn thhc và nhn thức luận đến lãnh vực đạo đức16.
  1. TU TP TINH THẦN BÌNH ĐNG LÀ PHƯƠNG PHÁP TRLIỆU ĐCÓ HẠNH PHÚC VÀ CÂN BNG MÔI TRƯỜNG SINH TI

Đcó được cuộc sng hnh phúc và cân bằng môi trường sinh thái, con người cn tu tp tinh thn bình đẳng thông qua vic từ bỏ ba tâm ô nhim, sng chánh nim (sati), nhn thức và nhìn thế giới theo tiến trình duyên sinh, vô thường và trung đo17. Stepha- nie Kaza nói rằng: “Nguồn gc skhng hong môi trường nm trong c thói quen của m ng như c thói quen cư xử phá hoi18. Vy nên, muốn cân bằng môi trường sinh thái để đm bo đời sng an lành, hnh phúc cho con người cn phải tu tp để hủy dit ba tâm ô nhim của thói quen và tịnh hóa các hành vi bt thin của thân,


14 Ronald Epstein, Sinh thái học nội tâm: Đạo đức học và sự tu tp đo Pht, Pháp n đích thực 7 (tháng 10, 1985), tr.2-3.
    1. Tương Ưng I, tr.39
    2. Karma Lekshe Tsomo (2009), Ra khi bóng tối, Thích Nữ Diu Nghiêm dịch, Nxb Tôn Giáo, TP.HCM, tr.709
    3. đd, tr.708
    4. Stephanie Kaza (1990), Vmt đo đức hc môi trường Phật giáo, Đạo Pht ở các bước ngot, tr.25
 

khu và ý. Chỉ cn con người tu tp, làm quen với các tư tưởng và hành động trong sch, thì kết quả sau cùng sgặt hái hnh phúc và môi trường sng lành mnh, an hòa.

Vic tu tp tinh thn bình đẳng ngoài phương pháp làm thanh tịnh hóa tư tưởng và hành động, quý hành giả nên thực hành thêm 37 phm trđo, Tám con đường chơn chánh, Tam học (giới, định, tu), thực hành đức tánh từ bi và trí tu. Cthhơn, từ quan điểm tu tập bình đẳng tính, phương thức chữa trị skhng hong môi trường sinh thái là vô hi (ahimsa), bi (karunà) và từ (mettà)19. Trong đó, thực hành vô hivà bi” nhm giúp các hành vi” thanh tịnh trong quá trình tu tp bình đẳng tính. Thực hành tâm từ” nhm giúp tâm” thanh tịnh suốt quá trình tu tp bình đẳng tính.

Bi tâm, là tm lòng thương tưởng mọi loài chúng sanh, chăm lo cho mọi đối tượng chúng sanh như chăm sóc chính bản thân mình. Ước muốn tìm kiếm hnh phúc, tnh gây đau khổ cho mọi loài như đối với chính mình. Sng lợi mình, lợi người, lợi ích cho môi trường sinh thái để tt cả cùng có hnh phúc, an vui. Tâm bi thường ly vic chăm sóc người khác, bo vệ môi trường sinh thái như chăm sóc và bo vệ chính mình.

Cả cuộc đời của đức Pht Thích Ca u Ni luôn sng hòa mình với thiên nhiên, từ Đn sanh, Tnh đo và nhp Niết n đu dưới nhng gốc cây xanh mát. Trong suốt nhng tháng năm hoằng hóa, Đức Pht luôn quan m đến cây ci và c ht ging, và Ngài luôn dy c đệ tử không được đào xới đất mt ch bt cẩn20. Sư quan tâm đến muôn loài của đức Pht thể hin từ tâm dành cho các loài chúng sanh. Nhu cu của con người là ssng, nhu cu của vn vt là tồn tại và phát trin. Bảo vmuôn loài, làm đp, sch hành tinh xanh với tinh thn vô hi, chính là to cho chính mình và người thân người thương cơ hội sng đp, sng có ý nghĩa và nhân văn, cũng giúp cho môi trường sinh thái trvề trạng thái nguyên sơ, lành mnh như chính nó vốn là.


 
    1. Karma Lekshe Tsomo (2009), Ra khi bóng tối, Thích Nữ Diu Nghiêm dịch, Nxb Tôn Giáo, TP.HCM, tr.710
    2. Xem Kyoung-joon Park (2003), “Một kho sát vkhái nim thiên nhiên của đo Pht, một bài viết được trình bày tại cuộc Hội tho về sinh thái học Pht giáo tại Vin Văn hóa Pht go, tr.20-23
 

Tu tp tinh thn bình đẳng chính là phát trin từ tâm, làm lớn mnh bi tâm, duy trì tính vô hi, đối đãi với mọi người, mọi loài bằng trái tim bình đẳng, hiu biết và lòng thương yêu. Điu quan trng trong vic thực tp tính vô hi, từ tâm và bi tâm luôn bao hàm hiu biết về tính cht của ssng, đối đãi với con người và thiên nhiên bằng tâm bt nh, làm mọi điu mang lại lợi ích và hnh phúc cho mình và người, mang an lành cho môi trường sinh thái, chính là thái độ tu tp đúng đn của tinh thn bình đẳng.

Bên cnh đó, đo Pht luôn ly giáo lý Nn quả và Nghip m hệ quy chiếu để khai mở tuệ giác cho tt cả chúng sanh. Thế nên, nếu có kẻ nam hay người nnào sát sanh, hung dữ, cực ác, uống u, có ý sát hi, mang tâm niệm xu ác, không có tâm từ bi đi với tt cchúng sanh cho đến các loài côn trùng, thì người y thly nghiệp y, to tác đy đri, đến khi thân hoi mng chung chc chn đi đến chác, sanh vào trong đa ngc, mãn kiếp đa ngc ri, li sinh vào nhân gian tui thrt ngn ngi…21. Lại na, “tt cbn giai cấp, Tôn giả Gotama, nếu sát sanh, ly ca không cho, có tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm, có tham tâm, có sân tâm, có tà kiến, sau khi thân hoi mng chung đều sanh vào cõi dữ, ác thú, đa xứ, địa ngục22. Như vy, giáo lý Nghip o và Nn quả cũng là một trong nhng phương pp nhắm thức tỉnh chúng sanh quay đu hướng thin. Triết lý gieo nn gt quả phần nào khiến con người shãi mà dừng lại nhng suy nghỉ và nh động bt thin, muốn gieo đau khổ cho con người và gây nh hưởng đến nguồn sng của môi trường sinh thái. Chỉ khi nào chúng sanh nhận thức được tấm gương phản chiếu của lut nn quả và sự chi phối khc nghit của nghip thức, thì đời sng con người mới được cải thin, hạnh phúc mỉm cười và môi trường sinh thái được bảo vệ bình yên.

Tóm li, sống mt đời sống bình đẳng bao hàm mt shiểu biết mi liên hhỗ tương và sự tùy thuc ln nhau ca tt ccác loài trong hệ sinh thái mang tính chính thluận ca trái đất và hiểu biết smong mun ca mi loài là tìm kiếm hạnh phúc và tránh đau kh23. Thực

 
    1. Trung A Hàm (1992), tp III, kinh Oanh vũ, Thích Minh Châu dịch, VNCPHVN n nh, tr.747.
    2. Kinh Trung Bộ (2000), Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn Giáo, tr.687.
    3. Karma Lekshe Tsomo (2009), Ra khi bóng tối, Thích Nữ Diu Nghiêm dịch, Nxb Tôn Giáo, TP.HCM, tr.714
 

hin, tu tp tinh thn bình đẳng theo quan nim của đo Pht một cách miên mt để sng có trách nhim với mình và người, tôn trng sự hin hữu của thiên nhiên, chung tay bo vệ môi trường sinh thái, chính là đang bo vvà xây dựng hnh phúc cho chính mình.

Nhiu người vì ích k, vì lòng tham, vì bản ngã đã coi thương tinh thn bình đẳng của con người và mọi loài, tước đot đi quyn sng, quyn làm người và quyn hin hu, cng sinh của mẹ thiên nhiên, để gánh ly hu quả sau cùng là bnh tt, là tổn thương, là chết chóc và đau kh. Đức Dalai Lama trong tác phm Thực hành như thế nào để có được cuc đời ý nghĩacó viết: Ý thức rng con người có thchế ngvà vượt qua được nhng đau kh. Xác định rng con người có th chm dứt được đau khbng ch rèn luyện phm hạnh, thiền định tp trung, và sự sáng suốt. . .24. Như vy, mọi đau kh, bt hnh đu từ tâm con người mà có. Tuy nhiên, cũng chính từ tâm của mình, con người có thể chế ngự, png h, tu dưỡng, chuyn hóa để vượt qua khổ đau, chm bờ hnh phúc. Tu tp bình đẳng tính chính là mang lại hnh phúc cho mình và tha nhân, đồng thời, nhờ đó bo vtốt hơn môi trường sinh thái mà chúng ta đang hin hu.









***
















 
    1. Dalai Lama (2007), Thực nh như thế nào để có được cuộc đời ý nghĩa, Nxb TP.HCM, tr.69.





Thư mục tham kho

Dalai Lama, Thực hành như thế nào để có được cuc đời ý nghĩa, Nxb TP.HCM,  2007.

David Miller (2002), Phm cht và scông bằng, Đo đức hc ứng dụng: Các khái nim then chốt trong triết học VI, R. Chardwick và D. Schroeder, Nữu ước: Routledge.

Huy Thông- Nguyên H, Gặp Gỡ Tư Tưởng Đức Pht và Eíntein, Nxb Văn Ngh, TP.HCM, 2005.

Karma Lekshe Tsomo (2009), Ra khi ng tối, Thích Nữ Diu Ng- hiêm dịch, Nxb Tôn Giáo, TP.HCM.

Kimura Taiken, Nguyên thy Pht go tư tưởng luận, Thích Qung Độ dịch, Hà Ni, Nxb Tôn Giáo, TP. HCM, 2007.

Kinh Trung Bộ, Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn Giáo TP. HCM, 2000.

Kyoung-joon Park, Một kho sát vkhái niệm thiên nhiên của đạo Pht, một bài viết được trình bày tại cuộc Hội tho về sinh thái học Pht giáo tại Vin Văn hóa Pht giáo, 2003.

Nhiu tác gi, Nhng viên ngc trí tuệ Pht giáo, Thích Tâm Quang dịch, Nxb Tôn Giáo, Hà Ni, 2002.

Ronald Epstein (1985), Sinh thái học nội tâm: Đo đức hc và sự tu tp đạo Pht, Pháp n đích thực 7.
Stephanie Kaza (1990), Về một đo đức học môi trường Pht giáo,
Đo Pht ở các bước ngot.

Thích Quang Nhun, Pht hc khái luận, tp 2, Nxb Tôn Giáo, Hà Ni, 2005.

Trung A Hàm, tp III, kinh Oanh Vũ, Thích Minh Châu dịch, VNCPHVN n hành, 1992.

Từ đin Triết học, Nxb Tiến bộ Mát-xcơ-va (bản dịch ra tiếng Vit của Nxb Tiến bộ và Nxb Sự tht),1986.
Viên Trí, Ấn độ Pht go sluận. Nxb Phương Đông, TP.HCM.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây