2 QUAN ĐIỂM PHẬT GIÁO VỀ SỰ BẢO TỒN HỆ SINH THÁI TRONG LÀNH

Thứ tư - 08/05/2019 18:27
GS. Jyoti Dwivedi



 

QUAN ĐIM PHT GIÁO VỀ SỰ BẢO TỒN
HSINH TI TRONG LÀNH
 
GS. Jyoti Dwivedi*


 
Trước stoàn cu hóa ngày nay vxu hướng lợi nhuận và tiêu ng, mọi thvi sđa dạng vtính cách được nhìn nhn như những nguồn (cung cấp) hữuích cho con người nhưng không phải cho chính h. Quan điểm ly con người m trung m vũ trnày tin rằng duy trì nhn thức vcách sống và thói quen cá nhân của chúng là những yếu tcăn bản của xã hội n chcần được nhân rng và củng c, cho dù đòi hỏi ở chúng ta sn nhn, m ô nhiễm hsinh thái, hủy diệt sự sống của những loài khác và sxuống cấp về cht lượng cuộc sống. Điều cần được u ý ít nhiều là quần ththực vt và động vt. Thái đy đã dẫn đến hành vi phá hoi nghiêm trng bởi con người vi hsinh ti và smt đi nhiều i đẹp tnhiên, phong phú. Sn phá, m gim giá trcủa hsinh ti diễn ra liên tục thông qua nhiều cách thức n bo như n bt, bt cá, giết chóc, phá rng, khai thác mquặng quá trớn, lạm dụng thuốc trsâu m ô nhiễm dưới nhiều hình thức khác nhau. Cái nhìn của Pht giáo vhsinh ti trái ngược vi quan điểm ly con người làm trung m vũ trụ, tương tnhư điều mà Arne Naess ở Norway gọi là hsinh ti tiềm ẩn. Hsinh ti tiềm n n án sđộc ác, tôn
 


trng ssống của loài khác, bằng cách tôn trng và yêu mến vạn loài, cuộc sống của chúng ta ssung c hơn, ý nghĩa hơn, và được đảm bo vcơ hội sinh tn tt hơn. Suy nghĩ y mong muốn con người nhn thức rằng hkhông chlà thành phn quan trng của tnhiên mà hcòn có những nghĩa vnht định đối vi thiên nhiên như chthđo đức. Thế giới nhu cu lợi ích to điều kiện cho khủng hong i trường là điều cần phải được đcập một cách rõ ràng.

Trt tự xã hội hiện đại của chúng ta khuyến khích cạnh tranh n là hợp tác đem đến kết qutập trung i nguyên trong tay một sít. Tquan niệm Pht giáo, bt csphát triển chtrương chính trhay kinh tế nào thì stt đẹp của những thành viên trong xã hội như là tng thvà hthống xã hội được xem như là một phn thợp của hsinh thái. Cho nên, tđó, sphát triển xã hội nên được hướng dẫn một cách có hthống đthúc đy slành mnh và tt đẹp của trt txã hội không, m hại đến i trường tnhiên i con người cư ngụ. Theo đó, thế giới là nhà của tt cả mọi i sống biết, những giá trđo đức của nó như bi mn, xly, và nhân tính là sđóng góp rt quan trng cho vic xây dựng xã hội vphương diện sinh ti tt đẹp.

Đo Pht luôn thm nhuần ít nhiu shiến tặng của thiên nhiên, và các nhà học ginhư Lynn White Jr (1967) đã tuyên brng đo Pht tích cực n trong vic quan m đến thế giới tnhiên, không giống như các n ngưỡng Do Thái hay Thiên Chúa giáo đt con người và sto hóa của hn trên và chống lại thế giới tnhiên của động vt, cây cvà môi trường vt lý. Các nhà Pht giáo học như Venturini nhn mạnh một cách rõ ràng scn thiết của shòa hợp vi thiên nhiên, nhưng trong hoàn cảnh của hsinh thái mchú trng vào vic thanh lọcthế giới vi con người. Kinh Pht có i vvic không m hi đến cây cvà quần ththực vt (bījagāmabhūtagāma). Thật vy, truyn thống an cư kiết hạ của đo Pht mang nguồn gốc từ sự liên quan này. Gây ra thiệt hại y là một tội lỗi đòi hỏi sự chuộc
 


tội theo một phn của vtu . Đó có thđược diễn giải như một dạng mrng của nguyên tc không hãm hại (ahiṃsā) đến thế giới thực vt. Hqucủa skhng định đó là động vt và cây cối được tôn trng và stôn trng đó khởi n một cách tnhiên ttrí tu, được thiết lập bởi vũ trhọc Pht giáo: Tt cchúng sanh hữu tình có quan hệ mt thiết với nhau. Người ta có thể tìm thy một ví dđiển hình cho vic đó, ở Thái Lan, các vị tu sĩ, giữa các vy vi nhau và vi người tại gia, m vic đbo vvùng lãnh thcòn lại của rng nguyên sinh và đi to rng ở những khu vc khác bphá vbởi nước tràn hay lũ lụt.

trường thiền Chan, truyn thống lý tưởng là truyn thống hòa mình vi thiên nhiên, đc biệt chú trng thông qua những nh động như lập những lều ngi thiền giữa thiên nhiên, không phí phm bt cthức ăn nào trong tviện, vé phong cảnh, khu vườn phong cảnh, và thơ ca vthiên nhiên. Trong hội ha, con người chlà một phn của phong cảnh thiên nhiên, không được chú trng. Phần lớn schú ý có vđược đt vào thiên nhiên, vì s hiểu biết sâu sc đến chúng có thmang đến sthưởng thức thuộc về trực giác về cái bn tính không ấn tượng và khó hiểu của s hiện hữu tng hợp. Shòa mình vi thiên nhiên y ng thy được trong những bài thơ khác nhau trong Trưởng o thi K. Hngm nhìn những tảng đá lấp lánh, mát mvi nước khi có những ng nước trong lành, được bao phbởi nhng con côn trùng Indagopaka (câu s1063), âm vang tiếng những con voi và công, phlấp với hoa cây lanh như bầu tri được che lấp bởi những áng mây(câu 1068), “với nước trong và vách đá to, thường xun lui tới bởi kh và hưu, bao phbởi rêu phong m ướt, nhng tng đá đó m tôi thích thú(câu 1070), “nhng cánh rng thì thú vị(câu 992). Đức Pht ng đã xem là đã có ảnh hưởng tích cực ti i trường xung quanh Ngài. Nhiều mô ttrong cuộc đời của đức Pht rt đẹp với nhiều điều vthiên nhiên. Ngài được sanh ra dưới cội cây và khi Ngài bước chân đi, những đóa hoa sen nr. Thời niên thiếu, Ngài thường ngi thiền dưới gc cây mận. Ngài thuyết bài Pháp đu tiên
 


tại vườn Nai và Ngài thành đo dưới gc cây bđ. Khi nhp diệt, Ngài nm giữa 2 cây sala, bt ngmột cơn a hoa trái a rơi xuống phn thân Ngài như stôn kính. Phải i rằng lý tưởng Pht giáo cho mối quan hnhân tính vi thú vt, cây cối và phong cảnh là một trong những shợp tác đáng hòa hợp đáng ca ngợi.

Mt xã hội đt trên nền tảng chánh Pháp nhn thức được rằng con người n hướng đến mục đích thúc đy shòa nhp tt đẹp mà người ta là thành phn trong đó, và tối thiểu không bao ginên tìm kiếm sự tha mãn cá nhân bằng cách hãm hại người khác. Ý tưởng đã chrõ rằng trong sáu pháp hòa thuận mà đức Pht đã dy cho Tăng đoàn: Thân hòa đồng trú, khu hòa vô tranh, ý hòa đồng duyt, kiến hòa đồng giải, lợi hòa đồng quân, và giới hòa đồng tu. Cho nên, trong cách tiếp cận của Pht giáo vi sphát triển xã hội và kinh tế, tiêu chuẩn thiết yếu n được đt ra cần thiết cho stốt đẹp của các thành viên trong toàn xã hội. Kinh tế n được thiết lập tại chmà nó thuộc vvà ngược lại chế đ xã hội cần được nhìn như một phn trn vn của tng thhsinh thái. Vì thế s phát triển kinh tế n được hướng dẫn theo cách thúc đy slành mnh và tt đẹp của trt txã hội không m hại i trường thiên nhiên nơi mà xã hội loài người cư ngụ. Bằng cách chỉ ra rằng s theo đuổi tầm thường của xa hoa và thừa ti là nguyên nhân của khđau, Pht giáo khuyến khích stiết chế, đơn gin thanh bần và i ng (biết va đ). Tán dương ng khoan dung như phẩm cht n bản và là đc điểm của người cao thượng, điều đó thúc đy sphân brng rãi của những điều thiết yếu đmột người không phải chịu ng thiếu. Ki niệm của đo Pht vmột thế giới là nhà của tt c ssống biếtvà phm cht đo đức của ng như giá trị tích cực của lòng bi mn, xả ly và nhân tính là sự đóng góp quan trng đối với vic xây dựng một tng thể xã hội sinh ti tt lành.

Rng là i lý tưởng cho vic hành thiền cho các vsư. Cư trú trong rng có tầm quan trng trong lối suy nghĩ Pht giáo và rng
 


được sdụng như phương tiện đhành thiền. Nhiều học giPht giáo hàng đu tiến cchánh niệm trong rng như phương tiện đt tugiác vvô thường. Tht ra, các vsư nguyên thủy chuyên v hành thiền được biết như các vsư n cư trong rng cho dù họ có cư ngụ trong rng hay không. Vsư ẩn cư trong rng, vị đo , không còn là nỗi si của các loi thú hoang dã bởi vì vy không đe da chúng mà còn đem lại sbo bọc ng như tình bạn, hnh phúc trong scách ly vi thế giới rng lớn vì vđó đã x ly hết ham muốn và i ng vi sthanh bần gin đơn. Đạo Pht n dương lợi ích m linh của i hoang dã. Scách ly và tĩnh lặng của i hoang vu được nhìn nhn như điều kin tt nht cho thiền hành. Hơn hết, ti đcủa đo Pht đối vi thiên nhiên hoang khá tích cực, và trên cách đánh giá tích cực đó nên được gìn giữ ng như thiết lập lại trong trường hợp nó bn phá do i lí do nào đó. Ti nhìn này, cách cư xcủa các vSưvi thiên nhiên xng đáng trthành phn bù vào cách cư xcủa tt cPht tử theo truyn thống đo đức Pht giáo vkhông sát hại bt cchúng sanh sống nào ng vi ng bi mn và nhân từ. Trong trường hợp của người tu sĩ sống trong rng hoang (araṇya) vnày có thể nói rằng những động vt hoang dã là i chính yếu to n thế giới của người đó. Đối với người đời, những cánh rng có thể không được thân thiết lắm nhưng có lut nhân qutrong vic con người s dụng chúng. Vvua nổi tiếng của n Đ, Asoka, đã cấm đốt rng mà không có lí do.

Đạo Pht không xem loài người như người thống trhay quản lý trên loài vt mà ngược lại, loài người thân phn cao n ngụ ý phải hành xhòa nhã vi chúng sanh thp hơn. Điều này được rút kết tsuy tư rằng tình trng tt đẹp hiện tại của một người như là một con người chlà tình trng tạm thời có điều kin bởi thiện nghiệp trong quá khứ. Mt người không thtách ri khỏi cảnh ngkhốn đốn của các động vt, vì người có trong nó, giống như các động vt có kiếp quá khlà người. Hơn nữa, trong vòng luân hồi mà mỗi chúng sanh đi qua, tloài côn trùng, scó vài
 


thời điểm nào đó trthành người bạn thân hay người thân cận với con người. Lưu giữ lại trong m thức như vy, người đó nên trn ttế trong hiện tại. Bởi vì con người là những sinh vt xã hội sống vi nhau cho đến cuối ng đều như nhau, có nghĩa trt txã hội được dẫn dt bởi những giáo lý nhà Pht có thbao gm những cng đồng nhtrong đó mỗi thành viên có sđóng góp tích cực. Chssắp xếp xã hội ở diện hẹp mới có thcứu con người ra khỏi nguy hại trong tương lai. Xét từ cái nhìn của đo Pht, những thành phlớn bị ô nhiễm nặng và những viên chức ng như chính trkiu mu của thời đại chúng ta không phù hợp cho lợi ích chính đáng của chúng sanh hữu tình. Nn kinh tế phù hợp nht n được thu hẹp và ở địa phương. Nn kinh tế y có thể sdụng kthut công nghthô sơ khôngm cạn kit nguồn tài nguyên, sản xut n dựa vào nhu cu địa phương chyếu, như vy mới có stiếp xúc trc tiếp giữa sản xut và người tiêu ng. Sthúc đy của nền kinh tế y có thlà skhuyến khích cho điều tt đẹp vvt cht lẫn xã hội, không có snh trướng lợi nhuận thương mại và không quy lut.

Như lời của Thiền sư Nht Hnh có nói, “Chúng ta phân loại thc vt và chúng sanh như tự nhiên, mt cái gì tách biệt khi chúng ta, và hành đng như thchúng ta tách biệt khi chúng. Ri thì chúng ta hỏi; Chúng ta n làm gì với thiên nhiên?Chúng ta n đối xvới thiên nhiên như cách mà chúng ta đối xvới chính chúng ta: Không bo lực. Con người và thiên nhiên là không thtách rời. Vì chúng ta không thhãm hi chính chúng ta, chúng ta không n làm hi thiên nhiên. Như một phn của Lut Dun khi (paiccasamuppāda), con người được xem như có tác động đến i trường xung quanh không chqua nh động thuần vt lý mà còn qua tính cht thiện hay bt thiện của chúng. Nghiệp quthỉnh thong bt kp hthông qua i trường sống của h. Cho n i nếu vvua và thn dân của ông m sai, điều đó ảnh hưởng xu đến i trường và các v thần, dẫn íta, mt a và người n sống ít th. Vic m tt có ảnh hưởng ngược lại. Môi trường được gigìn bởi đo Pht nhằm
 


đáp ng đo lý của nhân loại, điều này không phải là một trng thái mà theo đó người ta chkhoa tay a chân hay một cmáy dửng ng.

Có sự nhận định rằng trong môi trường: Con người không thể bqua tác động của hành vi hn i trường sống của h. Thông điệp này ng được nhn mnh trong Kinh Khởi thế Nhân bổn, đưa ra trng ti khởi đu của sphát triển ssống hữu tình trên Trái đt. Điều đó diễn ra khi c xưa chư Thn bgiáng cấp tcấp bc cao, và bằng cách nếm thvcứng trôi trên đại dương, phát triển cơ thể vt lý, sau đó giới tính khác nhau. Đầu tiên môi trường của hphong phú dồi dào, nhưng nó trthành ít dần vì hngày ng tham lam. Hng nm có vngt m thức ăn, và sau đó các dây leo, nhưng chúng lại biến mt vì con người có skhác biệt vtướng mo, người đẹp n sanh ra kiêu ng và ngo mn. Sau đó hsống nhvào cây a ngn ngày, thu gom mỗi ngày khi hcần. Nhưng rồi vì lười nhác, hthu gom cho đmột tuần một lần. Vì thế nên cây không đđáp ng nhu cu và cần phải được trng trọt. Kết qulà đt được chia ra đm ruộng, đsản vt được chế to, kéo theo sau là trm cắp. Ở đây là i nhìn của chúng sanh hữu tình môi trường của họ tiến triển và suy tàn cùng nhau. Chúng sanh bị ảnh hưởng bởi những gì hly ti trường, i trường trnên ít đẹp đvà màu mtheo mức đsuy đồi của đo đức con người. Tt cnhững điều này diễn ra theo nguyên lý Dun khởi, không có gì tn tại như là shữu của nó, giống như mỗi vt y thuộc vào những thkhác m điều kin cho ssanh tn. Cho nên, mối quan hệ của mọi vt, bao gồm con người và môi trường, là mối quan hệ phthuộc lẫn nhau. Nói theo cách khác, không i gì có thtồn tại một mình, mà bản thân nó ng đóng góp cho tng th. Thuyết phthuộc tương sinh của Pht giáo ng có nghĩa là con người thế giới gn bó cht chvi nhau trong một mối liên hcần được củng cbằng tình thương. Stương thuộc sinh ti giữa động vt và thói quen của chúng rõ ràng được nhn thy trong Chuyện Tiền thân (Jātakas), sdi trú của những con cp tkhu rng có thlàm
 


cho những cây cối trong rng bđốn bởi những người đốn g, mà ng ly dần đi scp vì thói quen trước của chúng.

Pht giáo nhận định môi trường không nên bị lạm dụng khai thác. Như người Tây Tạng i rt ng suốt rằng khi thgì đáng giá bly đi tTrái đt thì cht lượng nó xuống cấp và Trái đt bị hủy diệt. Quan niệm Pht giáo chính là shợp tác vi thiên nhiên, không phải thống tr. S tương thuộc lẫn nhau của con người tt cdạng sống khác trong chuỗi n bằng luôn là niềm tin căn bản trong đo Pht. Sphát triển đúng đắn sn xếp n tha với nhịp sống và svận hành tương thức vi những yếu t, khi duy trì nhn thức rằng con người chlà một phn của vũ trụ, và rằng phương thức phải được m ra đhòa nhp loài người vi những định lut của thiên nhiên. Nhà kinh tế học E.F. Schumacher chra rằng đo Pht không phải theo chthuyết ly con người m nhân của vũ trmà các đo Tây phương thời Trung cvẫn gi, và cho rằng thái độ của đo Pht không cho phép khnăng con người có quyn ly tthiên nhiên, thy thiên nhiên như i gì đơn gin cho con người, đc biệt sdụng, hay khai thác, thống trhay chèn ép. Ông ta đcập, con người là con của thiên nhn chkhông phi ch của thiên nhiên. Ông diễn tlối sống của đo Pht trong sliên hệ vi sinh ti như sau:

Lời dy của đức Pht... bt buc sn trng và lối sống không bo lực không chvới loài hu tình mà còn nhn mnh điu này với cây cối. Pht tphi trng vài năm mt cây và chăm sóc nó đến khi nó vững chắc. Ngài nhận rằng Ngài là một phần của hệ sinh thái của nhiều dng sống khác nhau. Khi thế giới được qun lý theo phlàng, con người không còn được nhn biết được bt cdng sống nào ngoi trừ loài người, và cm gc phthuc vào hsinh thái. Kết qunày trong mt cách đối đãi cay nghiệt và hoang phí với mọi vt mà chúng ta tht sphthuc, ví như nước và cây”.

Vì thế như Schumacher đã nói, trong khái niệm của Pht giáo vphát triển kinh tế, chúng ta nên tránh tình trng phát triển thái
 


quá, đc biệt là máy móc, chphục vcho vic kim soát nhiều hơn là phục vcon người. Vi tình trng phát triển ti quá, chúng ta bcuốn đi bởi ng tham quá đtrong vic lạm dụng thiên nhiên. Nếu sng phát và tham lam được tránh, sphát triển con đường Trung đo của đo Pht có thđt được, có nghĩa là cgiới công nghiệp và ng nghiệp có thđược chuyn thành i trường có ý nghĩa.

Những giới lut đu tiên trong Lut tạng (Vinaya Piaka) gm nhiều điều cấm svô trách nhiệm đối vi i trường. Vài điều có vẻ như lời khuyên qun thúc con người cho vsinh chung nhưng những điều khác là đ tránh vic m hại chúng sanh hữu tình. Cho n v sư không thcht cây hay đào đt vì điều đó có thể sát hại những sự sống nhỏ bé khác và vị đó cũng không được đnước trong chu có chứa cá ra đt. Trong đo Pht, giết hay làm tn thương sinh vt sống được xem là xu ác và nền tảng của mt đo đức; bởi vì một mt, giết hay hại chúng là nghiệp bt thiện dẫn đến hqu xu cho người to ác sau khi chết, và mt khác, mọi loài sống, chúng sanh hữu tình ng schết và tránh xa vì sđau đớn như chính bản thân h. Các vTăng Ni còn bcấm cm tổn thương đến cây và ht. Theo thời gian, một lần nữa đo Pht tán thành cư xm linh ví như ng tái ng như hành động tránh khỏi giết hại và m tn thương chúng sanh là ti đđúng đắn đối vi chư Tăng Ni ng như người tại gia. Đạo Pht ng chp nhận niềm tin phbiến rằng cây cối được cư ngbởi những vththần bo vchúng. Cây cối xng đáng được biết ơn vì chúng phục v cho con người, đc biệt là cho ng mát và trái cây, và không nên btn hại hay đốn cht vì lợi ích riêng của con người. Quan niệm này có thkhông mang ý nghĩa rằng cây cối ng được xem như hữu tình, mà ít nht chúng nên được xem như một người bạn hay đối tác. Tt nhiên, bo vcây có lợi khỏi tn hại hay tht ra ng một cách để sử dụng lâu dài.
 


Đo Pht xem bn ngã và tham lam như nguyên nhân chính của khđau và tn thương. Kng nghi ngrng thiên tai với cường độ lớn là do bởi lòng tham không đáy của con người. Đo Pht trên tng th, dù không quan tâm đến i sản và vinh hoa, mà chphát huy những chuẩn mực đo đức, trong đó không giết hại chúng sanh có sinh mạng và không hủy diệt chỗ ở của chúng vic đu tiên. Những lý tưởng đúng n là biết đ(saṃtuṭhi) tự do (cāga) đối vi người giàu. Hài ng vi sđủ, tránh ng phí tnhiên là nh động tiết chế và sdụng thiên nhiên một cách cẩn thận. Phương pháp udumbara-khādibị chỉ trích bởi đức Pht, cách rung cây ficusglomerata m rt trái xuống đly một ít quả ăn chng khác nào một người ng lưới bt cá, kiu như vy nhiều động vt bgiết n là sdụng. Thái đthích hợp duy nht là xem tt cloài vt bậc thp vi m bi mẫn và cảm thông, và giúp đỡ chúng một cách cẩn thn trong trường hợp khn cấp không làm hại những người khác. Đó tht ra là cách cư xcơ bn trong truyền thống Pht giáo, đmc thiên nhiên một mình là điều tt nht mà người có thlàm. Ví d, ban cho động vt, cho dù là thmột i đĩa dính mhay đthừa vào hhay ng đnuôi các loi sinh vt xíu hay cá hay vic thả cá khỏi lưới hay rvì lòng từ.

Thái độ không bo lực (ahiṃsā), từ ái (mettā) và bi mẫn (karuṇā) đưa đến cách cư xử sinh thái không chỉ giới hn với con người mà còn bao gồm với loài vt khác. Từ khi khoa học kỹ thut phát triển, thiên nhiên bng nghiệp hóa và điều khiển. Stiện nghi của chúng ta có được nhvào s trgiá đt đ của các loài sống: Biết bao nhiêu người đã phải chuyn chỗ ở cho stiến bộ đó, biết bao nhiêu loài biến mt mỗi năm, bản thân Trái đt ng n và kêu than. Đsdụng nguồn i nguyên không i to được, một khnăng trong tương lai gn nếu không có cách gì được làm thì có thlà tận ng của thiệt hi. Cho nên, lời cảnh báo phải được thực hiện trong quá trình tiêu thụ. Nên trong thuyết nhà Pht v phát triển kinh tế và xã hội, tiêu chuẩn tiên phong mà chính sách chính phn thực hiện là stt đp của tt cthành viên trong
 


xã hội như là tng th. Kinh tến được thiết lập tại ch mà thuộc vvà ngược lại chế đxã hội cần được nhìn như phn trọn vn của tng thhsinh thái. Vì thế sphát triển kinh tế n được hướng dẫn theo cách thúc đy slành mnh và tt đẹp của trt txã hội không m hại hthiên nhiên i mà loài người cư ngụ. Bằng cách chra rằng stheo đuổi tầm thường của xa hoa và thừa thãi là nguyên nhân của khổ đau, Pht giáo khuyến khích sự tiết chế, đơn gin thanh bần và i ng (biết va đ). Tán dương v tha như phm cht n bản và là đc điểm của người cao thượng, điều đó thúc đy sphân brng rãi của những i thiết yếu để một người không phải chịu ng thiếu. Ki niệm của đo Pht v một thế giới là nhà của tt cssống biếtvà tính cht ng như giá trị tích cực của lòng bi mn, xả ly và nhân tính là đóng góp quan trng đối vi vic xây dựng một tng thxã hội sinh ti tt lành.



TÀI LIỆU THAM KHO




Andersen, D and Smith, H (eds.) (1913) The Sutta-Nipāta, Pali Text Society, London.

Chapple, Christopher Key (1993) Nonviolence to Animals, Earth, and Self in Asian Traditions. Albany: SUNY Press.

Batchler, M and K Brown (eds.). (1992). Buddhism and Ecology,
London: Cassell.

Cooper, David E., and Simon P. James. (2005). Buddhism, Virtue and Environment. Ashgate, Burlington, VT

Dwiwedi, OP (ed.), (1989). World Religions and the Environment, Gilanjal Publishing House,New Delhi.

Fausböll, V (ed.) (1977-1897) The Jātaka, 6 vols. Luzac & Co, London.

Feer, M L (1884-1898). The Sayutta Nikāya, 5 vols. Pali Text Society, London.

Hahn,ThichNhat(2012).Nature and Non-Violence. http://www. awakin.org/read/view.php?tid=771 accessed on 18 May 2013.

Hall, H Fielding. (1902). The Soul of a People, Macmillan, London. Harris,Ian.(1991).HowenvironmentalistisBuddhism.Religion,21:101-14 Suzuki, D T (1959). Zen and Japanese Culture, BollingenFoundation,
New York

Tambiah, S J (1984). The Buddhist Saints of the Forest and the Cult of Amulets, Cambridge: Cambridge University Press.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây