2 ĐỊNH CHÂN CHÁNH VÀ SỰ AN ĐỊNH TÂM

Thứ tư - 08/05/2019 20:09
NS. Thích Nữ Huệ Liên
23






 
ĐỊNH CN CNH VÀ SAN ĐỊNH TÂM

 
NS. Thích NHuệ Liên





SỰ QUAN TRNG CA ĐỊNH CN CNH

San định tâm là điu kin ti quan trng đđem li đời sng xa hi an bình, gia đình hạnh phúc và cá nn an lc. Theo Pht giáo, s an định tâm có thđt được và lâu i bng phương pp thin định.

Chính Đức Pht đã tuyên bố thin định là một loại niết-bàn ngay trong đời này.

Định Chân Chánh (chánh định, sammà-samàdhi), yếu tố cuối ng của con đường có nghĩa là vic thiết lp vng chc stác ý vào một đim của tâm (cittasseggatà hay ekaggatà)1 hoc vic hướng tâm về một đối tượng độc nht của tâm, kng phân tán mà ổn định và lắng yên. Định tâm được thực hin với sự nỗ lực liên tục. Theo kinh Sa-môn Qủa (Sàmannaphala Sutta), định tâm đi trước vic đt đến các mức thin, là kết quả của tiến trình tu tp liên tục, bt đu với giới (sìlakkhandha) và đi trước sự chế ngự các căn (indriyasamvara) và stỉnh thức ca tâm và trí (satisampajanna). Stu tp này m cho thin gicó thđt hiu quca vic tịnh hóa ni tâm và ty sch m trlực hay chướng ngi (nìvarana) ra khi tâm.2

Đđt được TThin, công vic đu tiên là đưa tâm ra khi các khuynh hướng dục lc và bt thiện. Điu này đcp đến sloi trm chướng ngi (panca-nìvaranàni)3 được thực hin bng cnh nim.4


1. M. I. 301; MLS. I. 363; Trung I. 660.
2. D. I. 71; DB. I. 82; Trường I. 136.
  1. Vnăm chưng ngi (ngũ i, panca nìvaranàni) Đức Pht dy rng: Này các t-kheo, có năm chưng ngi gây ra smù quáng, không nhìn thy và vô minh, chúng ngăn ngi tugiác, thích hp vi đau khvà không đưa đến niết-bàn.Xem S. V. 97; KS. V. 81; Tương V. 155.
  2. D. II. 300; DB. II. 335; Trường II. 197.
 


Khi hành giả nhn thức rằng năm chướng ngại này (nìvarana) là cái làm ô nhim tâm và làm suy yếu trí tu, đã bị xóa bỏ và kng còn ở nơi mình na, thì san lc (pàmojjam) phát sinh và hlc (ti) xut hin. Trạng thái tâm vy trở nên thoải mái, lúc đó v y tn đy một cm giác an lc (passambhati), và tâm vy an trú trong san lc này. Vào lúc này, vy tnh xa dục lc, tnh xa nhng trạng thái xu ác, đi vào đệ nht thin, kèm với tm và tứ sinh ra từ sự tịch lặng, dễ chịu và say mê, và an trú ở đó.” Như vy tâm v y đt được một trạng thái định gọi là đệ nht thin, trong đó năm chướng ngại bị từ b, và có được năm yếu tố thin định.5 Năm yếu tố thin định là tm (vitakka), tứ (vicara), ssay mê hay h(ti), dễ chịu hay lc (sukha), và nht tâm (ekaggatà).6

Vic đt được đệ IV thin được xem là đt đến giải thoát tâm, nó kng có đau khổ hay hnh phúc.7

Stăng trưởng từ một bc thin này sang một bc thin khác được mô tbằng sự loại trdn nhng yếu tố của thin như sau:

Đệ I thin gồm 5 yếu tlà: tm, tư, h, lc và nht tâm (vitakka, vicàra, pĩti, sukha và ekaggatà)

ĐII thin (dutiya-jhãna) gồm h, lc và nht tâm. Tm và tứ bị dp tt.

ĐIII thin (tatiya-jhãna) liên quan đến hnh phúc và nht tâm. Ba yếu tđu gồm tm, tứ và lc vắng mt.

Đệ IV thin (cattuttha-jhãna) gồm xvà nht tâm và dp tt bốn yếu tkia (tm, tứ, hvà lc.)

CHÁNH ĐỊNH LÀ CHỈ (SAMMATHA) VÀ QUÁN (VIPASSANÀ)

Định chiếm vị trí cao nht vì nhờ định mà người ta đt được giác ngvà niết-bàn. Phương pháp định này được đt trên nn tảng kinh nghim bản thân Đức Pht trong sphát trin tâm linh, và như đã được kli, Ngài đã dùng nó để đt đến Giác Ng.

Định là sự nht m (cittekaggatà) được chia m hai hệ thống liên hệ nhau, đó là chỉ (samatha) và quán (vipassana, tuệ quán hay

5. M. I. 294; MLS. I. 354; Trung I. 646.
6. M. I. 294; MLS. I. 354; Trung I. 646. Cũng xem M. III. 25; MLS. III. 78; Trung III. 154.
7. M. I. 296; MLS. I. 357; Trung I. 650.
 


tuệ minh sát).8 Chỉ (samatha) có công năng điu hướng tâm trên một đối tượng tốt để loại trừ mọi đối tượng khác và nhng đối tượng xu để làm cho tâm định tỉnh. Một đối tượng tốt như thế được biết đến là một trong nhng đối tượng của Bốn nn tảng chánh nim, nó cũng được gọi là nhng du hiu tiêu biu của định. Vic phát trin định (samatha)cùng vi stu tp nó được bốn cnh tinh tn hỗ trợ.9 Trong giai đon này, người ta thy rõ ng ba yếu tnhư cnh tinh tn, cnh nim và cnh định vận nh hòa nhập vào nhau.

Chúng ta thy rõ ràng là chỉ (samatha) và quán (vipassana) xut hin đồng thời.10 Chúng kết hợp nhau để trit tiêu tt cả nhng khuynh hướng xu11 nhm làm định tâm và quán sát các pháp. Trong Kinh Tăng Chi B.12

Tt cả nhng điu này cho thy rằng chỉ (samatha) và quán (vipassana) kng gì khác hơn là chánh định (sammà-samàdhi) và chánh kiến (sammà-ditthi), cả hai kng thể bị tách rời nhau. kng có ch, quán kng thể phát trin. Kng có quán, chỉ kng thể tu tp.13 Skết hợp cả hai trong vic tu tp đưa đến giải thoát (vimutti), tâm giải thoát (cetovimutti) và tuệ giải thoát (pannàvimutti).

KHÔNG ĐỊNH (SUNNATÀ)
Kng Định (Sunnatà-samàdhi)14  được tu tp trong các cách

 
  1. D. III. 273; DB. III. 251; Trường II. 655. Tvipassanà gồm vi+passanà. Tpassati là nhìn thyvà tiếp đu ngvi’ thay thế cho đc bit hay riêng bit.
  2. M. I. 301; MLS. I. 363; Trung I. 660: Bn kinh lưu ý : “Định là , các du hiu pn bit định là , các điu kin tt yếu của định là , sphát trin của định là ? Bt cứ sự nht tâm nào đu là định; bốn nim xlà các du hiu pn bit của định; bốn nỗ lực tinh tn là các điu kin tt yếu của định; bt cứ sự tu tp nào, sphát trin, sgia tăng của các pp này, đu là s phát trin của định.
  3. M. III. 289; MLS. III. 338; Trung III. 646.
  4. A. I. 100; GS. I. 85f; Tăng I. 179: Đức Pht dy: “Này các t-kheo, để hiu biết đy đủ về thamvsự tiêu trừ hn tn, từ b, chấm dứt, hư hoại, phai tàn, bỏ và xả ly… để hiu biết đy đủ vn, si, ghét, đo đức givà n thù, ganh ghét và kng thin chí, lừa dối và phản bội, ngoan cvà bốc đồng, kiêu mạn và tự phụ, say mê tinh thần và sự lơi lỏng… hai điu kin phải được tu tp. Gì là hai? Định và Tu.
12. A. I. 61; GS. I. 55f; Tăng I. 117.
  1. Dhp. 372: “Kng có định cho người thiếu trí tu, cũng kng có trí tuệ cho người thiếu định. Nơi người có cả định và tu, người đó tht scó niết-bàn hin din: Natthi jhànam apannassa, pannà natthi ajhàyato, yamhi jhànam ca pannan ca sa ve nibbàna santike.”
  2. Thut ngtánh kng(S. Sùnyatà, P. sunnatà) cũng xut hin trong vài đoạn kinh Pàli. Xem M. III, 104ff; MLS. III, 147ff; Trung III, 291ff.
 


khác nhau.Thin giả thy rằng các pháp kng có cái ngã.15 Chúng là vô ngã vì câu nóicái gì đau kh, cái đó kng có ngã16 và vì bốn lý do, có nghĩa là trng kng, kng có chủ th, kng có cht, và đối lp cái ngã.17 Hành giả quán sát tt cả nhng điu này với tuệ giác hn ho, vy thy rằng kng cái gì có thể được cho là “tôi hay của tôihay cái ngã của tôi.18 Như vy định vtánh kng là sự quán chiếu vtt cả các pháp thế gian đu là vô thường, là khổ trong vô thường, và vô ngã trong kh.19

Hành giả tu tập định này là cái tuệ căn (pan-indriya) mạnh m.20 Như vy các pp thế gian xut hin với vy trong bn cht cn tht của cái kng, là kng có cái ngã. Tràn đy trí tuệ và xem các pp là vô ngã, vy đt được tuệ căn (pan-indriya) và được giải thoát bng sgiải thoát cái kng (P. sunnàta-vimokkha).21 Sau đó, vy bước vào con đường Dự Lưu (sotàpattimagga); vào giây phút đó vy được gọi là Dhamma Nusari (Tùy Pháp Hành, người nương theo giáo pp tu mà tnh công), một trong by v đệ tử cao c. Ở nhng giai đon hoàn thin cao hơn vsau, vy là Ditthippatta (Kiến Chí). Ở vào giai đon hoàn ho cao nht, vy slà bậc Tuệ Giải Thoát (Pannà-vimutta).22

TƯỚNG ĐỊNH (ANIMITTA-SAMÀDHI)

Vô Tướng Định là quán sát rằng mọi vt đu vô thường,23 chịu s hoại dit24 vì nó kng hin hữu sau khi có mt. Đó là trạng thái lên

 
  1. S. IV, 54; KS. IV, 29; Tương IV, 96: “Vì thế giới kng có cái ngã, hay không có cái thuộc vngã, cho nên nó được nói Thế giới là chân kng.” Gọi là thế giới cái gì có bn cht hay thay đổi (S. IV, 53; KS. IV, 29; Tương IV, 95).  Xem ở S. IV. 296; KS. IV. 205; Tương IV.
465: Chân kng là cái thuộc ngã hay thuộc về cái gì có liên quan đến ngã.Cũng xem M. I. 297f; MLS. I. 358; Trung I, 652.
  1. S. III, 22; KS. III, 21; Tương III, 47.
17. PP.746, n. 3; TTD. III, 310.
  1. S. III, 22; KS. III, 21; Tương III, 21: Cái gì kng có ngã, cái đó kng phải của tôi, kng phải tôi, kng phải cái ngã của tôi.Cũng xem M. I, 139; MLS. I, 178; Trung I, 316f.
  2. A. IV, 148; GS. IV, 102; Tăng III, 487.
20. PP.767, n. 31; TTD. III, 345.
  1. S. IV. 296; KS. IV. 205; Tương IV. 465.
  2. PP. xxi, 89, p. 774f; TTD. III, 358.
  3. Ngài  Pht-âm  đồng  hóa  giải  thoát  vô  tướng  với  sự  quán  chiếu  vô  thường (aniccànupassanà: PP. xxi, 73, tr. 769; n. 34; TTD. III, 349).
  4. D.II, 156; DB. II, 173; Trường I, 665: Đây là lời cuối cùng của Đức Pht: Shư hoại vốn sẵn có nơi các pp kết hợp. Hãy tinh tn lên để giải thoát.
 


và xuống,25 thay đổi, tm thời và kng thường còn.26

Khi người nào đó có nim tin vào vic xem tt cả các pháp kết hợp là vô thường,27 và kng chú tâm đến tướng trạng nào, an trú trong cái định tâm vô tướng (animitto cetosamàdhi, vô tướng tâm định),28 người đó đt đến giải thoát tâm vô tướng (animitto cetovimokkha).29 Sau đó tt cả các pháp duyên sinh hin ra với vy trong cái thực tướng hoại dit. Vy đt được tín căn (saddhindriya), và vy được giải thoát ngay khi bước vào con đường Dự Lưu (sotàpattimagga). Ở giây phút nhp vào dự lưu, vy được gọi là một Tùy Tín Hành (saddhànusà),30 một trong by vị đệ tử cao c, và trong by bc hn thin còn li, vy được gọi là Tín Giải Thoát (saddhàvimutta).31

Vô tướng tâm định (animitto cetosamàdhi) là một trạng thái tâm đã phát trin đt được nhờ vào sự tu tp (bhàvanà) tâm miên mt, trong đó tt cả các tướng trạng đu bị dp tt. Trong trạng thái tâm này tt cả nhng ám nh của tâm vắng bt và tâm có khuynh hướng thiên về tuệ quán (tuệ minh sát, vipassanà), nhìn thy cái tht tướng của các pháp (yathàbhùta-nàna).32

VÔ NGUYỆN TAM-MUỘI (APPANIHITA-SAMÀDHIS)
Định trên vô nguyn (appanihita-samàdhi) là quán chiếu mọi

 
  1. D. II, 144; DB. II, 159; Trường I, 649: Đức Pht nói với Ànanda: Vào nhng dịp trước, ta đã kng nói với người rằng trong chính bản cht của các pp gn gũi hay tn cn với chúng ta, chúng ta phải chia lìa chúng, rời bỏ chúng, tách rời khỏi chúng hay sao? Như vy này Ananda, m thế nào điu này có thể có được nơi một vt sinh ra, xut hin và được xác lập chứa đựng trong chính nó cái tính tan hoại sẵn có; m thế nào có thể có một chúng sanh kng bị tan hoi? Một điu như thế kng thể hin huCũng xem ở M. I, 380; MLS. II, 45; Trung II, 96: Cái gì có bản cht sinh đu có bản cht dit.
  2. PP. 746; TTD. III, 309f.
  3. S. III, 225; KS. III, 177; Tương III, 369.
  4. A. IV, 78; GS. IV, 45; Tăng III, 385: Một mô tvvic m thế nào Mamoggallàna bước vào và an trú trong địnnh tâm vô tướng (animitto cetosamàdhi, vô tướng tâm định) với sự trgiúp của Đức Pht.
  5. M. I. 298; MLS. I. 359; Trung I, 652: “Một t-kheo bng cách kng chú ý đến tướng trng o, bước và định m vô tướng, an trụ trong đó. Điu này được gọi là giải thoát m vô tướng.Cũng xem ở S. IV. 296; KS. IV. 205; Tương IV. 465f :“Kng suy nghĩ về mọi tướng trng, đt đến và an trú trong sự tĩnh lng đó của m vô tướng.
  6. S. III, 225; KS. III, 177; Tương III, 369.
  7. PP. xxi, 89, tr. 774; TT D. III, 358.
  8. EB. I. 676.
 


hin hữu của các hin tượng đu là khổ (dukkha).33 Khổ vì bốn lý do, đó là trong trạng thái tâm thiêu đốt, kcó thể chịu đựng, là nn móng của đau kh, và đối lp với vui sướng.34 Nó là khổ vì cái gì vô thường là kh.35 Nó liên quan đến vic hiu biết các pháp hin hữu là nguyên nhân gây ra kh, do sxung đột phát sinh từ tính cht luôn luôn thay đổi. Nếu sphát sinh này đến từ đau khổ thì vy đt được định căn (samàdhi-indriya) bởi vì vy có skhinh an lớn lao, vy thoát ra khỏi sgiải thoát vô nguyn (appanihitavimokkha), và trong số các bc phm hnh vy là bc Tn Chng (Kà yasakkhi). Nếu vy có một bc thin vô sc (arùpa-jhàna) làm căn bản cho tuệ quán, vy trở thành bc Giải Thoát bằng hai con đường (Ubhatobhàgavimutta).36

Tsnghiên cứu trên đây, ba loại định này có thể được hiu khi mô tả nhng sự quán chiếu ba đc tính (tilakkhana), đó là, vô thường (aniccatà), khổ (dukkhatà) và vô ngã (anattatà). Đây là ba khía cnh của sự chng ngộ thực tính của mọi hin tượng.37 Như vy sự chng ngnày kng bao giờ xut hin riêng rẽ; nó luôn luôn đi với nhau, và chúng cũng được gọi là ba cng giải thoát (Tam giải thoát môn, P. tìni vimokkhamukhàni, S. trìni vimoksa-mukhàni).38

LI ÍCH CA ĐỊNH CN CNH

Sự tu tp và phát trin chánh định mang đến nhng lợi lc khác nhau như sau:
    1. Thường xuyên sng trong hnh phúc ở đây và bây giờ trong kỷ lut của một thánh gi. Các bc thin định lợi lc kng chỉ trước tiên cho sự chng ngộ cuối cùng như một nn tảng của tuệ giác, mà con duy trì sự lợi lc của chúng ngay cả sau đó. Chính Đức Pht đã
 
  1. Pht-âm đồng hóa giải thoát vôi nguyn với sự quán chiếu vđau khổ (dukknupas- sanà: PP. xxi, 73, tr. 769; n. 34; TTD. III, 349).
  2. PP. xxi, tr. 746, chú thích 3; TTD. III, 310.
  3. S. III, 22; KS. III, 21; Tương III, 47.
  4. PP. xxi, 89, tr. 774; TTD. III, 358.
  5. S. III, 28; KS. III, 28; Tương III, 59.
  6. Ba cng giải thoát (P. tìni vimokkhamukhàni, S. trìni vimoksa-mukhàni) là kng giải thoát môn (P. sunnata-vimokkha-mukha, S. sùnyatà-vimoksa-mukha),vô tướng giải thoát môn (P. animitta-vimokkha-mukha, S. animitta-vimoksa-mukha), và vô nguyn giải thoát môn (P. appanihita-vimokkha-mukha, S. apranihita-vimoksa-mukha). Xem PP.xxi, 66, tr. 766 và 70, tr. 768; TTD. III, tr. 344, 347.
 


tuyên bố thin định là một loại niết-bàn ngay trong đời này.
  1. Biết các pháp đúng như chúng là và kng m víu vào chúng.39 Điu này có thể giải quyết vn đề của đời sng và vòng sanh tử tiên tục của nó bằng sự hoại dit hn tn của tt cả tham (lobha), sân (dosa) và si (moha).
 
  1. Đạt được tri thức của các loại ng lực siêu nhiên (thần thông, iddhividhanàna). Từ đệ tứ thin sc giới trở lên, m có định là thanh tịnh, chiếu sáng, tinh tế, kng xu ác, mm mỏng, sn sàng nh động, vng chãi và kng lo lắng.40 Đây là nn tảng để đt đến các loại ng lực siêu nhiên khác nhau (abhinnà).41 Mặt khác, Đức Pht dy rng Ngài chỉ thuyết nhng giáo pp có lợi lc (attha- samhita), nn tảng của đời sng cõi trời (àdi-brahmcariyaka), và dn đến nm cn (ekantanibbidà), đon dit các dục (nirodha), an lc (upasama), tri thức cao siêu (thần thông, abhinnà), dn đến giác ngộ (sambodhi), và niết-bàn.42

Trong số các loại thn thông, lau tan thong hay hình thức tri thức cuối cùng là quan trng và thiết yếu nht. Trí tuệ có sự trừ dit các lu hoc (àsavakkhaya) làm đối tượng.43 Sđt đến chỗ trừ dit các lu hoc (àsava) được xem là giải thoát (niết-bàn).







***





 
  1. S. III. 13-15; KS. III. 15f; Tương III. 31-34.
  2. D. I. 76; DB. I. 86; Trường I. 142.
  3. Sphát trin thin định đưa các nh giả đến nhng lợi lc của các năng lực siêu nhiên khác nhau bt cứ khi nào mà họ hướng đến hay đưa tâm về các loại năng lực siêu nhiên đó, cho nên Đức Pht nói: Với tâm nhu nhuyến, mm do, định kng giới hạn được hình tnh, vy hướng tâm đến chỗ chng ngộ tri thức tâm linh và đt được năng lực của mt trong mọi trường hợp, cho dù có thể ở cp bc nào.Xem A. IV. 420; GS. IV. 283; Tăng IV. 172. Cũng xem M. III. 96; MLS. III. 136; Trung III. 278 và A. I. 254; GS. I. 233; Tăng I. 461.
  4. D. III. 173; DB. III. 128; Trường II. 469. Cũng xem S. II. 223; KS. II. 151; Tương II. 348.
  5. D. III. 230; DB. III. 221; Trường II. 595.

30

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây