19 CÁCH TIẾP CẬN TÂM LÝ PHẬT GIÁO VÌ HOÀ BÌNH BỀN VỮNG

Thứ năm - 09/05/2019 00:13
TS. Dipen Barua
297







 
CÁCH TIẾP CN TÂM LÝ PHT GIÁO VÌ HOÀ BÌNH BỀN VỮNG


 

TS. Dipen Barua(*)







TÓM TT

Xã hội loài người là một quá trình vn động và khuynh hướng tâm lý của con người đã to ra một tác động rt lớn dn đến s xuống cp của thế giới chúng ta. Mọi người đu mong muốn và thích tn hưởng sự bình yên. Hin ti, nhiu tổ chức xã hội và các hot động xã hội khác đang cgắng đm bo nn hòa bình cho tn thế giới, nhưng nỗ lực của họ vn chưa đủ mnh để đánh mang lại hòa bình cho xã hội loài người. Tại sao thiết lp hòa bình trong xã hội loài người lại khó như thế? Theo như tôi nghĩ, con người đã trở nên dính mc vào một phn của ba căn nguyên bt thin. Chng nào còn trở thành một phn của ba căn nguyên xu y thì chúng ta kng thể tìm thy sự bình yên trong xã hội loài người. Theo quan đim của Pht giáo, có thể nói rằng kng có con đường cho hòa bình, nhưng hòa bình chính là con đường.

Pht giáo hiu phương thức khác nhau của các yếu tm lý được kết hợp trong vic phá vỡ mối quan hệ của con người với nhau. Bài kinh Mahānina sutta (kinh Đại Duyên) của Trường Bộ Kinh




*. Centre of Buddhist Studies, The University of Hong Kong. Người dịch: Thích Chúc Tín
 


(Dīgha Nikāya - II 55) minh ha các nguyên nhân tâm lý khác nhau dn đến tình trạng hỗn lon. Vào cuối bài thoi, Đức Pht giải thích hàng lot đau khổ xut phát từ khuynh hướng tiêu cực của tâm trí. Hơn na, theo Pht giáo, các cuộc xung đột và chiến tranh tàn phá luôn bt nguồn từ nhng dòng chy nội tâm cá nhân (āsava) hoc phin não (kilesa) mà chyếu là các trạng thái tâm lý.

Ví dụ, Madhupiṇḍika Sutta của MN (I 108) cho thy chúng sinh bị vướng vào nhng suy nghĩ bt thin cùng với tn bộ quá trình tăng nhanh các khái nim (papañca) nên đã gây ra nhiu chướng ngại cho cuộc sng của con người. Theo quan đim của Pht giáo, để thiết lp hòa bình lâu bn cho thế giới nhân sinh, trước hết chúng ta phải hiu bản cht và nhu cu tâm lý của con người. T quan đim xã hội học, Pht giáo đưa ra các nguyên tc đo đức là đủ tt, tốt hơn là slãnh đo hoc người lãnh đo dựa trên tính cách bởi vì đo đức của con người sẽ bị hủy hoại do một số tình huống. Nghiên cứu này sẽ ghi nhn làm thế nào để các nguyên tc đo đức Pht giáo đủ mnh để thiết lp nn hòa bình lâu bn cho thế giới con người.
Tkhóa: Pht giáo, Hòa bình, Tâm lý hc, Lãnh đạo, Xã hi


 

GIỚI THIỆU


Phân tích của Pht giáo về hòa bình bn vng khác với cách hiu hin đại về hòa bình bn vng. Theo cách nhìn của Pht giáo, khái nim hòa bình bn vng mang tính cht m lý nhiu hơn. Mặt khác, sự hiu biết hin đại về hòa bình bn vng là một quá trình ng động vì nó tập trung vào sđa dng trong tương tác tượng trưng, ngụ ý rng hòa bình là một sn phẩm tập thể kết hợp một chuỗi các nh vi thay đổi và cân bng, và đối thoại liên tục giữa các nh động cá nn và thế giới xã hội. Trong cách này, mc dù xã hội của chúng ta đang được hưởng lợi, tại sao nh động thiết lập hòa bình bn vng vẫn còn yếu kém. Tại thời đim này, để nắm bt hòa bình bn vng, điu quan trng là phải thu hiu sxung đột một cách trọn vn. Trong kinh đin Pāli như Sakkapañha Sutta của DN, xung đột được hiu là sự đối nghịch của hòa bình, đó là s ràng buộc của ghen tị và tính tham lam (issā-mcchariya-saññojanā)
 


khiến mọi người sng trong căm ghét, gây tổn thương cho nhau, thù địch và thù hn (saverā sadaṇḍā sasapattā sabyāpajjā viharanti (DN II 276)). Mt khác, hòa bình được hiu là sự đối nghịch của xung đột, đó là sự thiếu vắng sự ghen tị và sự thờ ơ khiến mọi người sng kng thù ghét, kng làm hi, kng thù địch và thù hn ln nhau (DN II 277). Trong mối tương quan này, Madhupiṇḍika Sutta của DN được nhc đến là để chng minh nhng chúng sinh kng có duyên với giáo lý của Đức Pht, do đó, họ bị vướng vào nhng suy nghĩ bt thin như sự ghen tị và tham lam trong tn bộ quá trình phát trin khái nim (papañca), được kết nối với quá trình nhn thức giác quan, trong khi tt cả các xung đột và sự thù địch tự hủy hoại trong các xã hội lớn hơn luôn bt nguồn từ dòng chy bên trong (āsava) hoc phin não (kilesa) trong tâm của con người. Chyếu từ góc độ của phương pháp tâm lý học Pht giáo vì hòa bình bn vng, bài viết này tho lun cách hiu của Pht giáo vxung đột và hòa bình khác với nn tảng hin đại như thế nào. Bài viết này đề xut làm thế nào các nguyên tc và thực hành Pht giáo khác nhau, tp trung vào gốc rtâm lý, có thể được áp dụng và mở rng để phát trin tự thân theo phm trù rng hơn của hòa bình bn vng theo cách thực tế, kng đảng phái và thái độ ôn hòa.

 
  1. HIỂU BIT HIỆN ĐI VỀ HOÀ BÌNH

Trong bối cnh rng lớn hơn, phm vi chính để xây dựng hòa bình là phn ánh sự ổn định chung giữa các nn văn hóa khác nhau. Bởi vì làn sóng tn cu hóa chính trvà kinh tế dường như kng to ra sự hòa hợp xã hội hay liên đn hòa bình. Có phê bình rằng hình thức tn cu hóa này dựa trên các giá trị của chnghĩa bản phổ quát, trong khi xung đột phát sinh và thống trkhp nơi. Nhìn vào bối cnh này, nhng người ủng hộ xung đột hin đại như David Delster (1994) đã phân loại khái nim xung đột theo bốn nguyên tc:
  1. Nguyên nhân nn tảng - như các đường li cơ bản của xung đột ở cp chính tr, xã hội và kinh tế.
 
  1. Chiến lược huy động - trong khi vì lợi ích của các nhà lãnh đo chính trđang cgắng thực hin các chương trình nghị sự chính
 


của h.
  1. Kích hot - vì các yếu tkhiến các nhà hoch định chính sách thu hp mục tiêu theo cách làm cho cách tiếp cn hòa bình gim đi và xung đột hành động nhiu hơn.
 
  1. Cht xúc tác - nhng yếu tnh hưởng đến sức mnh và thời gian của cuộc xung đột trong một xã hội.

Bên cnh đó, trong xã hội hin đại của chúng ta, các phương tin truyn thông mạng xã hội góp phn kng kém để xy ra xung đột khác nhau. Nó đã thách thức cách chúng ta suy nghĩ về tương tác cá nhân, to ra nhng cách thức mới để thiết lp các phong trào và doanh nghip và cho phép mọi người điu chỉnh mức s dụng phương tin thông tin của họ hơn bao giờ hết. Mặc dù mt tích cực của vic sử dụng các phương tin truyn thông xã hội như Facebook, Twitter và Instagram đã giúp chúng tôi tương tác hiu quả tâm mình với thế giới trực tuyến, vic lm dụng các trang web mạng xã hội cũng có khnăng tác động tiêu cực đến tương tác xã hội. Giống như cuộc đình công mục tiêu gimà có thể giết chết hàng tm người bằng một ln chm duy nht với một nút cách hàng ngàn dm và che mờ đi sự ghê tởm khnăng giết chết một người khác. Phương tin truyn thông xã hội đã to điu kin dễ dàng hơn để làm nhng điu chúng ta skng bao giờ nghĩ đến và thực hin đối với ai đó: xúc phm họ hoc vui thích trong bt hnh của h, hoc nói dối để đt được một số lợi thế so với h? Do đó phương tin truyn thông xã hội như một cái dao hai lưỡi có thể gây tổn hại cho hòa bình giữa mọi người và cùng lúc to ra xung đột trong xã hội của chúng ta. Ví dụ, vào tháng 9 năm 2012, một bức nh cho thy một quyn Koran linh thiêng bị cháy đã được gn thẻ trên trang mạng xã hội Facebook của cu bé Pht tử Uttam Barua, người được cho là đã xúc phm đo Hồi đã gây ra một cơn phn nộ dn đến stàn phá tàn khốc của các ngôi chùa Pht giáo tại Ramu phía đông nam Bangladesh. Hàng ngàn người Hồi giáo cực đoan đã đốt cháy và cướp phá hơn hai mươi ngôi chùa và hơn năm mươi ngôi nhà được coi là cuộc tn công tồi tệ nht đối với cng đồng Pht giáo kể từ khi Bangladesh độc lp vào năm 1971. Thảm kịch đã bị chuyn sang nhng nơi khác ở qun Chittagong với vic phá hoại cả hai ngôi chùa Pht giáo và n Đgiáo (BBC, 2012).
 


Persch lp lun rằng Facebook có thể gây ra làn sóng ghen tị và mt lòng tin trong các mối quan hệ của con người (Persch, 2009). Tương tự, nhà triết học bin chng Herbert Marcuse (1898 - 1979) suy ngm rằng công nghệ sẽ đóng vai trò giải png con người. Bởi vì được phát trin trong một cu trúc và văn hóa ý thức hệ nht định, bản thân công nghệ có thể là một hình thức ý thức hệ áp bức góp phn vào sự thống trị nhiu hơn là tự do. Marcuse đc bit xác định văn hóa Mỹ ở thời đại của ông là một trong nhng thời k thống tr, bo lực và tiêu dùng như là sự bù đp cho sự tha hóa như nhng nh răng trong bộ máy tư bản (Kurtul, và Mete, 2016).

Lun giải của các học giả nói trên, cng hưởng mnh mẽ trong thời đại đương đại của chúng ta, với phương tin truyn thông xã hội chc chn là phương thức xác định của truyn thông công ngh. Vvn đề này, Delster có bốn loại hình được Dan Smith áp dụng cho giải quyết xung đột như:

Đặc bit là hai loại đu tiên - nguyên nhân cơ bản và các chiến lược huy động - phải được giải quyết trong bt kỳ nỗ lực nào để ngăn chn leo thang xung đột bo lực. Loại cuối cùng - cht xúc tác
- có thể quan trng kng kém khi xem xét làm thế nào để chm dứt bo lực (Smith, 2004).

Tuy nhiên, trong bt kyếu ttâm lý ở trên, kng có yếu t tâm lý nào được đề cp rằng các xu hướng tinh thn của chúng ta, như tham lam, ghen ghét, ghen tuông, keo kit, đóng vai trò quan trng như thế nào trong vic xy ra xung đột và svắng mt nhng xu hướng này mang lại hòa bình bn vng theo cách nào. Theo cách hiu này, người ta có thể nói phân tích của Pht giáo vxung đột khác với cách hiu hin đại vxung đột. Sự hiu biết hin đại vxung đột chyếu xác định sđa dạng của các nguyên nhân tim n của xung đột vũ trang mà Delster hiu từ nguyên nhân cơ bản và các chiến lược huy động đến các tác nhân và cht xúc tác. Tại thời đim này, lp lun của tôi chuyn sang phân tích của Pht giáo vxung đột rằng tâm trí của chúng ta bị ám nh ở mức độ nào bởi lòng tham, thù hn và si mê to ra xung đột trong chúng ta.
  1. CĂN NGUYÊN TÂM LÝ VÀ YẾU TGÓP PHN TO RA XUNG ĐT

Giải thích theo lun đim Pht giáo vxung đột, chúng tôi đã
 


xác định sự ghen tị và thờ ơ là yếu tgóp phn cho sbt an tự gây nh hưởng đến sự cân bằng hòa bình trong xã hội. Sự ghen t và sự thờ ơ này là nguồn gốc của sự tranh chp ny sinh trong các yếu tố cá nhân của con người và mối quan hệ giữa các cá nhân. Đối với lý thuyết Pht giáo vsự đồng phát sinh phụ thuộc (pa -icca- samuppāda), các điu kin ghen tmâu thun, đc bit là về các thuộc tính tinh thn. Chúng là trạng thái tinh thn trong đó một cá nhân kng hài lòng với nhng người khác tốt hơn bản thân mình và sự ghen tị là sn gin đối với người khác, cn phải loại b. V vn đề này chúng tôi hiu, xung đột trong con mt Pht giáo ch yếu là tâm lý và ny sinh thông qua các hành vi thể cht, lời nói và tinh thn được gọi là ba độc. Trong bài kinh Mahānidāna của DN, bản cht của xung đột được tho lun thông qua lý thuyết đồng phát sinh phụ thuộc như:

Cảm thy điều kiện tham ái, tìm kiếm điều kiện tham ái, tìm cách sỡ hữu điều kiện, quyết đnh sở hữu điều kiện, ham mun điều kiện ra quyết đnh, ham mun và dính chấp vào điều kiện, cm gậy và kiếm, cãi nhau, xung đt, cãi vã, tranh chấp, lm dụng, nói di và nhiều trng thái không tốt khác (DN II 58 - 59).

Từ đoạn văn trên, người ta hiu rằng khi mọi người xung đột với nhau, họ cm vũ khí, họ đánh nhau, cãi nhau, tranh chp, lăng m, vu khống và nói dối. Cuộc xung đột sau đó biến thành bo lực, trong đó mọi người thể hin hành vi xu xa, độc ác, kng tử tế, kng trung thực, bt chính và vô kỷ lut. Trong sự tương quan này khi xung đột lên đến đỉnh đim, một cá nhân đy sự thù hn bị ám nh bởi thân th, lời nói và tâm trí, sau đó anh ta nghĩ rằng “tôi là người mnh mẽ và tôi muốn quyn lực(bal balamamo balattho itipi) (AN I 201)). Ở đây cn phải hiu rằng ba cánh cửa - thân th, lời nói và ý - được khc sâu và là nhng gốc rbt thin hỗ trln nhau (akusala-m pola) của ba cht độc - tham lam (lobha), hn thù (dosa) và si mê (moha) - được đt bên trong các thiên hướng đam mê và nhn thức của mỗi cá nhân và thúc đy họ thực hin các hành động ý chí bt lợi (kamma). Do lòng tham vng của đế quốc bên ngoài thông qua các mưu đồ nh trướng và đe da như tranh giành tài nguyên thiên nhiên và mở rng sang các khu vực nóng khi chính quyn stại còn đang bt ổn. Lt lọng và hủy hoại khi kng biết tự lượng sức là phổ biến khi chúng ta thực hin bt k hành động
 


nào để đáp ứng mong muốn vt cht kng giới hn của chúng ta. Do lòng thù hn của chúng ta, chúng ta to ra và thúc đy bo lực trong phân bit đối xử. Và do o tưởng chúng ta luôn tuân ths hiu biết thông thường và u mê về cách gìn giữ hòa bình. Do đó, với quan đim lch lc, chúng ta suy nghĩ kng đúng đn với sự chú ý kng phù hợp (ayoniso-manasikāra) dn đến vic chúng ta dành năng lượng đáng kể trong vic bin minh và hợp lý hóa định kiến cá nhân của chúng ta như là sự tht khách quan của cá nhân ta. Hcoi tt cả các xung đột là phương tin cn thiết để nâng cao quan đim giáo điu của chúng ta qua nhng lời hoa mvà quan nim sai lm của chúng ta. Do đó, bài din văn của Đức Pht được gọi là Kinh Alagaddupama của MN dy vsnguy him trong vic m cht vào ý thức hệ như:

Này các T-kheo, ở đây có một sngười ngu si học pháp như kinh, ứng tụng, giải thuyết, kệ tụng, cm hng ngữ, như thị ngữ, bổn sanh, vtằng hữu pháp, phương qung. Sau khi học các pháp này họ kng quán sát ý nghĩa nhng pháp y với trí tu. Nhng pháp y vì ý nghĩa kng được trí tuệ quán sát, nên kng trở thành rõ ràng. Họ học các pháp chỉ vì lợi ích, muốn chỉ trích người khác, chỉ vì lợi ích muốn thõa khoái khu bin lun, và họ kng đt được mục tiêu mà sự học pháp hướng đến. Nhng pháp y vì nm giữ sai lc nên đưa họ đến bt hnh, đau khổ lâu dài. Vì sao vy? Này các T-kheo, vì nm giữ sai lc các pháp đó(MN I 134).

Đoạn trên có thể áp dụng cho tt cả các cá nhân có khuynh hướng tim n (anusaya) trong tâm thông qua vic tuân theo các quan đim giáo điu một cách kiên quyết rằng chỉ đơn gin là xem xét mọi thứ, ngoại trừ quan đim tự giáo của h, trong số đó tt cả các đối tác giáo điu là thp kém. Do đó, từ quan đim của Pht giáo người ta hiu rằng khi mọi người sng trong xung đột, họ bị sa ly trong shn thù, thù địch, thô l, ghen tuông, keo kit, lừa dối, kng trung thực, ác ý và quan đim sai lm. Vvn đề này, xung đột vcơ bản là tâm lý do sự tham lam, thù hn và si mê, tức là Tam độc. Do đó, chúng ta phải có nhng sáng kiến để theo đuổi hòa bình bằng cách áp dụng các nguyên tc của tình huynh đ, tôn trng ln nhau và hòa hợp, và bằng cách tưới tm cho tâm của chúng ta và tăng cường các hot động phù hợp.
 
 
  1. STN TI HTRLN NHAU VÌ HÒA BÌNH BN VỮNG

Theo quan đim của Pht giáo, xung đột tồn tại giữa nhng nhng chúng sinh kng được giáo dục ở bt kể đa vvà vị trí xã hội nào. Nhng chúng sinh kng được giáo hun luôn luôn nhn thức và thu nhn vào và từ nhng con số cứng nhc của sgiàu có cá nhân, sau đó họ coi chúng là nhng phn vĩnh cửu, độc lp và đáng kể của tôi’ hoc cái tôi” trong h. Ch“tôirốt cuộc đã thúc đy họ đt được shài lòng vmt cm giác như danh vng và vn may như nhng phân đoạn cái tôi” của h. Với svô minh của con người (avijjā), với tâm phin phin não họ bị dn li để nhìn thy mọi cơ hội có thể mở rng và phát trin chính trlà một cách tiếp cn thực tế nhưng kng có đim ngng để mong muốn tự bo vệ mình. Đáng tiếc, tt cả nhng điu này với bản cht kng hn ho và giới hn kng thể mang lại cho chúng ta cm giác bình yên và hnh phúc đích thực nhưng sràng buộc vô tn của đau khổ bt nguồn từ tình trạng tm thời và stồn tại kng an tn của nhng khổ đau này. Tuy nhiên, trong stồn tại của thế giới này, làm thế nào để chúng ta cùng nhau duy trì hòa bình bn vng? Bây giờ chúng ta tho lun với một snguồn văn bản hỗ trợ của Pāli.

Trong thế giới hin sinh hỗ trln nhau thì nhân dân được dn dt bởi các nhà lãnh đo, cả trong chính phvà ngoài chính phủ. Các văn bản Pht giáo từ lâu đã được liên hệ đến vic lãnh đo vì các nhà lãnh đo luôn tồn tại trong bối cnh cng đồng. Do đó, saṅgha (cng đồng) đã được kết nối, từ nhng ngày đu tiên của nó, với các loại lãnh đo khác nhau mà Pht giáo chm ti, từ sagha đến các hộ gia đình và làng mc và rõ ràng là ở cp chính phủ. Các hướng dn hoc công bố vxã hội, chính trvà kinh tế được tìm thy trong một skinh đin Pht giáo sơ khai bao gồm Mahāhaṃsa Jātaka (534). Theo Mahāhaṃsa Jātaka, một nhà lãnh đo nên có trách nhim, trung thực và sn sàng hy sinh khi cn thiết. Nhng phm cht này được mô tả thêm là mười giới, còn được gọi là mười đức hnh giải thoát của một tu sĩ Pht giáo” (dasa-rājadhamma): rng lượng, đo đức, tự hy sinh, trung thực, nhẹ nhàng, tự chủ; kng tức gin, kng bo lực, nhn nhục và ngay thẳng (dānaṃ sīlaṃ pariccāgaṃ, ajjavaṃ maddavaṃ tapaṃ,  akkodhaṃ  avihiṃsañca,  khantiñca  avirodhanaṃ  (The
 


Mahāhaṃsa Jātaka, 176).

Qun trtốt tài ng và lý tưởng của con người hướng đến được mục tiêu quốc gia, phát trin bn vng và công bng xã hội. Một khía cnh của qun trtốt được nhìn nhận là sự qun lý đúng đn nguồn lực kinh tế và xã hội của một quốc gia để phát trin. Một nhà nh đo có đo đức cũng là một ví dụ cho mọi người, người ta có thể thy cách sng của họ có thể to ra skhác bit trong cuộc sng ng ngày của chính h. Trong bài kinh Cakkavatti Sihanāda của DN, Đức Pht đã dy vsbt bình đng vkinh tế m to ra khong cách giàu nghèo. Bài kinh xác định vấn đề cơ bn của một nhà nước là vic đm bảo sinh kế, cn được giải quyết trước khi tt cả các vấn đề tiếp theo có thể được giải quyết. Có một câu chuyn về một tên trộm đã bị bt và đưa đến trước nhà vua. Tên trộm giải thích rng anh ta chỉ đơn giản là đánh cp tài sn của người khác vì anh ta nghèo. Vì vy, nhà vua đã cho anh ta một số tin và yêu cu anh ta bt đu kinh doanh. Sau đó, nhng người khác quyết định đánh cp nhng thkhác đó để nhận được sự đối xử tương tự từ nhà vua. Tuy nhiên lần này nhà vua ra lnh xử tử nhng tên trm. Do đó, người nh đo phải có khng nhận ra skhác bit giữa ý định và kết quả có thể lường trước của nhng ý định đó. Đức Pht đã giải thích đo đức của câu chuyn này:

Như vy, các tkheo! Tvic kng trao tài sn cho người nghèo, nghèo đói gia tăng từ sự lười biếng, tội phm trộm cp ngày càng tăng, từ sgia tăng của trộm cp đn đến vic sử dụng vũ k gia tăng, từ vic sử dụng vũ kngày càng tăng thì xã hội càng bt dn đến tuổi thọ và cơ hội của mọi người gim (DN III 68).1

Chính trị trên tn thế giới đang bị khng hoảng và bt ổn định bởi các lực lượng vượt ra ngoài tm kim soát của các nhà lãnh đo quốc gia. Đức hnh tốt và có tm nhìn chiến lược có thể đóng vai trò là yếu tố quyết định trong tt cả các lĩnh vực mà mọi người quan tâm. Là người đứng đu một cng đồng hoc một quốc gia, nhng

1 iti kho bhikkhave adhanānaṃ dhane ananuppadīyamāne dāḷiddiyaṃ vepullamagamāsi. Dāḷiddiye vepullaṃ gate adinnādānaṃ vepullamagamāsi, adinnādāne vepullaṃ gate satthaṃ vepullamagamāsi. Satthe vepullaṃ gate pāṇātipāto vepullamagamāsi. Pāṇātipāte vepullaṃ gate tesaṃ sattānaṃ āyu pi parihāyi, vaṇṇo pi parihāyi.
 


lý tưởng truyn giúp cho mọi người dân sng hạnh phúc và khỏe mạnh. Do đó hòa bình bn vng của một quốc gia phụ thuộc rt nhiu vào các nh động được thực hin bởi nhà nh đo và nhà nh đo phải dựa vào đức hạnh. Phong to quốc gia cũng cn phải đm bảo cho người dân nhng nhu cu cơ bn về thức ăn, chỗ ở và đồ mc. Bài kinh Kuṭadanta ca DN đề cp đến một vvua là Mahāvijita, người muốn tổ chức một lễ hiến tế với quy mô lớn để cu mong san lc và lợi ích cho từng cá nn. Tuy nhiên quan thượng thư ngăn cn và nói rng nếu có thuế trong vương quốc đó slà điu sai trái. Thay vào đó, quan thượng thư đưa ra một giải pp rng trong vương quốc đang tham gia trng trọt và cn nuôi gia súc, nên pn phối ngũ cốc và thức ăn gia súc. Trong thương mại là cung cp vốn, và phục vụ chính phủ thì được trmức lương đủ sng. Nhà vua đã m theo ba chỉ dn này và ban cho người dân nhng thứ cn thiết và phù hợp với từng người. Kết quả là mọi người đu hạnh phúc và sng trong nim vui (DN I 135-36). Trong bài kinh này, Đức Pht đã nhận ra nhng vấn đề kinh tế lớn của đt nước và Ngài đã đề xut các bin pp tức thời. Theo bài kinh, gốc rễ của mọi vấn đề ở bt kỳ quốc gia nào là vấn đề sn xut và pn phối thực phẩm. Trước tiên, nhà nước nên cung cp thực phẩm cho người dân thông qua vic tổ chức trng trt, sau đó cung cp vốn cho thương nn và mức lương hợp lý cho công chức chính phủ. Do đó, chúng ta có thể nói rng các khái nim kinh tế được tho lun trong giáo lý của Đức Pht kng phải là nn kinh tế thị trường tư bn chnghĩa, cũng kng phải là nn kinh tế xã hội chnghĩa hoàn toàn. Thay vào đó Đức Pht đưa ra một cách tiếp cn tiến bộ đối với giải pp cho snghèo đói của con người. Trong bối cnh ngày nay, khi bt bình đng toàn cu một lần nữa đang gia ng, giáo lý của Đức Pht vẫn rt phù hợp cho hòa bình bn vng.

Vì rằng chúng ta đang trải nghim các trạng thái tinh thn, đó ng là một phn hệ quả của các nhu cu xã hội ngày càng tăng. Vic thách thức truyn thống Pht giáo là bỏ qua các vn đề xã hội và khuyến khích từ bỏ thay vì tăng cường là kng hợp lý, đc bit là nhng mâu thun tồn tại giữa hai tầng này bị phụ thuộc ln nhau trong xã hội Pht giáo. Hơn na, mc dù mục tiêu tối thượng của Pht giáo là luôn giải thoát khỏi saṃsāra (luân hồi), chúng ta kng bao giờ nên loại trừ nhng nỗ lực của Pht pháp là làm cho
 


các no luân hồi bớt khổ đau và giải quyết các vn đề xã hội thực tế vì Đức Pht nhn mnh rằng bản thân luôn là nơi nương tựa của chính mình (attā hi attano nātho (The Dhammapada - 380), tự lực là giải pháp tinh thn tốt nht để giải quyết mọi vn đề của con người.

Mọi người luôn hành động theo cách mở đường cho các cuộc xung đột mc dù tt cả họ đu thích sng trong hòa bình. Tuy nhiên, họ kng bao giờ bị định đot bởi sphn phải sng trong nhng xung đột bt tn hoc đau khổ đến từ một gốc r. Csự cứu rỗi cá nhân và khng hoảng xã hội đu có thể được hòa giải thông qua vic trau dồi nhng hiu biết phù hợp và áp dụng các phương pháp tích cực trong Pht giáo. Hin nay, nhu cu cp thiết nht của chúng ta kng chỉ đơn gin là kng có chiến tranh và xung đột mà hơn thế là vic to ra các giá trị cá nhân khẳng định cuộc sng, nâng tm cuộc sng và tiến đến một xã phát trin, văn minh. Các nhà lãnh đo chính trcó thể đt được hòa bình bên trong khi tâm của họ kng có nhng suy nghĩ nhiu lon và nhng cm xúc áp bức như giải trừ quân bị nội b, và từ đó xây dựng nn tảng cho hòa bình bên ngoài như cng đồng và thế giới. Rốt cuộc, đó là quá trình tự phát trin liên tục và có hệ thống để biến đổi một cá nhân từ bản thể của mình thành một lot các nhân vt quan trng.
  1. KT LUN

Đgiảm thiu xung đột, Pht giáo khuyến khích lòng từ bi (metta) luôn hin hin khi mọi người thể hin sự quan m vô tận và vô tư nhưng kng pn bit đối xvà bt hạnh. Ngày nay, chúng ta chng kiến nhng kkhng bố luôn đánh bom nhiu quốc gia gây ra nhng tổn tht nặng n, nhưng dù sao chính phủ cũng nên kim chế chiến tranh n khốc cho dù ng lực của họ thế nào. Tương tự như cách Đức Pht tha thkhi bị Devadatta, một tu sĩ và anh em họ của Đức Pht liên tục đã kích và chống phá, điu này tránh cho họ khỏi vic duy trì và gây ra thêm sn phá và bạo lực nhiu hơn trong một chu ko thù bt tận, đc bit là chỉ có tình yêu và s kng cự nên có thể chấm dứt thù hận trên toàn thế giới.

Một phm cht khác là lòng trc n (karuṇā) luôn được biu lộ vào nhng thời đim kng vui hoc đau kh. Tt cả các nhà lãnh đo sẽ cn phải học cách điu hành hệ thống qun lý nhà nước như
 


được phản ánh trong Kūṭadanta Sutta. Lời khuyên quý giá dành cho Vua Mahāvijita với nguồn lực dồi dào do Brahman Kūṭadanta đề xut là hạnh phúc của người dân trong nước có thể đt được thông qua vic mang lại cho họ phúc lợi như thức ăn cho nông dân và vốn cho thương nn để đm bảo nhu cu cơ bn của h, đc bit là khi nghèo đói là một trong nhng lý do chính của xung đột chính tr. Tt cả nhng khác bit về ý thức hệ nên tạm thời gác lại khi chủ quyn quốc gia và sự ổn định xã hội kng bao giờ nên là lá chắn hoặc lý do để nhắm mt m ngơ. Điu này lặp lại với sự nhấn mạnh của Đức Pht v vic vượt xa tinh thần của tình tn gia đình đến tình thương toàn cu. Khi nói về nim vui cm thông (Muditā), con người phải luôn chia sẻ cả nim vui thay vì luôn ghen tị đối với nỗ lực, danh tiếng và tnh công của người khác. Thông thường các nhà nh đo của chế độ độc tài âm mưu chống lại nhng tng thống được bầu phổ biến trong các nn dân chvì họ hiu rng các nguyên trng hin tại của họ chỉ có thể được duy trì trong một hệ thống được thao túng tốt. Thay vì chối bỏ nỗ lực và tài ng của h, họ nên và luôn đánh giá cao và thậm chí học hỏi từ nhng đim mạnh của h.

Cuối cùng, sự thanh thản (upekkha) là điu kng thường hằng đáng kinh ngc trong thế giới đương đi. Mc dù tính cách trung lập như vy thường phổ biến trong số nhng vị A-la-n hoàn toàn buông bỏ hoặc loại bỏ tt cả các yếu tbt thin, người ta vẫn có thể áp dụng cho nh vi thông thường của con người chúng ta như một sự đối nghịch trực tiếp với định kiến và pn bit đối xử. Thay vì nhấn mạnh skhác bit đc bit, các nhà nh đo nên rút ra nhng đim tương đồng như mối quan hệ họ ng với sự tin tưởng, tôn trng và công nhận, thúc giục họ phải hướng vphía trước và kết nối với tt cả các yếu tphổ quát thẩm sâu trong cuộc sng. Xây dựng trên nn tảng mối quan hệ tương h, tt cả con người trong thực tế luôn luôn giống như chính họ hơn là kng giống nhau, ngụ ý rng tt cả các cá nn luôn được trao quyn bình đng. Trong khi đó, điu này củng cố các yêu sách trong cả Mahāpadāna Sutta và Cakkavattisīhanāda Sutta khi đó là tch nhim thiết yếu của các quy tc nhằm bảo vcông lý với sự quan m và bảo vệ đối với tt cả nhng người thiu số bị thit thòi. Do các nhà nh đo quốc gia luôn là đại din của công chúng nói chung, Đức Pht đưa ra một
 


phương tin truyn thông rằng các trách nhim và cam kết đo đức của nhà lãnh đo cónh hưởng đến các định hướng và tiêu chun tn din của các xã hội tương ứng kng thể phủ nhn, trong đó có công chúng. Điu này cho thy các nhà lãnh đo - công dân đang hợp tác với các lợi ích phục vln nhau luôn nổi bt để duy trì hòa bình bn vng. Tôi nhn mnh nhng gì giáo lý Pht giáo có thể cho chúng ta biết vnguồn gốc của xung đột:



Nhng lời nói xu đổ li cho người khác, Nhng lời ngo mn làm nhục người khác.
Từ nhng hành vi này, chuốc hn thù và n gin…. Do đó mâu thun ny sinh, tâm người luôn độc hi. (The Dhammapada, T 4:210) (Quoted in Yeh, 2006).
Và làm thế nào Pht pháp có thể giúp dp tt xung đột như vy.
Người sống trong lòng trc n sẽ không có ý định xung đt;
Người sống tốt bng sẽ ln hành đng phù hợp nht.
(The Dhammapada, T 4:210) (Quoted in Yeh, 2006).

310

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây