18. TÂM TRONG SỰ HÒA HỢP: QUAN ĐIỂM PHẬT GIÁO

Thứ năm - 09/05/2019 23:57
Dr. Indu Girish Bhalwar




 
TÂM TRONG SỰ HÒA HỢP: QUAN ĐIM PHT GIÁO

Dr. Indu Girish Bhalwar*






Ngày nay, nn văn hóa tn cu vốn đang phát trin với tốc độ chóng mt hin có xu hướng tp trung vào chnghĩa vt cht. Đa s các cá nhân, với nhng tham vng về thành tựu, tài chính, tin nghi vt cht và sự hn ho bề ngoài, bị buộc phải trgiá dưới hình thức chịu đựng sự căng thẳng quá mức về thể cht ln tinh thn. Mưu cu phát đt điên cuồng - trớ trêu đã trở thành nguyên nhân gốc rdn đến cuộc sng ngày càng thiếu hnh phúc, shài lòng, sức khỏe và shưng thịnh.

Lịch làm vic cuồng nhit, tính cnh tranh cao, nhng cm xúc tiêu cực, v.v. ăn dn ăn mòn hnh phúc, trí tu, thể cht và tinh thn của h. Kỹ thut chung quanh ta cũng trở nên nhanh hơn, trở nên dễ gây nghin hơn, thm vào tt cả phương din của cuộc sng và làm gim bớt mối liên lc giữa con người với con người, đồng thời cũng là mối đe da cho sức khỏe tinh thn.

Trem và các thanh thiếu niên cũng kng đứng ngoài nhng áp lực tâm thn. Mũi giùi của sự cnh tranh, áp lực thành tích kng ngng xoáy vào các em. Trong khi đó, skết nối gia đình bị suy gim, kng gian tn ngp máy móc cải tiến và phương tin truyn thông xã hội, đy p sphân bit hoc ngược đãi…, tt cả dn đến sự lo lắng, nhng cm xúc tiêu cực, tình trạng suy thoái, v.v. Nghiên
  • Assistant Professor, School of Buddhist Studies & Civilization, Gautam Buddha Univer- sity Greater Noida, Uttar Pradesh, India. Dịch giả: Thích Nữ Diu Hin
 

cứu cho thy rằng phân nửa nhng trường hợp bnh tâm thn bt đu từ 14 tuổi.(1) Hu quả của bt trt tự thời thơ u có thể lớn dn lên và bị che giu, dn đến nn tảng giáo dục ban đu bị phá vỡ, snghip của các em cũng theo đó trở nên chông chênh.Nhng thành viên gia đình là nhng người ban tặng sự quan tâm, nâng đỡ về cm xúc cho nhau, cũng như chịu ptổn tài chính cho vic điu trm thần. Gánh nặng vsức khỏe tâm thn mà các thành viên gia đình phải gánh chịu tht kng dễ để đánh giá và xác định số lượng, nhưng kng thể bị phớt lờ bởi vì nó có nh hưởng đáng kể lên cht lượng sng gia đình. Hơn 200 hình thức bnh tâm thn đã được biết trong suốt nhng năm nghiên cứu vtâm lý.(2) Nhng vn đề sức khỏe tâm thn nh hưởng và đè nặng kng chỉ các cá nhân hoc người thân của họ mà còn tn xã hội và kinh tế. Với 450 triu người đau khổ vì sức khỏe tâm thn trên thế giới, đây chính là thách thức chính yếu đối với phát trin tn cu. Nhiu nghiên cứu cũng chỉ ra, nguy cơ mc các bnh/hội chng tâm thn cao hơn trong nhóm nhng người nghèo, người vô gia cư, người tht nghip, người tht học, nn nhân của bo động, người di trú và người tị nn, dân bản xứ, trem và thanh thiếu niên, phnữ bị ngược đãi và người già bị bỏ bê. Con số của nhng cá nhân kng trt tự có thể tăng lên theo dân s, tuổi tác và nhng điu kin nhân to khác như bo động, tình trạng náo động công dân, v.v. Gánh nặng đang tăng lên tới một chi prt lớn, gây tổn hại kinh tế đáng k. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã ước tính chi phí cho các vn đề vsức khỏe tinh thn ở các quốc gia phát trin khoảng từ 3% đến 4% GNP, tương đương thit hại kinh tế lên tới vài tỷ đô la do chi pphát sinh và sgim sút năng sut cả ở các nước phát trin cũng như đang phát trin.

Nhng điu xy ra bên ngoài dn đến đau khổ đang ăn mòn năng lượng tinh thn của người tr, người già và trem đu như nhau, kng thể bỏ qua. Sức khỏe tinh thn rt quan trng đối với
    1. Dev, D.B. (2017). Eradication of Mental Illness through Buddhism, International Jour- nal of Humanities and Social Sciences, [online]Volume 11, No 9. Available at: https://waset. org/publications/10007801/eradication-of-mental-illness-through-buddhism.
    2. Ibid.
 

lợi ích tn din của các cá nhân và ln lượt, của xã hội và các quốc gia. Sức khỏe tinh thn, thể cht và tâm linh đu rt quan trng và vô giá. Tuy nhiên đa số chúng ta vốn chỉ quan tâm đến sức khỏe thể cht mà kng đt nặng vn đề sức khỏe tinh thn, tâm linh. Một nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa sức khỏe tinh thn là một trạng thái khỏe mnh, cho phép các cá nhân nhn ra khnăng của h, đối pvới nhng căng thẳng bình thường của cuộc sng, làm vic hiu quả & sinh lợi nhun và đóng góp cho cng đồng của h.(3)

Điu cn làm bây giờ kng chỉ là cung cp dịch vụ điu trị y tế có sn với giá cả phải chăng mà còn phải xem xét đến các mô hình & phương pháp tiếp cn thay thế, có tác dụng cải thin sức khỏe tinh thn trong giáo lý vượt thời gian của Đức Pht – điu vốn đang ngày càng trở nên phù hợp hơn trong thời kỳ đương đi. Mục tiêu của bài viết này là tìm hiểu các vn đsc khỏe tinh thn bằng cách nghiên cu các nguyên tc Pht giáo.

Pht giáo là con đường ca ttuuyên thâm và chnghĩa hin thực, ca shòa hợp và bình đẳng, phúc lợi và giác ng, là con đường được chcho chúng ta cách đây hai ngàn năm tm năm. Triết lý Pht giáo tp trung vào tâm đtác động, thay đi tư duy con người - gc rca mi hành động - đtrlời cho nhng câu hi đúng và sai, đkim tra sthay đi các giá trị sng và đi phó vi khng hoảng đo đức & phm hnh ca con người. Có một câu nói trong Pht giáo – “Btát snhân, trong khi chúng sanh squ.(4)
Đhiu được khái nim Pht giáo vsc khỏe và đc bit là sức khỏe tinh thn, cn có kiến thc vthế giới quan và các nguyên lý của Pht giáo.
  1. THGIỚI QUAN PHT GIÁO
Trong thế giới quan Pht giáo, tt cả stồn tại được giải thích dưới dạng các yếu tố hợp li. Đó là một quy lut vvic trở nên liên kết với nhau, về điu kin và sự liên quan, về nhân và qu, được gọi
    1. World Health Organization, (2003). Investing In Mental Health.
    2. Girish, I. (2014). Compatibility of Buddhist Principles and Ecology. In: Buddhist Re- sponse to Environmental Protection. Vietnam Buddhist University Series 22, p. 139-157.
 


là Lut Duyên Khởi. Mối quan hệ nhân quả này hot động trong tn bộ các hin tượng – vt lý, tâm lý và đo đức.
Trong thế giới vt lý, vạn vt trong vũ trđu liên quan nhau như nguyên nn và hqumà kng có sbt đu hay kết thúc, và thế giới được cu trúc hữu cơ và tt ccác phần của nó phthuộc lẫn nhau ở trong đó. Ngay ctrong xã hi loài người, mi tnh phần đu có liên quan đến nhau. Trong ng một cách thức hot động ở lĩnh vc tâm sinh lý, trong đó tâm (Nāma) và tn (Rūpa) kng phi là nhng cá thể riêng bit mà là nhng phần phthuộc lẫn nhau của toàn bhthống con người.(5) Cá nn con người chlà một hợp thphức tp của m un (Pañcakhandas) – Rūpa hoặc là sc, Vedanā – th, Saññā – tưởng, Saṅkhāra nh và Vñāna – thức. Kng có i ngã trường tồn, bt dit hoặc ni tại hoặc bên trong chúng hoặc bên ngoài chúng. Stn tại của một người phthuộc vào các quá trình của mi quan hnn quphthuộc lẫn nhau dưới quy lut tnhiên: tam pp n (tilakhana) hoặc lut duyên khởi (Paticca Samupda).(6) Toàn bmạng lưới các sự kin đan xen phức tp này kng có nguyên nn đu tiên dưới dạng một Thực tại Ti cao như là Đấng to hóa Vũ trụ. Thông thường, người ta tin rằng chui nn qucn có một nguyên nn trước tiên, nhưng đi vi Pht giáo kng có sự khởi đu nguyên thy. Stnh công của các nguyên nn và điu kin đã được din ra mà kng có sự khởi đu nào có thhiu được, kng có bt kranh giới hay giới hạn nào.

Mt trong nhng ví dminh ha vsphát sinh tùy thuộc là tam pp n: anicca (vô thường), dukkha (kh) và anatta (kng chứa bn ngã bên trong). Anicca – du n của svô thường được đc trưng bởi sngn ngi nht thời. Nó gii thích rằng bt cđiu

 
    1. Ratanakul, P. (2004). Buddhism, Health and Disease. Eubios Journal of Asian and In- ternational Bioethics.[pdf]. Available at:
    1. Paonil, W. and Sringernyuang, L. Buddhist Perspectives on Health and Healing. [pdf]. available at:
http://citeseer x .ist.psu.edu/viewdoc/dow nload?doi=10.1.1.605.3949&rep=rép&-
 


tn tại đến c nào đó phi dit tn. Điu này được minh chng trong quá trình vũ trụ, trong quá trình lịch svà trong quá trình sng của chúng ta. Đức Pht đã chra rằng kng có các thực thể tĩnh mà chcó các quá trình động, hóa ra chcó chúng ta tĩnh và n định vì nhận thức của chúng ta kng đsc bén đcm nhận nhng thay đi. Chính bn tn mình thực ra là một quá trình hin hữu. Giáo lý vsvô thường trit đnày áp dụng cho tt cshình tnh mà kng có ngoi l, đc bit đi vi m un vdính mc, đi vi tính cách riêng của chúng ta. Dukkha là chai đau đớn và khs. Đó là cn lý phbiến và đc tính phquát của mi tn tại có điu kin. Ni đau và đau khđến một mức đlớn bt nguồn tvô thường. Chúng ta khao khát một thế giới i mà chúng ta nghĩ bt cđiu gì chúng ta coi trng và yêu thương stn tại mãi mãi, nhưng khi chúng ta gp nhng thay đi không thtnh khi, chúng ta phi tri qua đau kh. Bn tn m un là vô thường, nhưng chúng ta xem chúng là thường hằng và cgắng chế ngchúng bằng ý chí của chúng ta. Nhưng khi chúng thoát khi snắm gicủa chúng ta, chúng ta gp phi đau khvà đau đớn.

Anatta đc đim phbiến của anatta gii thích rằng kng có có thđược xác định như là Ngã tức là một bn ngã có tht hay thực th, một đi tượng ct lõi tn tại lâu i của tính cách tâm sinh lý như là tôihoặc của tôi, bởi là con người chúng ta là nhng sinh vt hỗn hợp được to tnh tnhiu quá trình vt lý & tâm lý và các bphận luôn trong quá trình thay đi từng sát na.

Thế giới quan Pht giáo ng bao gm nim tin vào Kamma. Đó là một trong nhng quy lut tnhiên đcp đến hot động của ý định hoặc ý chí. Đó là một mi tương quan giữa nh vi và nhng kết quđi lin sau nó. Trong phạm vi giới lut, lut Duyên Khởi này vận nh như lut vNghip (Kamma) nêu ra điu kin của nó v mi quan hnn qunày. Vbn cht, có thđược tóm tt như sau: vic tt mang li qutt và nh động xu mang quxu. Ý định là lực kích thích trong tt ccác nghip của con người, do đó nó là bn cht thực snhư được Đức Pht chtrương cetanā ahaṁ 
Bhikkhave, kammavadāmi. Này các tkheo! Ý niệm mà ta i là nghiệp (kamma). Vì đã có ý niệm, cng ta tạo nghiệp qua tn, khu và ý của cng ta(A.N. III, 415). Theo quan đim Pht giáo vnghip, các nh động có chủ ý của chúng ta to ra hu qu, chai kết quả tâm lý chủ ý ngay lập tức và kết qucủa quo đo đức. Tuy nhiên vận nh của nghip kng máy c. Nghip là một nh động có chủ ý do đó nó cho phép nhiu chcho biến động và cải thiện. Nó kng phi là chnghĩa quyết định. Vì Pht giáo kng tin vào bt kQuyn năng ti cao nào vượt qua được Tnhiên hoặc gán ghép Karma cho bt ksmay mắn hay sphận nào, ng kng có điu gì trtnh stht bằng cách cu nguyn, mà là bằng các hot động có chý. Vì vy, chính chúng ta nên khởi nim m nghip thin và nh. Như Đức Pht đã tuyên btrong kinh Pháp Cú: Thanh tịnh và bt tịnh là nhng trách nhim cá nn, kng ai khác có thể khiến mình thanh tịnh (Dh.156).(7)
  1. MỤC ĐÍCH CA ĐI SỐNG CON NGƯỜI

Mt khi có một nhận thức bên trong v bn cht của cuộc sng được đc trưng bởi kh, vô thường và vô ngã ng như bn cht của ng tham của con người và svô ích của các phương tin khiến họ hài ng, hđt được trạng thái thanh thản, tỉnh thức và tdo thanh tịnh. Ở đó mi đau khdừng tn tại. Giai đon này đt được bằng cách xóa bhoàn toàn tt ccác yếu tphin não như Avijjā – vô minh vcn lý, hiu mi th là ngã và thường còn; Taṇhā muốn i ngã tưởng tượng này đt được các đi tượng hoặc trạng thái mong muốn khác nhau; và Udāna – dính mc và gn bó vi nhng đi tượng và ý tưởng sai lầm và tt cnhững gì chúng ngý. Bát Chánh Đo hay Con đường Trung đo là con đường duy nht đđt được mc tiêu này, i mi đau khkhông còn tn tại. Tám tnh phần kng phi là tám con đường khác nhau mà là nhng yếu tliên


7 Paonil, W. and Sringernyuang, L. Buddhist Perspectives on Health and Healing. [pdf]. Available at:
http://citeseerx.ist.psu.edu/viewdoc/download?doi=10.1.1.605.3949&rep=rep1&-
 


quan ti một con đường. Con đường giúp một người phát trin sức mạnh đo đức của mình (Śīla) thông qua sự kim chế các nh động tiêu cc và trau di nhng phẩm cht tích cc có lợi cho sphát trin tinh thần và tâm linh. Thực nh n hóa tinh thần (Bhāvanā) m sâu thêm shiu biết vtâm đi vi tt cả kinh nghim của con người ng như bn cht và đc tính svt hin tượng, cuộc sng và vũ trụ. Tóm li, điu này dn đến ttu(Paññā). Khi ttunày phát trin thì tình yêu, ng tbi và nim an vui ng phát trin như vy. Ta phát trin nhận thức lớn n vni tâm, vtt chình thức của cuộc sng và hiu rõ n vtư duy, cm xúc, động lực của chính ta. Điu này sdn đến vic đt được giác ng, mc đích cu cánh – Niết-bàn(Nibbāna), ngay cuộc đời này.
  1. TÌM HIỂU VỀ SC KHỎE TRONG PHT GIÁO

Nhng nguyên tc quan trng này hot động như một cơ scơ bản trong vic hình thành tư tưởng và hành động ca chúng ta. Nhn thc này vthc tin sgiúp ích trong vic biết nhiu cách hiu vsc khỏe. Kiến thc và hiu biết vcác nguyên tc này skhông chỉ giúp xác định phương pháp điu tra nhng nguyên nhân gây bnh mà còn giúp cung cp gii pháp dựa trên nhng nim tin cơ bản. Tóm li, nhng nguyên tc này có thđịnh hình một nim tin sc khỏe cthể và một hthống y tế.

Sức khỏe phải được hiu một cách tn din. Sức khỏe là chỉ định vsự hòa hợp trong cá nhân, trong các mối quan hệ của ta ng như với môi trường của ta. Khái nim vsức khỏe liên quan đến tn bộ con người, tức là các khía cnh thể cht & tinh thn, các mối quan hệ xã hội, gia đình và công vic, ln môi trường sng mà anh y/cô y liên quan. Pht giáo kng đồng ý với ý kiến xem sức khỏe hay bnh tt chỉ liên quan đến một bộ phn bị nh hưởng của cơ thể con người. Theo quan đim tng thể của Pht giáo, bnh tt là kết quả của sự hòa hợp bị xáo trộn trong cuộc sng. Bằng cách biu hin các triu chng thể cht, nó thu hút sự chú ý của chúng ta. Pht giáo đề nghị kng chỉ đơn thun là điu trị triu chng mà còn kê đơn chữa bnh dưới hình thức nỗ lực kết hợp giữa tâm và 
thân để phục hồi shài hòa này nhm khc phục bnh tt.

Ngoài quan đim tn din này, Pht giáo xem nghip như là một yếu tố đóng góp quan trng đối với sức khỏe & bnh tt. Sức khỏe tốt là quả của nghip tốt trong quá khvà nghip tốt trong hin tại s là ht giống cho sức khỏe tốt trong tương lai. Điu này nhn mnh mối quan hệ trực tiếp giữa đo đức và sức khỏe. Sức khỏe phụ thuộc vào cách chúng ta sng, suy nghĩ, hành động và cm nhn. Sức khỏe kng tốt do bởi vic sng kng lành mnh/ bt thin. Trong khi thực hành Śīla (giới), Samādhi (kỷ lut tinh thn) và Paññā (trí tu), chúng ta xem như có thêm một trợ lý để đt được sức khỏe tốt.
  1. TÂM VÀ SC KHỎE TINH THẦN TRONG PHT GIÁO

Pht giáo xem tâm và thân là tồn tại cơ bản trong sphụ thuộc ln nhau. Chức năng bình thường của thân là kết quả từ sự hòa hợp của tâm và thân. Sức khỏe thể cht được coi là quan trng tương đương vì nó được xem là một phương tin để giác ngộ trí tu, như được chng kiến trong kinh nghim cá nhân của Đức Pht trong suốt thời gian Ngài đang phn đu để giác ng. Mặc dù Pht giáo xem tâm và thân tồn tại trong sphụ thuộc ln nhau, chúng ta thy hu hết nhng lời dy của Đức Pht đu hướng đến sự hiu biết, phát trin và kim soát tâm, dn đến sự thanh tịnh hn tn của phm hnh, san tâm hn ho và trí tuệ hn ho. Tâm thanh bình giúp phát trin thái đ, tinh thn lành mnh, dn đến tình trạng sức khỏe tốt. Như đã nói trong Kinh Pháp Cú rằng chúng ta là kết quả của tư tưởng chúng ta:

Chúng ta là nhng gì cng ta suy nghĩ, tất cnhng gì cng ta đang ny sinh vi tư tưởng ca cng ta. Vi tư tưởng ca cng ta, cng ta to ra thế giới.(Kinh Pháp Cú, Phm Song Yếu, câu 1 & 2).

Giống như tt ccác hin tượng, tâm ng là một thực thcó điu kin. Stn tại ca nó phthuộc lẫn nhau vào các yếu tkhác nhau. Mc dù những suy nghĩ dường như ny sinh theo ý riêng mình mà không có định hướng kp thời, các quá trình tinh thần và thcht khác
chun bcho sphát sinh ca chúng. Theo nguyên lý thuộc vNghip, nhng suy nghĩ lành mnh to ra xu hướng cho nhng suy nghĩ lành mnh n; nhng suy nghĩ bt thin làm thm thang cho nhng suy nghĩ bt thin n. Theo nghĩa này, ít nht chúng ta phi chịu trách nhim cho nhng gì chúng ta suy nghĩ. Trong khi chúng ta có thể kng kim soát ý thức đi vi mi một suy nghĩ, chúng ta có thchọn nhng suy nghĩ đgii trí và phát trin và nhng điu cn xbvà giải png. Trau di klut cho slựa chọn và bi dưỡng nhng suy nghĩ làm tăng khng chăm sóc nhng suy nghĩ ca chúng ta bng trí tu. Kinh Vitakkasaṇṭhāna (Vitakkasaṇṭhāna Sutta) (M.N. 20) cung cp m kthut rt thực tế cho klut như thế. Bằng cách tuân theo chế độ được nêu trong bài kinh, chúng ta có thtác động đến các kiu suy nghĩ ca chúng ta và dần dần trau di tâm trí có xu hướng lớn n đto ra nhng suy nghĩ phù hợp n vi trí tuvà gii thoát. Đức Pht đc bit nói vmột đc đim đchăm sóc tâm, tức là sloi bnhng suy nghĩ bt thin liên quan đến tham, n và si.(8) Vi vic tbchúng, tâm của hành gitrnên n định bên trong, tĩnh lng, mang đến sđơn độc và tp trung. Hành gisau đó được gi là bậc thy ca các ng tư tưởng. Vy snghĩ bt cđiu gì mình muốn nghĩ, vy đã ct đứt stham muốn, gạt bkiết svà vi stm nhp hoàn toàn ca stph, vy đã chm dứt đau kh. Như vy, nói khéo léo rng nguồn hnh phúc và bt hnh ca chúng ta nằm ở chúng ta, trong ng lực ca chúng ta. Tư tưởng ca chúng ta htrtrong vic cải thin hoặc làm suy yếu sức khỏe tinh thần và thcht ca chúng ta, làm chúng ta cao quý hoặc làm cho chúng ta suy sp. Có một giới lut Pht giáo cũng dy chúng ta rng rt tst có thăn n hoặc phá hy chính st. Tâm con người có cùng đc đim nếu như nó được rèn luyn đphát trin nhng cm xúc tích cc vtbi, nhn nhục, khiêm tn và bình đng, nó shnh phúc và an lc và cơ thvt lý skhỏe mnh n. Nng nếu nó nuôi dưỡng nhng cm giác tiêu cc vtham, n hn, hoặc ác cm, nó shy hoại một con người như rt trên st.
Pht go, vì vy, xem sc khỏe tinh thn là vô cùng quan trng và

 
  1. Muesse, M. (2001). Taking Responsibility for Our Thoughts: Reflections on the Vitakkasaṇhāna Sutta. Insight Journal. [online]. Available at: https://www.buddhis- tinquiry.org/article/taking-responsibility-for-our-thoughts-reflections-on-the-vitak- kasa%E1%B9%87%E1%B9%ADhana-sutta/.
 

nhấn mạnh vic rèn luyn tâm trí kng chđđt được trạng thái sc khỏe cao nht mà còn đt được mc đích ti hu của cuộc sng.

Bởi vì, tt cả các hành động của chúng ta bt nguồn từ tâm của chúng ta, các nguyên tc và thực hành Pht giáo cgắng kích thích tâm trí con người và nhng hành động, bằng cách chuyn hóa các hình thái tinh thn tiêu cực, phin não, bt thin của chúng ta sang các trạng thái tinh thn tích cực của từ, bi, hvà x. Hiu biết vT Tnh đế kng chỉ giúp chúng ta nhn ra căn nguyên về nỗi khổ của chúng ta, đó là vô minh, trách nhim đối với tt cả các trạng thái tinh thn kng lành mnh mà còn cho chúng ta một cách để dn dn vượt qua nhng tư tưởng tiêu cực và đánh thức tâm ta bằng cách có một thế giới quan đúng đn.

Pht giáo bt nguồn từ vic tìm kiếm câu trả lời cho Dukkha, tức là đau kh, xut phát từ nhng vn đề tồn tại của cuộc sng như là bnh tt, tuổi già, chết, v.v. Cuộc tìm kiếm này đã đưa Tt-Đt-Đa (Siddhartha) đến một hành trình tâm linh mà đỉnh cao là sgiác ngộ của Ngài. Nhng hiu biết mà Đức Pht đã đt được từ sgiác ngộ của Ngài làm nn tảng cho phương pháp tiếp cn của Pht giáo đối với sức khỏe tinh thn.

Mối quan tâm ban đu với nhng đau khổ của Đức Pht liên quan đến đời sng con người cho dù thể cht hay tinh thn đã trở thành tâm đim trong giáo lý của Ngài và giáo lý cốt lõi của Ngài được biết là Tứ Tnh Đế.(9) Bốn chân lý thánh thin là nn tảng cơ bản của giáo lý tâm linh của Pht, chỉ ra con đường chm dứt mọi đau khổ bằng cách chuyn hóa trit để nhng suy nghĩ của chúng ta, giải thoát chúng khỏi phin não, làm cho chúng khỏe mnh và thanh tịnh.

Tnh đế đu tiên là Dukkha, thường được dịch sang tiếng Anh là ‘Kh. Khổ là một hin tượng phổ biến mà tt cả mọi người đu kinh qua, có nhiu nguồn khác nhau như là căng thẳng, trầm cm,


9 Brazier, C., (2006). A Buddhist Perspective on Mental Health. In: Nurturing Heart and Spirit: A National Multi-Faith Symposium. [online]. Available at: https://buddhistpsychology. typepad.com/my-blog/a-buddhist-perspective-on-mental-health.html
 


xung đột giữa cá nhân với nhau, hn thù, gin dữ, tham lam, các vn đề ứng xử, v.v. nhưng theo Pht giáo, khổ chyếu được phân thành tám loi: sanh, lão, bnh, tử, ái bit ly kh, sở cu bt đc kh, n tắng hội khổ và ngũ un kh.

Đức Pht thêm bt cứ điu gì được cm nhn đu liên quan đến Khổ (Dukkha) (yaṁ kiñci vedayitam dukkhasmi (S.N. IV, 216)). Theo tư tưởng Pht giáo, tt cả nhng trạng thái phụ thuộc của cuộc sng đu là Kh. Nó cũng kết lun skng thoải mái, sbt lực của chúng ta là kng hài lòng với cuộc sng và kng ngng tham lam.Vì vy, có thể suy lun rằng vn đề kng nm ở cái khổ mà ở phn hi của chúng ta đi với nó. Trong đoạn vsức khỏe tinh thn, đó là hot động khác thường thuộc tinh thn biu thị bằng nhiu loại bnh tâm thn khác nhau do nhn thức sai vbn cht tht của mi svt. Bnh tâm thn tự nó kng được xem là ni khổ sở tinh thn, mà là một triu chng về nhng phin não cơ bn của tham, sân và si. Nhng yếu tphin não này chứa đc tính làm vy bn tâm dn đến hành vi bt thin, ln lượt làm tăng thêm đau khổ cho chính mình và tha nhân.

Đức Pht nhn ra sự liên kết của các trạng thái tâm có hại (nhng tư tưởng bt thin) với tt cả nhng đc tính đau đớn vvòng đời khi Ngài tuyên bố – Sinh là kh, chết là kh, già là kh, bnh là kh, xa người mà mình thương yêu và giao tiếp với người mà mình ghét là kh, kng thể đt được nhng gì mình mong muốn là khổ và dính mc vào ngũ un là kh. Dukkha kng chỉ là kh, nhưng ở mức độ sâu sc hơn, tính dễ bị tn công đối với nỗi khổ và nim đau của con người đã làm phát sinh hiu lm về hin thc.

Tnh đế thhai nói vnguyên nhân của kh, Dukkha Samudaya. Stồn tại là khổ cho các cá nhân bởi vì thuộc tính tinh thn căn bản của tṛṣṇā (tham ái) nm ở đáy của tt cả mọi tham muốn. Nó kng bao giờ tha mãn và một cá nhân luôn thy kng hài lòng với chính mình bởi vì điu này. Đó là nguyên nhân của stái sinh trong Pht giáo và gồm ba loại – Kāma tṛṣṇā – tham dục, Bhava tṛṣṇā – tham hin hữu được tiếp tục và Vibhava tṛṣṇā – tham kng hin hu. Nhưn
chỉ thị của điu này nm ở svô minh (Avidyā) của chúng ta, đó là svắng mt của hiu biết vbản cht tht của vn pháp. Đó là đồng nghĩa của Moha và căn nguyên của mọi tội lỗi. Nó che mù con mt tinh thn của ta và ngăn chn ta khỏi thy bản cht tht của svanicca (vô thường), anatta (vô ngã) và dukkha (kh). Kng biết hin thực của các pháp, chúng ta phn ứng đối với tham và tham ái (craving) hơn nữa đưa đến sân hn. Vì vy, lobha (tham hoc tham luyến), dosa (sân) và moha (si) là ba rễ cái có trách nhim đối với vic làm nhơ uế tâm con người. Lời trích dn nổi tiếng của Đức Pht từ Tăng Chi Bộ Kinh (Anguttara Nikaya) làm sáng tỏ hơn:-

Này chư Tỳ-kheo! Có hai loi bnh, hai loi đó là gì? Tn bnh và m bnh. Dường như có nhng người hưởng sgii thoát tthân bnh thậm chí trong mt m hoc haingay ctrong mt trăm m hay n nữa. Nhưng, này chư Tỳ-kheo, hiếm khi trên đời này có nhng người hưởng sgii thoát tm bnh thậm chí chtrong mt sát-na, ngoi trừ đi vi nhng ai thoát khi nhng phiền não thuc vtinh thần. (A.N. II, 143). (A.N. V, 157)
Theo pn tích ca Ngài trong câu nói này, những nh động của chúng ta bnh hưởng bởi tam độc ca tham, n và si, tt cchúng ta chịu khttâm bnh cho dù chúng ta ý thức vnó hay không.
Đức Pht đã so sánh ba cội rnày với cây chuối và quả của nó. Ngài nói rằng chúng xut hin trong tâm ta và hủy dit đời ta, giống như cây chuối bị hủy hoại bởi quả của chúng (S.N. I, 3)
Do vy, nếu chính chúng ta có thể thoát khỏi vô minh và tham ái - vốn có trách nhim đối với vic làm nhơ uế tâm ta - chúng ta s hnh phúc và an lc về tinh thn.
Tnh đế thba, Dukkha Nirodha - dit khổ - nói vsự loại tr vô minh và tham ái. Trạng thái này được gọi là ‘Niết-bàn’ (Nirvāṇa) bởi tâm thoát khỏi mọi kiết svà phin não vvô minh và tham ái. Một người trước tiên giải thoát một qua sự hiu biết xut phát từ chánh kiến và chánh tư duy (prajñā vimukti). Theo điu này, tt cả mọi phin não đu bị tiêu trvà tâm hn tn giải thoát – giai 
đoạn gọi là giải thoát tâm(ceto vimukti). Trong trạng thái này, tâm hot động với sgiải thoát hn tn kng bị nh hưởng bởi tham (lobha), sân (dosa) hoc si (moha). Trí tuệ chân chánh được biu lộ thông qua sự nhn biết vbản cht tht của vn pháp. Tâm đt đến trạng thái an lc và tĩnh lặng hn ho – Niết n (Nirvāṇa), mục đích cứu cánh.
Tnh đế thba được trgiúp bởi hy vng rằng con người có thể chuyn hóa chính mình bằng cách tác động thay đổi vào cách nghĩ của họ và phát trin tâm lành mnh, từ đó kinh nghim sng hàng ngày của họ sẽ được thiết lp bởi trí tuệ và từ bi.
Tnh đế thứ tư, Dukkha Nirodhagāmini Paṭipadā, là con đường thành lp bởi Đức Pht với khía cnh thực tin vgiáo lý ở hình thức cụ th. Khi ta đt được mục đích được đưa ra ở Tnh đế thba, sau đó Tnh đế thứ tư nêu lên nhiu pháp thực hành để tuân theo. Nó giải thích thông qua Bát Chánh Đạo vphát trin chánh kiến đối với sự hiu biết đúng đn vnguyên tc Pht giáo, đồng thời tuân theo nhng quan đim, thực hành đúng đn để thành tựu trạng thái tinh thn hn ho – thoát khỏi tt cả hình thức làm ô uế. Được cu thành bởi tám thành phn, các pháp thực hành của nó được chia thành ba loại vgiới tự kỷ lut được biết là Tisikkhā. Loại thứ nht của pháp thực hành ba ngnh này là Śīla (giới) bao gồm Chánh Ng (Right Speech), Chánh Hnh (Right Action) và Chánh Mạng (Right Livelihood). Tkỷ lut tinh thn gồm có Chánh Tinh tn (Right Effort), Chánh Nim (Right Mindfulness) và Chánh Định (Right concentration). Trí tuệ được hình thành từ Chánh Kiến (Right Understanding) và Chánh Tư duy (Right Thought). Nhng pháp này kng được thực hành liên tiếp nhau, đúng hơn là chúng hỗ trvà nh hưởng ln nhau và ta thực hành chúng nhiu hơn hoc ít hơn cùng một lúc.
Śīla (giới) đáp ứng như là nn tảng cho sự trau dồi nhng trạng thái tinh thn lành mnh. Sự thực hành khởi đu bằng cách phát trin nhng đức tính phm hnh như trong Kinh Sallekha (Sallekh
Sutta) của Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya)(10) bao gồm sự thực hành ngũ giới, Bát Chánh Đạo và các giới hnh khác nội tại trong hình thức của nhng yếu ttâm linh thin lành (Kusala Cetasika). Trau dồi nhng giới hnh tích cực này giúp thanh lọc tâm khỏi tt cả tư tưởng xu ác và tâm bt thin. Sự trau dồi vgiới có lợi cho tâm rt nhiu vmt tâm lý. Tâm được phong phú bởi nhng cm xúc tích cực như bố thí, lòng từ bi và cm giác thân thin.
Trạng thái bên trong lành mnh của tâm được biu hin ở nhng hành vi tích cực khác nhau như sự nhẹ nhàng trong lời nói, kng hung dữ, quan tâm đến nhng người khác, v.v.
Chánh Định (Right Concentration), yếu tsau ng trong con đường có nghĩa là thiết lập schú tâm kiên định vào một đim (Cittassa ekaggatā) hoc tp trung tâm trí vào một đi tượng tinh thần đơn l, n định và không qun trí. Stp trung ca tâm được thực hin với snlực bn b. Stp trung này ca tâm đi trước schứng đc tsc thin (the four rūpa jhānas), là kết quca một quá trình phát trin liên tục bt đu vi giới hạnh (Śīla), din biến đi vi vic kềm chế các căn (indriyasaṃvara) và sgiác tỉnh tinh thần và trí tu(satisampajañña). S phát trin này có thm cho thin ginh hưởng sthanh tịnh ni tâm ca vy vngũ chướng (nirvanas)(11). Stp trung này (citta ekaggatā) ca tâm được chia tnh hai hthống tương quan nhau đó là – Samatha (Ch) và Vipassana (Quán).
Thin Chỉ (Samatha meditation) nhm đt đến nhng trạng thái tâm thức được mô tả bởi cp độ tiến trin lớn hơn vsự thanh bình và tĩnh lặng. Nó có hai phương din: a) đt được cp độ cao nht về chuyên m và b) tĩnh lặng kng ngng của tt cả các quá trình tinh thn. Bằng cách tp trung vào một đối tượng đơn l, tâm rút khỏi tt cả nhng kích thích bên ngoài và bên trong, cuối cùng đt được các trạng thái tâm thức thanh tịnh và kng não lon.
    1. M.N. VIII, Mūlapariyāyavagga.
    2. Lien, H, Bhikkhuni. (2010). Right Concentration and Mental Wellbeing. Global Re- covery: The Buddhist Perspective, UNDV Conference Volume. In: The 7th International Buddhist Conference on the United Nations Day of  Vesak  Celebrations,  2010.  ThailandMahachu- lalongkornrajavidyalaya University, p. 610-617.
 


Thin Quán (Vipassana or insight meditation) cũng bt đu với nhng bài thực tp chuyên chú sử dụng các đối tượng thích hợp mà ta tp trung vào. Các đối tượng của sự quán chiếu này được phân thành bốn phn: Nim thân (Kāyānupassanā), nim thọ (vedanānupassanā), nim tâm (cittānupassanā) và nim pháp (dhammānupassana) tức là nhng đối tượng vgiới đức và trí tuệ khác nhau. Tiến trình là, một khi cp độ nào đó vtp trung được thành tựu, ta tiếp tục quán sát với sự chú tâm tỉ mỉ đu đn vào các chi tiết lớn của tt cả quá trình cm giác và tinh thn. Thông qua s quán chiếu này, ta trở nên một người quán sát khách quan về hot động của riêng ta. Mục đích là đt được sự tỉnh thức về ý nim tng thể và ngay lp tức. Điu này cuối cùng dn đến ý thức hn tn và rõ ràng vsvô thường của vn pháp.(12) (M.N. I, S.N. V)
Thanh Tịnh Đạo (Viśuddhimagga) giới thiu rằng cả hai pháp môn thin nên được trải nghim để thành tựu trí tu, để hiu vvô thường của mọi svt hin tượng.
Tâm đt đến trạng thái xả ly nơi mà nó giải thoát khỏi nhng trin phược và tham muốn, để thy rõ ràng vn pháp đu có bản cht chung vvô thường (anicca), vô ngã (anatta) và khổ (dukkha). Trong mối liên hệ với thọ (vedanā), trạng thái này tương đương với bt khổ bt lc (adukkhamasukkha) tức là cm giác kng vui cũng kng kh.
Trong Pht go, trí tulà chìa khóa đi vi snhận biết vmục tiêu ca tôn go. Chánh Kiến (Right Understanding) và Chánh Tư duy (Right Thought) bao gm trí tu. Chánh Kiến (Right Understanding) có thđược hiu là thy các pp như thchúng tht slà’ – hiu biết cn lý đích thực vcác pp n là chđơn gin là nhìn thy chúng. Theo các thut ngthực tin nó có nghĩa là ssáng suốt hoặc shiu biết thu đáo.
Trí tuệ là từ phn nghĩa của vô minh. Khi có bình minh của trí tuệ thì kng có vô minh. Vô minh là ý tưởng về tính cách thường
    1. Silva, P. (1990). Buddhist Psychlogy: A Review of Theory and Practice. Current Psy- chology. [online] Vol. 9 No. 3, p. 236-254. Available at: http://enlight.lib.ntu.edu.tw/FULL - TEXT/JR-ADM/silva.htm
 


hằng, độc lp hoc là cái ngã. Ý tưởng về cái ngã thường hằng xây dựng lên khái nim vtôi. Chính ý nim này về cái ngã gây phát sinh nhng cm xúc có hại khác nhau về chp thủ, tham, ác tâm, sân hn, ác cm, ganh t, gin hờn, v.v. và gây ra khổ đau. Đó là vô minh vsvic rằng cái cũng được gọi tôi’ chỉ là một o tưởng của nhng yếu tố chưa từng thay đổi, độc lp, nm ở đáy của tt cả rối lon cm xúc.
Qua Chánh Kiến, chúng ta nhn biết bản cht tht của riêng chúng ta cũng như bản cht tht của thế giới mà mọi thứ được to ra và có điu kin, bt cứ điu gì được to ra là vô thường vđc tính và svô thường đó có một đc đim của vô ngã và kh. Nhn biết được điu này, tâm trở nên giải thoát khỏi dính mc đối với bản ngã, thoát khỏi nhng ham muốn và động cơ ích k.
Chánh Kiến (Right Understanding) đt tới hn ho chỉ khi nó được ghép đôi với Chánh Tư duy (Right Thought). Vô minh, tham ái và ác cm được cho là nhng nguyên nhân của kh. Trong khi Chánh Kiến ty trvô minh, Chánh Tư duy ty trừ chp thvà ác cm. Do đó, Chánh Kiến và Chánh Tư duy cùng ty trừ nhng nguyên nhân của kh. Đty trừ chp thủ hoc tham ái chúng ta phải trau dồi sự thoát ly và để ty trác cm chúng ta phải trau dồi ng từ bi. Với Chánh Kiến và Chánh Tư duy, tâm phát trin kng chp ngã, nhng kích thích vn hành nỗi kh, khoái lc và tt cả nhng hình thái tinh thn, thuộc tâm linh, cm xúc, trí tu, v.v. Tâm ở trạng thái này yên bình và giải thoát với sự tỉnh thức, thanh tịnh, tĩnh lặng.
Như vy, theo Pht giáo, đối với tâm, để có quan nim đúng đn về chính chúng ta và thế giới, cn hiu biết về thực thể của các pháp như thể chúng tht slà: Anicca (Vô thường), Dukkha (Kh) và Anatta (Vô ngã) – ba đc đim liên kết của cuộc sng trong thế giới hin tượng này. Sự thừa nhn của nhng quan đim sai trái khiến cho chúng ta hiu nht thời là thường hằng, đau khổ là hnh phúc và cái gì kng phải là ta như là ta (cht nào đó thường còn vĩnh hằng trong thân thể chúng ta). Nim tin rằng tôilà cái ta riêng bit phát khởi chp thủ, toại nguyn nhng tham muốn vô cùng, tham ái và dính mc là căn nguyên của mọi đau khổ như được nói 
chi tiết trong Tnh đế thhai. Sự tỉnh thức về nhng thực tin này khi chúng ta tht stồn tại (vô thường, vô ngã và kh), gim bớt ham muốn, chp thvà tâm kng còn chy theo nhng bốc đồng, ng kng dính mc vào nhng đối tượng có tham vng. Với s vắng mt của bt cứ tư tưởng nào có khuynh hướng làm nhơ uế tâm (lobha-tham, dosa-sân và moha-si), tâm trở thành an lc, dn đến sức khỏe tinh thn tốt. Ngoài vic thay đổi nhng tư tưởng và nhn thức của chúng ta và chp nhn một quan đim đúng đn, sức khỏe tinh thn của chúng ta cũng tùy thuộc vào năng lực của chính mình để chế ngvà tiêu trừ nhng cm xúc tiêu cực, các khuynh hướng chiếm hu, shung hăng… Sự tiết chế như thế có thể được thành tựu bởi sự thực hành giới và thin. Tt cả các giới Pht giáo và các pháp hành thin nhm để điu ngự các căn, nhng bốc đồng, loại trừ nhng tư tưởng bt thin, theo cách y làm cho tâm an lc, vui vvà khỏe khoắn. Khi tâm được thanh tịnh thì nhng hành động cũng được thanh tịnh như vy. Nhng hành động xut phát từ tâm lành mnh này cũng tốt đp và thin lành.
Trong thời gian gn đây, nhng nghiên cứu hin bày snh hưởng quyết định về các trạng thái tâm của con người, nhng cm xúc, quan đim và tín ngưỡng của h, về cách họ trở bnh như thế nào và làm cách nào họ sng khe. Nhng nỗi khổ đối với tâm như xa lìa người yêu thương, chết, tht bại nghề nghip, lo lắng tài chánh, bo động, bnh hoạn, sự tha hóa, nhng nỗi ám nh, v.v. trực tiếp nh hưởng hệ thống min khỏi. Pht giáo tp trung năng lượng nội tại vào vic rèn luyn tâm trí để hiu biết về nhng trạng thái hnh phúc như được lun n trong bài viết trên đây, để nhn biết và xoa dịu các nguồn cm xúc tiêu cực và trau dồi nhng trạng thái tình cm như tâm từ (metta), h(mudita), bi (karuna) và x(upekkha), nhm mang lại sự hòa hợp trong chính chúng ta và trong sự tương tác của chúng ta với thế giới chung quanh ta.

VIT TT

A.N. – Anguttara Nikāya (Tăng Chi Bộ Kinh)
M.N. – Majjhima Nikāya (Trung Bộ Kinh)
S.N. – Samyutta Nikāya (Tương Ưng Bộ Kinh)
 
 

TÀI LIỆU THAM KHO




ch

A Buddhist Approach to Healthy Living. Vietnam Buddhist University Series 23. Vietnam: Vietnam Buddhist University Publications.

Akira, H. (1993). A History of Indian Buddhism: From Sakyamuni to Early Mahayana. Ed. Delhi: Motilal Banarsidass.

Global Recovery Through Mental  Well  Being.  Global Recovery: The Buddhist Perspective,UNDV  Conference  Volume. In:  The   7th   International   Buddhist   Conference   on   the United Nations Day of Vesak Celebrations, 2010. Thailand: Mahachulalongkornrajavidyalaya University, p 517-719.

King, S. B. (2009). Socially Engaged Buddhism. Honolulu: University of HawaiI Press.

Santina, P.D. (1997). The Tree of Enlightenment: An Introduction to the Major Traditions of Buddhism.Taipei: The Corporate Body of the Buddha Educational Foundation.

Bài báo


Bhikkhu Bodhi. (2010). Purification of Mind. Access to Insight (BCBS Edition),[online]. Available at: https://www.accesstoinsight. org/lib/authors/bodhi/bps-essay_04.html

Brazier, C., (2006). A Buddhist Perspective on Mental Health. In: Nurturing Heart and Spirit: A National Multi-Faith Symposium. [online]. Available at: https://buddhistpsychology.typepad.com/ my-blog/a-buddhist-perspective-on-mental-health.html

Cheng, F. (2011). An Exploratory Study of a Counselling Framework: Four Noble Truths and Their Multi-Interactive Cause-and-Effect. Chung- Hwa Buddhist Studies.[pdf] Vol 12, p. 151-196. ISSN: 1026-969X. Available at:  http://enlight.lib.ntu.edu.tw/FULLTEXT/JR-BJ012/bj012390367.pdf
 
 
Ketchell,A.,Pyles,L.andCanda,E.WorldReligiousViewsofHealth and Healing, [online]. Availablat: https://pdfs.semanticscholar. org/5aea/6df86b9d92b52f816703e759666d88f11e55.pdf
 
Paonil, W. and Sringernyuang, L. Buddhist Perspectives on Health and Healing. [pdf]. Avlaible at: http://citeseerx.ist.psu.edu/ viewdoc/download?doi=10.1.1.605.3949&rep=rep1&type=pdf
 
Ratanakul,P.(2004).Buddhism,HealthandDisease.EubiosJournalof Asian and International Bioethics.[pdf]. Available at: http://crs.mahidol. ac.th/news/article/Buddhism%20Health%20and%20Disease.pdf
 
Shonin, E.,Gordon, W.V. and ,Griffiths, M. D . (2014). The Emerging Role of Buddhism in  Clinical  Psychology:  Towards Effective Integration. Psychology of  Religion  and  Sprituality.[online] Vol 6, No.2, p. 123-127. Available at: https://www.researchgate.net/ profile/Dr_Edo_Shonin/publication/259575296_Shonin_E_ Van_Gordon_W_Griffiths_M_D_2014_The_emerging_role_ of_Buddhism_in_clinical_psychology_Towards_effective_ integration_Psychology_of_Religion_and_Spirituality_6_123-137/ links/54d263f90cf25017917df04f/Shonin-E-Van-Gordon-W- Griffiths-M-D-2014-The-emerging-role-of-Buddhism-in-clinical- psychology-Towards-effective-integration-Psychology-of-Religio- n-and-Spirituality-6-123-137.pdf
 
Silva, P. (1990). Buddhist Psychology: A Review of Theory and Pratice. Current Psychology. [online] Vol. 9 No. 3, p. 236-254. Available at: http://enlight.lib.ntu.edu.tw/FULLTEXT/JR- ADM/silva.htm.

280

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây