18.ĐẠO ĐỨC VÀ TRÍ TUỆ GIẢI PHÁP XÃ HỘI BỀN VỮNG

Thứ sáu - 03/05/2019 06:36
TT. Thích Nguyên Hạnh- TS., Phó Tổng thư ký Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam.
285





 
ĐO ĐỨC VÀ TRÍ TUỆ GIẢI PHÁP HỘI BỀN VỮNG

TT. Thích Nguyên Hnh*



 
  1. DUYÊN KHỞI
Bất cứ thời đại nào từ xưa cho đến nay, con người vẫn loay hoay tìm kiếm những giá trị hạnh phúc an lạc lâu đài. Và con người lại trượt dài những loay hoay đó, con người vẫn chìm trong bóng ti bao trùm của nghèo đói, bệnh tật chết chóc, v.v... Thời đại ngày nay, chúng ta đang khúc quanh nền công nghiệp 4.0, con người được thừa hưởng những kết quả công nghiệp n tiên từ c nghành khí, sinh học, điện tử, v.v... Những tưởng sự phát triển nhanh về vật chất, con người sẽ sống vui vẻ tràn đầy hạnh phúc. Tuy nhiên con người ngày nay hình như ng ngày ng lún sâu o chủ nghĩa nhân, hiểm họa của các cặp phạm trù giàunghèo, hơn – thua, được đẩy lên đỉnh điểm. Tấy cả đều hiểm họa gây ra từ bản thân con người, từ những tham - sân - si - mạn - nghi - ác kiến.
  1. QUAN ĐIỂM CỦA ĐỨC PHẬT
Giải pháp bền vững cho con người hướng đến an lạc hạnh phúc được đức Phật tuyên thuyết, sau khi thành tựu đo quả dưới cội Bồ Đ, đạo đức trí tuệ. Điều này dược đức Phật nhấn mạnh trong kinh Pháp Hoa trong câu chuyện ẩn dụ trong đó, đạo đức trí tuệ như hai viên minh châu giá được giấu trong chéo áo người cùng tử nghèo khổ trên búi tóc. Hai viên minh châu thể khiến người nghèo được giàu kẻ hèn được thông minh sáng suốt. Có thể i, theo quan điểm của đức Phật, đo đức trí tuệ hai chất liệu thể giúp cho con người cuộc sống tốt đẹp bền vững lâu dài.


*. TS., P Tổng thư Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam.
 
 
    1. Đo đức gì?
Đạođứclàtđchtínhcáchvàgiátrcủamộtconngười. Khinói một người đo đức ý nói người đó sự n luyện thực hành c lời n dạy về đo đức, sống chuẩn mực nét đẹp trong đời sống tâm hồn. Đạo đức Phật giáo luôn thể hiện tính dứt khoát, minh bạch trong spn bit giữa cái thin và cái ác. Kinh Tăng chi bộ khng định thiện ác phân biệt ch xa nhau như đất với trời, như bờ bên này với bờ bên kia của đại dương, như hướng mặt trời lặn mặt trời mọc...; đồng thời cũng phân biệt nguyên nhân căn bn của thiện không tham, không n, không si; ngun nhân n bản của ác tham, sân, si; lại phân biệt ràng kết quả thiện đem lại hạnh phúc cho đời này đời sau như thế nào, kết quả của ác đem lại bất hạnh cho đời này đời sau như thế nào. Tướng của thiện ác cũng được phân tích ràng không sát sanh hay sát sanh, bố thí hay trộm cắp, sống chánh hạnh hay hạnh v.v... cho đến những ý nghĩ thiện hay bất thiện trong m hồn cũng được phân tích ràng minh bạch. Chính vậy Albert Schweitzer, nhà Ấn Đ học thâm thúy nổi danh người Đức đã khẳng định Đức Phật đã sáng to ra mt nền đo đức ni tâm hoàn thiện nht, và trong lĩnh vực này, Đức Phật đã nói lên những chân đạo đức có giá trị bất hủ, đã phát triển nền đạo đức không phải của đất nước Ấn Đ của cả nhân loại. Đức Phật một trong những nhà đạo đức học đại nhất, kỳ tài nht mà thế giới có được”.
Đạo đức Phật giáo ngoài việc mang tính nhất quán, còn dựa trên quy luật nhân quả nghiệp báo. Đây một quy luật giá trị khách quan nhất, công bằng nhất, quy luật nhân quả nghiệp báo đề cao ý thức trách nhiệm của mỗi người đối vớinhân, cũng như đối với cộng đồng hội. Theo Phật dạy, nghiệp hành động. Nghiệp báo kết quả hay quả báo của hành động. Quả báo đó tương ứng với hành động tức nghiệp tạo ra . Đó quy luật mà lương tri mọi người đều chp nhn.
Đạo Phật xem quy luật này như cái chìa khóa, giúp lý giải tất cả mọi sự vật hiện tượng diễn biến trong tự nhiên hội. Đạo Phật bác bỏ Thần ý luận, cũng như Ngẫu nhiên luận. Nếu mọi diễn biến trong hội đều do ý của thần linh hay của đấng sáng tạo sắp xếp sẵn rồi, thì mọi cố gắng sống đạo đức của người đều ích. Đối với Ngu nhiên luận cũng vậy, nếu mọi diễn biến trong
 


hội đều xảy ra một cách ngẫu nhiên, không quy luật cả, thì sống đo đức mà m gì?
Định mệnh luận Túc mệnh luận, tuy không phải Thần ý luận, nhưng kết quả đối với hành động đo đức của con người, cũng mangmộtýnghĩatiêucựcnhưthế. Nếumọidinbiếnxyđếnchoxã hội nhân đều do định mệnh, hay do quá khứ quyết định an bài, thì mọi cố gắng của con người trong hiện tại đều bất lực ích. Con người chỉ còn biết an phận chịu đựng. Đọc các vở kịch thơ của Homère thời Hy Lạp cổ đại, chúng ta thường gặp khái niệm số mệnh hay số phận. Theo tôi, đó một giải thích rất tiêu cực đối với mọi diễn biến của cuộc sốngnhân hội.
Đo Pht, trái lại tuyênbConngườilàchnncanghiệp, đồng thiconngườinglàthatcanghiệp,nghĩalàchínhconngườinh động bng ý chí tự do của mình, con người phải chịu hậu quả của hành động của mình. Nhưng lại nói, con người tuy thừa tự của nghiệp nhưng quyết không phải nô lệ của nghiệp. Con người, với một nỗ lực đạo đức tối đa trong hiện tại hoàn toàn thể chuyển nghiệp quá khứ, hn chế nghiệp quá khứ, thm chí thể xóa bỏ nó chuyển thành nghiệp thiện, nghiệp lành. Cũng như một người, do nghiệp nhân tạo ra trong đời quá khứ, phải sanh ra với một thân thể gầy yếu, thế nhưng người đó với một cố gắng liên tục tối đa n luyện thân thể, hoàn toàn thể trở thành khỏe mnh, thm chí trở thành một lực sĩ hay sĩ. Đạo Phật bao giờ cũng khẳng định khả năng của con người tận, nếu con nguời ý chí phấn đấu, bản thân mình cũng như hoàn cảnhmình đều thể cải tạo được theo hướng tiến bộ, nếu người thật sự muốn cố gắng.
Có thể nói, sự hiểu biết đúng đắn thuyết nhân quả nghiệp báo của đạo Phật sẽ tạo cho mỗi người một ý thức trách nhiệm rất cao đối vớinhân mình hội. Bởi , n cứ theo quy luật Nhân quả Nghiệp báo của đạo Phật, tất cả mọi hành động lời nói cho đến mỗi ý nghĩ của chúng ta, đều tác động đến bản thân chúng ta trong hiện tại tương lai, đồng thời cũng tác động đến hội, tạo ra cái đạo Phật gọi biệt nghiệp, đối với mỗi cá nhân tạo ra cộng nghiệp đối với cộng đồng hội. Nói cộng đồngđây các cộng đồng nhỏ lớn, trong đó mỗi con người chúng ta sống hoạt động như gia đình, tập thể quan, ngành nghề quốc gia hội. Sống ý thức, với đầy đủ trách nhiệm của mình tức
 


nhận chân thật rõ, không chút màng mỗi việc làm, mỗi lời nói, mỗi ý nghĩ của chúng ta đều tác động ít hay nhiều đến bản thân mình đã đành (biệt nghiệp), còn đến người khác nữa, đến môi trường sống chung quanh chúng ta (cộng nghiệp). Cương vị càng cao, quyền lực càng lớn, thì tầm cỡ ảnh hưởng của mỗi việc m chúng ta cũng rộng lớn theo, ch không chỉ hn chế trong phm vi gia đình, bnthân thuộc.
Một đặc sắc nữa của đạo đức Phật giáo ý nghĩa thực tiễn, sống động của những nguyênđạo đức Phật giáo, chúng ta phải những khuôn mẫu ứng xử hàng ngày, hàng giây phút của cả đời. Mỗi người phải biểu hiện thường xun bng những hành động đo đức, lời nói đo đức cho tới ý nghĩ đo đức nhờ vậy hội sẽ ng đẹp hơn n.

2.1. Trí tuệ là gì?

Theo T điển Phật học (Phân viện Nghiên cứu Phật học, Hà Nội) định nghĩa: T đối với đạohết thảy sự vật khả năng đoán định phải trái, chánh tà, v.v... mà chọn lấy hay từ bỏ mặt này hay mặt khác thì gọi trí. QuánT đế hay Thập nhị nhân duyên đều trí. Tuệ cái tác dụng phân biệt sự , quyết đoán nghi ngờ, thông đạt sự , v.v... Th g đạt sự tướng hữu vi thì gọi trí. Th g đạt không tướng vô vi thì gi tuệ. Hay định nghĩa chung về trí tuệ là: quyết đoán trí, tuyển chọn tuệ. Biết rõ Tục đế trí, biết rõ Chân đế tuệ.
Theo Đại cương u Luận (HT Thích Thiện Siêu) xác định: “Đặc sắc của trí tính quyết định, đặc sắc của tuệ tính phân biệt ràng slý c pp. Còn định nghĩa của ngài Buddhaghosa thì: “T tuệ đặc tính thấu nhập vào các pháp. Trí tuệphận sự phá tan bóng tối của ảo tưởng bao phủ tự tính của các pháp - biểu hiện của không bị mờ bởithiền định nguyên nhân trực tiếp của (Tinh hoa sự phát triển của đạo Phật, dịch giả Chơn Pháp - Nguyễn Hữu Hiệu T thư Đại Học Vn Hạnh, Saigon, 1970).
Trong kinh tạng Nikaya, nhng lời dy của đức Pht, trí tuệ được diễn tả như lương tri, giúp chúng ta phân biệt chánh tà, thiện ác, tịnh uế, lạc khổ, thắng liệt. T tuệ được như một ngọn đèn soi sáng chúng ta biết phân biệt chọn lựa giữa thiện ác, giữa chánh với tà, khiến chúng ta thể nhận biết những nên làm, những không nên làm, để chúng ta tự hướng dẫn mình tiến đến an lạc
 


giải thoát. Diệu dụng này được Đức Phật khéo léo diển tả đặc tính, những thái độ, những việc làm của hai hạng người, được gọi kẻ ngu và người trí. Tăng Chi, chương Ba Pp, phẩm Người Ngu, nêu rõ sự sai khác một trời một vực giữa người ngu người trí: “Thành tựu với ba pháp, này các Tỷ-kheo, người ngu được biết đến. Thế nào ba? Thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác... Thành tựu với ba pháp, này các Tỷ-kheo, người trí được biết đến. Thế nào ba? Thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện(Tăng Chi, III-2).
Con người sẽ hai loại cảm thọ: Cảm thọ về thân cảm thọ về tâm. Do vậy, Đức Phật như người bị bắn trúng bởi hai mũi tên, vừa đau khổ về thân, vừa đau khổ về tâm. Lại nữa, người ngu si ít nghe, khi cảm xúc khổ thọ, cảm thấy sân hận nên sân tùy miên tồn tại tăng trưởng. V ấy tìm sự xuất ly khỏi khổ thọ bằng cách hoan hỷ dục lạc, do không tìm được một xuất ly nào khác. Do hoan hỷ dục lạc y, tham tùy miên đối với lạc thọ tồn tại tùy tăng. V ấy không như thật biết sự tập khởi, sự chm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm sự xuất ly của các cảm thọ ấy. Do vậy minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ tồn tại tùy tăng. Như vậy, nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, cảm giác lạc thọ, cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy cảm giác như người bị trói buộc. Tương Ưng, IV-36-6, đức Phật dy: “Người ngu si nghe ít, bị trói buộc bởi sanh già bệnh chết, sầu bi kh ưu não. Ta nói rằng người ấy bị trói buộc bởi đau khổ.
Còn đối với bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, khi cảm xúc khổ thọ, không sầu muộn than van, khóc lóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh. V ấy chỉ cảm giác một cảm thọ, tức cảm thọ về thân, không cảm thọ về tâm. Đức Phật như người ấy bị bắn bởi một mũi tên, chỉ đau khổ về thân, không đau khổ về tâm. Lại nữa vị Thánh đệ tử nghe nhiều, khi cảm xúc khổ thọ, không cảm thấy sân hận nên sân tùy miên không tồn tại ng trưởng. V ấy tìm được sự xuất ly ra khỏi khổ thọ, ngoài dục lạc. V y, không hoan hỷ dục lạc, nên tham tùy miên đối với dục lạc không tồn tại, không tùy tăng. V ấy như thật tuệ tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại sự xuất ly của những cảm thọ ấy. Do vậy minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ không tồn tại, không tùy tăng. Như vậy, vị Thánh đệ tử nghe nhiều ấy cảm giác khổ thọ, cảm giác lạc thọ, cảm giác bất khổ bất lạc thọ, không như người bị trói buộc.đây Đức Phật dạy: “Vị Thánh đệ tử nghe nhiều, không bị trói buộc bởi sanh già bệnh chết, sầu
 


bi khổ ư não. Ta nói người y không bị trói buc bởi đau kh(Tương Ưng, IV-36-6).
Được hỏi sự sai khác giữa người ngu bc hiền trí, đối với c thân do minh che đậy, do ác phược ràng buộc khởi lên quan điểm thân này, danh sắc ngoài. Do duyên thân này, sáu xúc xứ cảm thọ lạc khổ. Vậy sự sai khác giữa bậc hiền trí kẻ ngu? Đức Phật dạy: Này các Tỷ-kheo, bị minh che đậy, bị tham ái trói buộc, thân này của người ngu được sanh khởi. Vô minh ấy, người ngu không đoạn tận. Tham ái ấy, người ngu không tận trừ. Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, người ngu sống phạm hạnh không phảichơn chánh đoạn tận kh đau. Do vậy, người ngu khi thân hoại mạng chung, đi đến một thân khác. Do đi đến một thân khác, vị ấy không thoát khỏi sanh già chết, sầu bi khổ ưu não. Ta nói rằng vị ấy không thoát đau khổ” (Tương Ưng, II-12-19). Và này các Tỷ-kheo, bị minh che đậy, bị tham ái h phược, thân người hiền trí được sanh khởi. Vô minh ấy, người hiền trí đoạn tận. Tham ái ấy, người hiền trí tận trừ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người hiền trí sống phạm hạnh,chơn chánh đoạn trừ kh đau. Do vậy, người Hiền trí, khi thân hoại mạng chung không đi đến một thân khác, vị ấy giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng: V ấy thoát khỏi đau khổ.” (Tương Ưng, II-12-19).
Nói đến khả năng của trí tuệ đưa đến giác ngộ giải thoát, đức Phật cho chúng ta hiểu thêm nữa lại càng làm rệt hơn cái công năng diệu dụng của trí tuệ (pannà): “T tuệnghĩa thắng tri (abhinnàttha), nghĩa liễu tri (parinnattha),nghĩa đoạn tận (pahànattha).” Như vậy trí tuệ kh năng thắng tri, tức biết với thiền định, thiền định đây bất động thức tư. Lại khả năng liễu tri với sự hiểu biết rốt ráo trọn vẹn; cuối cùng khả năng đon tận được c lậu hoc, dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, đon diệt được tham n si, chm dứt khổ đau. Cho được rõ ng hơn, chúng ta cần phân biệt tưởng tri (sanjànàti) nhờ tưởng (sannà) đưa đến, ý tri (jànàti) do ý (manas) đưa đến. Tưởng tri, thức tri ý tri ba sự hiểu biết thông thường của thế gian đưa đến sự hiểu biết về khoa học, kỹ thuật, triết học, bác học, v.v... Đạo Phật đóng góp thêm Thắng tri Tuệ tri, sự hiểu biết ngang qua thiền định, tạo thêm sức mnh cần thiết để con người m chủ được bn thân, m chủ được hoàn cảnh. Tuệ tri đưa đến một hiểu biết toàn diện, hoàn mãn, kh năng đâm thủng vô minh, đon tận tham n si, đưa đến chm
 


dứt khổ đau. Nhưng trí tuệ chưa phải cứu nh mà chỉ phương tiện đưa đến giải thoát. Với trí tuệ như vậy, vị ấy sanh nhàm chán, ly tham đoạn diệt, từ bỏ, cuối cùng đưa đến giải thoát, theo tiến trình như sau: “Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên giải thoát”. Trong sgiải thoát, trí khởi lên biết rng: Ta đã giải thoát. Vy biết rõ “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm. Nay không còn trli trng thái y na(Tương Ưng, IV-35-28).
Như vậy, vai trò của trí tuệ lựa chọn các đối tượng để quán tri, để tuệ tri, nhờ tuệ tri mới đưa đến nhàm chán, ly tham, đon diệt, từ bỏ, cuối cùng giải thoát. Như trong kinh Dụ, đối tượng cần phải tuệ quán năm thủ uẩn: Sc, thọ, tưởng, hành, thức. Bất cứ năm thủ uẩn o, quá kh hiện tại vị lai, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả năm thủ uẩn cần phải tuệ quán: “Cái này không phải của i, cái này không phải i, cái này không phải tự ngã của tôi. Nhờ tuệ quán như vậy, vị đa văn Thánh đệ tử yếm ly sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Do yếm ly nên ly tham, do ly tham nên được giải thoát. Trong sự giải thoát khởi lên sự hiểu biết:Ta đã giải thoát”. V ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những nên làm đã làm, không còn trở lui lại đây với một đời sống khác”. (Trung Bộ, I-22).
  1. CÁCH TIẾP CN PHT GIÁO
Đức Phật từng xác định một hội tốt không thể trong đó những nhân xấu, tuy nhiên với nhữngnhân tốt sẽ m nền tảng cho hội tốt. Vì đạo đức, lối sống vai trò của đạo đức cá nhân tác động lối sống trong đời sống hội. Cuộc đời của đức Phật các vị thánh Tăng Phật giáo những bằng chứng hùng hồn nhất. Với đạo đức, lối sống đẹp, cũng như trí tuệ hiểu biết như ngọn đèn sáng của các Ngài trở thành giá trịphạm cho cá nhân hội loài người. Do vậy, suốt 45 năm hành đạo của minh, Đức Phật nỗ lực hoàn thiện con người trên phương diện đo đức trí tuệ, hơn cố gắng kêu gọi mọi người cần thay đổi hội.
    1. Tính hướng nội
Giải pháp hội theo quan điểm Phật giáo phương pháp tiếp cận hướng đến nội tâm con người từng bước tác động thay đổi hội. Phương pháp tiếp cận này thể không phù hợp với triết hệ phương Tây vì mang hơi hướng thụ động. Trong khi đó phương pháp tiếp cận của phương Tây thì mang tích cực hơn với cách cố
 


gắng thay đổi cấu trúc hình thái hội. Tuy nhiên, nói đến tính bền vững thì phương pháp tiếp cận hướng đến nội m con người từng bước tác động thay đổi hội lại phần thù thắng hơn.
Thật vậy, Phật go xác nhn tính bất ổn hội đến từ lòng tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, v.v Khi con người giải quyết tính bất ổn này thì hội trở nên tốt đẹp. Đ cập vấn đề này TiếnHoàng Thị Thơ, Trưởng png Triết học Phương Đông, Vin Triết học, Vin Khoa học hội Việt Nam trong Tạp chí Triết học nói, Tư duy hướng nội của Phật giáo một sản phẩm đặc thù của lịch sử duy Ấn Đ từ thời Cổ - Trung đi, đồng thời một trong những đặc trưng nổi bật của duy phương Đông. Phật giáo ra đời khi Ấn Đ đãmột nền tảng triết học tôn giáo bề thế với lịch sử hơn 1500 năm trước CN đã chuyển sang giai đoạn duy thứ ba, nghĩa vượt qua các giai đoạn thần (huyền) thoại thần quyền để đến giai đoạn nhân bản, tức đến giai đoạn bắt đầu giải thng, giải thần quyền chuyển dần sang lấy con người làm trung tâm.”
Tính hướng nội của Phật giáo con người cần trao dồi hai yếu tố Đo đức và Trí tulà chìa khóa cho mi gii pháp xã hi bn vng.
    1. Tính hiệu quả
Chuyển bánh xe pháp” việc Đức Phật làm cho thế gian này, mang thông điệp giải pháp hạnh phúc an lạc đến cho con người. Đức Phật tư duy tìm những nhân tốnhân tích cực với những câu hỏi rằng: “Ai có thể nghe, hiểu tiếp nhận lời dạy của Ngài? Ngài đầu tiên suy nghĩ đến hai vị thầy trên đường học đạo Alara Kalama Uddaka Ramaputta, nhưng hai vị không còn tại thế. Đức Phật tìm đến nhóm năm người Kiều Trần Như (Ajnata Kaundinya - Anna Kondanna) lần lượt với bài pháp T Diệu Đế Vô ngã tướng trong hai tuần, các vị đều chứng Thánh quả A La Hán (arahat), sau Ngài độ Da Xá những người bạn Da Xá gồm 55 vị cũng đều chứng Thánh quả A La Hán (arahat). Đó 60 vị Thánh quả A La Hán (arahat) đầu tiên trên thế giới, những người cùng đức Phật đưa thông điệp giải thoát đến cho nhân loại.
Đức Phật rất thành công trong việc sử dụng phương cách tiếp cận với người nhân các tốt, ảnh hưởng lớn đến mọi người hội, như khi trở về Uruvela một ngôi làng nhỏ gần Bồ đề Đạo tràng (Bodhgaya), Phật độ 1.000 du sĩ Bái Hỏa giáo của ba anh em
 


Ca Diếp (Kassapa) sau đó 250 vị tu sĩ do Xá Lợi Phất (Sariputta) Mục Kiền Liên (Maha Moggallana) dẫn về. Chỉ trong khoảng thời gian ngắn, đức Phật thêm 1.250 vị T kheo chứng Thánh quả A La Hán (arahat), v.v…
Bên cạnh đó, Đức Phật độ cho hàng vua chúa như Vua Tn Sa La (Bimbisara), vua Ba La Nại (Pasenadi), v.vTrong ln đức Thế Tôn nói pháp cho vua Ba Tư Nặc. T đây vua sanh khởi tín tâm cung kính Thế Tôn. Vua Ba Tư Nc hoan hỷ thưa với Pht: Bch Thế Tôn! Ngài thật con người vĩ đi, trẫm nghe lời huấn thị của Ngài giống như người đi trong đêm tối bỗng gặp ánh sáng, trong tâm rất vui mừng không thể so sánh được. Trẫm đối trước Thế Tôn cảm ngộ đến muôn phần, như người đói được ăn cơm, trẫm xin lễ bái cầu Ngài chỉ dạy chỗ còn chưa hiểu . Ngài bậc đại đạo sư, đem chánh pháp du nhập vào đất nước trẫm, mọi người nơi đây thật diễm phúc khi gặp được ánh sáng chân Ngài giảng dạy. Trẫm tin rằng đời sống của muôn dân sẽ được bình an thịnh vượng dài lâu.” Sau Phật Niết bàn, đất nước Ấn Đ các hoàng đế nổi bật như Asoka, Harsha-Vard- hana đã hộ trì chánh pháp của đức Như Lai bằng cách ứng dụng lời Phật trong việc trị quốc an dân.
Nhờ trí tuệ sáng suốt, Phật độ cho người tầm ảnh hưởng, Phật go được lan rộng khp một ch nhanh chóng đối với c bc Thánh cũng như đối với quần chúng cộng đồng một ch bền vững. Không chỉ tiếp cận đưa Phật giáo đến với mọi người, Phật giáo còn mang món ăn m linh giải trừ mọi khổ đau, sầu muộn, thay đổi những tưởng yếm thế, chán nn, v.v...
  1. GIẢI PHÁP HỘI BỀN VỮNG
Đức Phật dạy nguyên nhân của mọi đau khổ của cá nhân hội minh ái dục, hay nói một cách khác chính lòng tham lam, sân hận, si mê nguồn gốc của mọi tranh chấp, oan trái để rồi đem đến những sự lo âu sầu muộn bất mãn. Con đường chuyển hóa nội tâm thiết thực chúng ta phải biết giữ mình theo Giới, Định, Tuệ để thể diệt trừ tham, sân, si thì đời sống sẽ được tự tại bởi tham thì phá giới, sân phá định, còn si thì phá trí tuệ.
Chánh kiến giúp con người thấy biết đúng từ đó làm nền tảng để phát triển trí tuệ. Thật vậy, thấy biết đúng thì dòng tưởng mới trong ng cho n con người hãy suy tư chính chn
 


tưởng sẽ biến thành lời nói. Lời nói của mỗi người như mũi tên bắn đi rồi không lấy lại được, sẽ biến thành hành động. Hành động sẽ biến thành thói quen (tập khí). Và sau cùng, thói quen kia sẽ biến thành nhân ch của mỗi người. Cuộc đời thanh thoát, nhẹ nhàng hay sóng gió chp chùng, phong ba bão t cũng bởi từ cái nhân ch hay lối sống của chúng ta vậy. Nói cách khác cũng minh bất giác, con người lầm lẫn nương theo thân, khẩu, ý tạo ra nghiệp thiện, bất thiện (Hành) từ đó số phận của mình sẽ do nghiệp lực đẩy đưa (Thức). Nhà bác học Marie Curie nói rằng: Không trong cuộc đời đáng sợ, khó khăn cả, một khi chúng ta thực sự hiểu được nó. Do vy, đo Pht là đo kng làm khổ mình, kng m khổ người mà muốn thành tựu thì con người phải quay về sống với đạo đức nhân bản tức cố gắng ly dục, ly bất thiện pháp.
Đức Phật cũng đã khẳng định rất ràng rằng ta gieo nhân thì chính ta phải gặt quả không tha nhân nào, cho dù đó Đức Phật, Bồ tát Quán Thế Âm hay đấng Thượng đế thể chuyển “quả” của chúng ta được. Nói cách khác, người gieo nhân thì tự gặt quả ly, hoàn toàn kng có một tác nn của Pht, Chúa Tri, Thần, Quỷ nào can dự nhân quả của ai. Người gieo nhân tốt, không cần sự cứu ri của ai cũng được sanh n c cảnh giới an nh. Nếu người làm chuyện bất thiện thì sau khi chết, nghiệp bất thiện nầy tương ứng với cảnh giới của những người bất thiện, khiến tâm thức của người ấy sanh về cảnh giới chịu khổ sở để trả quả báo ác độc chớ không một vị thần nào đày ta xuống cõi âm ty, địa ngục cả.
Thật vậy, học thuyết “Nghiệp định luật “Nhân quả những lời dạy cùng quan trọng của đức Phật. Lời dạy này khai mở cho con người thấy thực trạng về những hoạt động việc làm, lời nói tư duy của bản thân. Do vậy, để cho cuộc đời luôn duy trì bản sắc giàu , thịnh vượng tốt đẹp cho nhân loại, Phật giáo quan tâm đến mọi cá nhân con người nhất các vị lãnh đạo, người tầm ảnh hưởng đến con người hội. Cho nên, người viết vài đề nghị các nhà lãnh đạo, các vị trách nhiệm cái nhìn đúng đắn như sau:
  1. Tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo trong một nhân cách tốt, luôn nghĩ về con người cho con người, tác động ảnh hưởng tốt đẹp đến các nhà lãnh đạo các nước trên thế giới trong c hoạt động nhân bn.
 
 
  1. Đem những lời dạy hay, châm ngôn tốt như học thuyết “Nghiệp” định luật “Nhân quả” v.v làm tiêu chí đạo đức, nâng cao trí tuệ hiểu biết của con người, xóa tan màn vô minh.
  2. To điều kiện thuận lợi bng nhiều hình thức khác nhau hỗ trợ cho chương trình đưa Phật pháp đến với con người như vai trò vua Asoka cử nhiều đoàn chuyển pháp đến c vùng đất khác nhau trên thế giới.
Cuối cùng chúc hội thảo thành công tốt đẹp. Chúc đại lễ Vesak luôn trong lòng người.





***


 

Tài liệu tham khảo

Tăng chi bkinh, do HT. Thích Minh Châu dịch, VNCPHVN n hành, 1997.
Trung bộ kinh, do HT. Thích Minh Châu dịch, VNCPHVN ấn hành, 1997.
Tương Ưng bộ kinh, do HT. Thích Minh Châu dịch, VNCPHVN ấn hành, 1997.
HT. Thích Thanh Kim, Lược sử Pht go Ấn Độ, NXB. TP.HCM, 2002.
Edward Conze, Tinh hoa sự phát triển của đạo Phật, dịch giả Chơn Pháp - Nguyễn Hữu Hiệu - Tu thư Đại Hc Vạn Hạnh, Saigon, 1970.
HT Thích Thiện Siêu, Đại cương uLuận, NXB Tôn giáo, 2007.
Tp chí Triết hc, Tiến sĩ, Trưởng png Triết học phương Đông, Vin Triết học, Vin Khoa học xã hi Vit Nam, Hoàng Thị Thơ.
https://giacngo.vn/PrintView.aspx?Language=vi&ID=3A4251. https://phatgiao.org.vn/can-nghiep-cua-con-nguoi-d11289.html.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây