17 TIẾP CẬN CỦA PHẬT GIÁO NAM TÔNG TRONG XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC HIẾU NGHĨA CỦA NGƯỜI KHMER NAM BỘ

Thứ tư - 08/05/2019 22:43
Phan Anh Tú





 
TIẾP CN CA PHT GIÁO NAM TÔNG TRONG XÂY DNG ĐO ĐC HIẾU NGHĨA CA NGƯỜI KHMER NAM B

 
Phan Anh Tú*





TÓM TT

Pht giáo Nguyên thủy (Theravada Buddhism) hay Pht giáo Nam tông là một hệ phái gn lin với quá trình hình thành và phát trin của tộc người Khmer Nam Bộ cũng như các dân tộc cư trú trên n đo Đông Nam Á lục đa. Duy trì đường li hành đo hòa nhp vào truyn thống gia đình và cơ cu tổ chức cng đồng của người Khmer, Pht giáo Nam tông đã trở một mu hình quan trng trong vic củng cố nn tảng đo đức của người Khmer đối với gia đình và xã hội của h. Lut bt thành văn của cng đồng quy định bổn phn của một người thanh niên Khmer trưởng thành là phải ít nht một ln đến chùa làm sư, nhm tu báo hiếu cho cha m. Đây được xem là chuẨn mực đo đức quan trng đối với hôn nhân của người Khmer. Song nghi thức quan trng nht thể hin cho lòng hiếu tho của người Khmer đối với ông bà, cha mẹ là phải dâng ng vt phẨm và tham gia cu kinh trong các ngôi chùa nhân ngày Sel Dolta, tức lễ Vu Lan của người Khmer.

Mục đích nghiên cứu của chúng tôi trong tham lun này là hướng tiếp cn của Pht giáo Nam tông trong phm vi văn hóa truyn thống và hin đi. Truyn thống là nghiên cứu hướng tiếp cn của Pht giáo trong kng gian văn hóa phum sóc qua mối quan hệ


*. TS., Gm đốc Trung tâm Văn hóa học Lý lun và ng dụng, Phó trưởng Khoa Văn hóa học, Ppn vin trưởng Phân viên nghiên cứu Pht giáo Nam tông Khmer, Đại học KHXHNV, TP.HCM, Vit Nam.
 


kết nối giữa nhà sư và người nông dân Khmer. Hin đại là nghiên cứu hướng tiếp cn của Pht giáo trong biến đổi xã hội, di dân lao động cũng như vn đề biến đổi văn hóa, nim tin, nhn thức và suy nghĩ của người Khmer. Nghiên cứu này cũng nhm đề xut các giải pháp để Pht giáo Nam tông Khmer cn thay đổi chiến lược hoằng pháp, kết hợp với công nghệ 4.0 trong duy trì nn tảng đo đức cho nhng cng đồng người Khmer kng sinh sng trong kng gian của một ngôi chùa Nam tông. Nội dung của tham lun này được chng minh bằng nhng lun thuyết và lun cứ khoa học qua quá trình nghiên cứu thực đa (field work studies) và nghiên cứu định tính (quantity research method) tại thành phố HCMinh, tỉnh Bình Phước, Trà Vinh và Sóc Trăng, tt cả sẽ được tác giả trình bày bằng nhãn quan của một nhà nghiên cứu.
  1. DN NHẬP

Khmer là tên gọi của một tộc người bản đa cư trú tp trung tại một số tỉnh thành của vùng đt Nam B. Với dân số hơn một triu người, người Khmer sinh sng chyếu tại các tỉnh min Tây Nam B, trong đó Trà Vinh và Sóc Trăng được xem là hai tỉnh có đông đồng bào Khmer sinh sng. Tuy nhiên, ở các tỉnh Bình Phước và Tây Ninh thuộc khu vực min Đông Nam B, người Khmer cũng cư trú rải rác tại một shuyn và thị xã như huyn Lộc Ninh, thị xã Đng Xoài (tỉnh Bình Phước), huyn Châu Tnh, Tân Biên và Dương Minh Châu (tỉnh Tây Ninh). Xét dưới góc độ tôn giáo, tín ngưỡng của người Khmer có thể thy rằng Pht giáo Nam tông hay Pht giáo Nguyên Thủy đóng vai trò quan trng trong cơ cu t chức xã hội và đời sng tinh thn của cng đồng. Minh triết Pht giáo Nam tông luôn đề cao lòng hiếu tho của con cái đối với các bc sinh thành. Tiếp cn của Pht giáo Nam tông Khmer đối với cng đồng bằng vic duy trì đo hiếu của người Khmer ngoài vic yêu cu người con phải thực hin bổn phn chăm sóc cho cha mẹ già, giá trị tinh thn được xem như một nghĩa vbt buộc trong tiêu chí đo hiếu của hlà người con trai ít nht trong đời phi vào ca tu học một lần. Hình thức tu ngn hạn như vy nhằm mục đích báo đáp công ơn dưỡng dục ca các bc sinh tnh nên còn gi là tu báo hiếu.
  1. QUAN NIM VỀ CHHIẾU CA NGƯỜI KHMER
Người Khmer chịu nh hưởng bởi văn hóa n Đ, nht là ở lĩnh
 


vực tôn giáo. Đạo Bà La Môn là lớp tôn giáo cxưa nhưng đã suy tàn từ sau thế kXIV. Pht giáo Nam tông chiếm lĩnh vai trò dn dt tinh thn, trở thành tôn giáo chđo của người Khmer Nam Bộ trong thế kXXI. Tuy nhiên, di tồn của Bà La Môn giáo và văn hóa bản đa vn hin din trong cng đồng người Khmer được biết đến qua một số loại hình văn hóa dân gian mang tính phổ quát. Dạng tín ngưỡng sùng bái Arak (bà bóng), thờ cúng Neakta (ông Tà) hoc hình thức sử dụng huyn thut như bùa chú, thn chú và thn quyn có liên quan đến đo Bà La Môn vn tồn tại trong cng đồng người Khmer, xut hin trong cả nhiu ngôi chùa Pht giáo Nam tông Khmer và hin đang có xu hướng xâm nhp mnh mẽ vào cng đồng người Vit, người Hoa. Điu đc bit trong đời sng tinh thn của người Khmer, nhng loại hình tín ngưỡng dân gian hn tn kng chống lại Pht giáo. Người Khmer đã đt chúng vào trong hệ thống thn đin của Pht giáo và tự xem như một thành t kng thể tách rời Pht giáo Pht giáo Nam tông. Neakta hay các vị thn Bà La Môn giáo được xem như chư thiên hộ trì cho Pht giáo và tu hành theo chánh pháp của Đức Thích Ca.

Chữ hiếu, đo hiếu hay hiếu nghĩa luôn được đề cao trong xã hội Khmer. Tuy nhiên, cách nhìn nhn về hiếu nghĩa của họ kng nm trong phm vi của triết học và tư tưởng Khổng giáo. Hiếu nghĩa được cho là phải gn lin với triết lý của Pht giáo và là trách nhim chăm sóc cha mẹ già của con cái cũng như thực hành các nghi lễ khi cha mẹ đã khut. Quan nim của người Khmer thường xem đo hiếu là nhm báo đáp lại công ơn dưỡng dục, sinh thành của cha mẹ bằng giá trị tinh thn, vt cht và hành động cụ thể của con cái. Do Pht giáo thm nhun sâu sc vào đời sng của người Khmer, văn hóa tộc người và văn hóa Pht giáo hòa quyn, đan xen vào nhau đến mức kng thể nhn ra đâu là yếu tPht giáo, đâu là yếu tvăn hóa tộc người trên phương din nghi lễ và thực hành đo hiếu. Đạo hiếu đòi hỏi trách nhim cho cả nam ln nbao gồm cả trách nhim tinh thn và vt cht. Trách nhim vt cht có phn giống nhau cho cả nam và nữ như vn đề nuôi dưỡng cha mẹ già, xây tháp cốt cho cha mẹ đã qua đời, tổ chức đám gi… nhng vn đề này có liên quan đến khnăng tài chính của con cái. Tuy nhiên, người Khmer tin rằng khi con gái làm được nhng điu này thì họ đã thể hin được hành động tốt đp của một con người hiếu nghĩa, có đo đức tốt và họ sẽ nhn được nhng hồi báo tốt đp trong kiếp đời
 


hin tại và tương lai, nht là họ luôn gp được một cuộc sng an vui và phước báu vô tn trong cuộc sng hin ti.

Vn đề tinh thn trong cách nhìn nhn hiếu nghĩa theo quan đim tôn giáo của người Khmer thì vic xut gia đi tu là trách nhim của người con trai. Vic làm này được tin là mang đến phước báu vô lượng cho cha m, gia đình và dòng họ một khi người con trai Khmer xut gia đu Pht một cách tự nguyn và suốt đời giữ giới tu hành. Song cũng có người xut gia đi tu ngn hn vì tâm nguyn báo hiếu cho cha mẹ như tu để cu an cho cha mẹ khỏi bnh, cu siêu cho cha mẹ đã qua đời và gieo duyên lành cho bản thân để hn tục kết hôn với nhng người con gái ngoan đo. Trách nhim đi tu hay tự nguyn đi tu đu mang đến phước báu ít nhiu cho cha m. Tuy nhiên, Pht giáo Nam tông Khmer chưa cho phép phnxut gia làm tkheo ni, nhng người con gái Khmer có thể đi chùa làm lễ cu an và cu siêu cho cha mẹ hoc nhng cụ bà người Khmer có thể vào chùa tu thiếp (lược – thơ) nhm xây dựng cho mình một đời sng tinh thn an vui lúc tuổi già nhưng các hot động này kng liên quan đến vic xut gia để làm một người tu nữ. Phải chăng điu này là bằng chng di tồn của quan đim tôn giáo trong nn văn hóa n Đcxưa còn hin din trong cng đồng Khmer hin nay, khi đo Bà La Môn xác nhn rằng, chỉ có con trai mới được làm tu sĩ và con trai mới cứu rỗi được linh hồn của cha mẹ và dòng họ của mình.

Xét dưới góc độ giới tính, thì người con gái lại có đc đim tâm hướng nội, thường phù hợp với vic chăm sóc, nuôi nấng cha mẹ già hơn là người nam. Hơn na, đc đim của xã hội Khmer c truyn thường xem trng chế độ mu h. Trong phm vi gia đình, người con gái có tm nh hưởng quan trng hơn con trai trong vic thừa kế tài sn và chăm sóc cha m, đc bit là con gái út. Kho sát của chúng tôi tại huyn Trà Cú (tỉnh Trà Vinh), huyn Vĩnh Châu (tỉnh Sóc Trăng) cho thy cha mẹ già thường chọn sng chung với người con gái út, đc bit là nhng hộ gia đình Khmer shữu nhiu tài sn (nhà cửa, ruộng đt và gia súc) thì người con gái út thường được cha mẹ cho thừa kế nhiu tài sn hơn nhng anh chị khác nhưng ngược lại cô ta slãnh trách nhim nuôi dưỡng cha mẹ già và thờ phng tổ tiên. Trong cuộc sng, quan đim hnh phúc của người Khmer đôi khi kng tuyt đối hóa giá trvt cht, mà nim hnh phúc của một gia đình được cho là khi cha mẹ sinh ra được
 


một người con gái út ngoan hin. Ở đây tính cách ngoan hin trong nhãn quan của người Khmer cũng đồng nghĩa với ngoan đo (tức là tín đồ Pht giáo thun thành). Nếu sinh được một người con gái như vy, cha mẹ scó chỗ dựa tinh thn và vt cht khi tuổi già. Bên cnh đó, kho sát của chúng tôi cũng cho thy phn nhiu các cô gái út người Khmer khi lp gia đình thường chọn kết hôn với nhng người thanh niên Khmer đã từng xut gia làm sư trong các ngôi chùa ở đa phương. Quan đim sng của người Khmer kng bị chi phối bởi yếu tphụ hệ và tuổi tác trong hôn nhân như cng đồng người Vit. Cha mẹ sng với con gái được xem là thích hợp hơn con trai, trong hôn nhân vic người vợ lớn hơn chồng nhiu tuổi được nhìn nhn như một hin tượng bình thường trong cng đồng, nó hn tn kng bị thế gian nâng cp” lên thành một vn đề “dị bit. Quan đim này đã to cho người phnKhmer có nhiu quyn lựa chọn hôn phu và cha mẹ hai bên cũng dễ dàng tác hợp họ lại với nhau. Nếu người con gái út ly chồng là một thanh niên đã hn tục thì thường được cha mẹ khuyến khích. Vì xét trên phương din quan hệ xã hội và gia đình, vic một thanh niên Khmer đi tu rồi hn tục ly vlà đã đt được nhng giá trị cn thiết trong cuộc sng. Thứ nht, đối với gia đình bên vợ, anh ta được xem là một người có tư cách đo đức nên sẽ cùng với con gái họ phng dưỡng cha mẹ khi tuổi già; thhai, đối với gia đình của anh ta, thời gian đi tu đã góp phn báo hiếu cho cha mca mình; thba, đi vi nhà ca i anh ta đã được đào to các giá trđo đức vcuộc sng và có thlà bng cp chuyên n trong quá trình tu học. Nay xut gia anh ta sluôn nhđến những ân đức này mà báo đáp mi khi nhà ca cn đến. Như vy, một người xut gia ri hoàn tục được người Khmer xem như đt được giá trhiếu nghĩa trong tư cách m người cùa anh ta.
  1. TIẾP CN CỦA PHT GIÁO NAM TÔNG VXÂY  DNG ĐO ĐC HIẾU NGHĨA CỦA NGƯỜI KHMER TRONG XÃ HỘI TRUYỀN THỐNG

Xã hội truyn thống của người Khmer Nam Bộ gn lin với kng giannh hưởng của nhng ngôi chùa Nam tông. Mối quan hệ giữa ngôi chùa và cuộc sng của người dân là kng thể tách rời trong bối cnh của một xã hội nông nghip. Người Khmer thường thực hin theo nguyên tt cư trú là nhà cừa tp trung vây quanh một ngôi chùa, các yếu tố cu thành này được gọi là sóc/xóm (srok). Bên
 


ngoài sóc là ruộng lúa, xa hơn nữa là đa n cư trú của một sóc khác và người dân ở đó cũng chịu nh hưởng bởi một ngôi chùa Khmer.

Người Khmer kng chú trng phát trin khác hot động thương mại như người Vit, người Hoa. Hơn na, sng trong kng gian khép kín, họ kng có nhu cu đi khỏi sóc để tìm kiếm các giải pháp mưu sinh khác. Trong sóc, họ có đt đai để sn xut nông nghip hay chăn ni, có ngôi chùa để nuôi dưỡng một đời sng tinh thn cao đp và có thể nói người Khmer chp nhn một đời sng an bần lc đo. Theo quan đim truyn thống của người Khmer, vic vượt ra khỏi phm vi kng gia nh hưởng của một ngôi chùa là điu mà các bc phhuynh kng khuyến khích con em của họ thực hin. Với cơ cu tổ chức xã hội như vy, Pht giáo Nam tông Khmer có nhiu điu kin thun lợi để tiếp cn trực tiếp đến từng gia đình người Khmer. Thông qua các cụ cao niên, người già có uy tín trong cng đồng, các vsư có thể gọi trực tiếp nhng đứa trhay thanh thiếu niên hư hỏng, ngnghịch với cha mẹ lên chùa giáo hun. Một hình thức giáo dục khác là cha mẹ cũng có thể gửi con trai vào chùa nhờ chư tăng giám qun, hòng tnh cho trem tiếp xúc vi bn xu. Nếu không có một cơ cu tchức phù hợp và mi quan h mt thiết giữa nhà ca và gia đình thì nhà sư không ththực hin được những phương thức giáo hun trc tiếp như vy. Điu này góp phần to dựng nên một truyn thống duy trì đo hiếu ca người Khmer, hạn chế ti đa những du hiu rạn nức trong cơ cu tchức gia đình ca h. Bên cnh đó, các lhi Pht giáo và lhi tc người ng chính là những khong thời gian mà Pht giáo Nam tông Khmer tiếp cn vi người dân một cách hiu quả nht. Do có đông người Khmer tp trung vca trong các dp lhi, chư tăng stchức thuyết pp vi nhiu chđkhác nhau, trong đó đo hiếu luôn được nhc đến như một chđề cn thiết trong đời sng thực tại ca người dân.

Tính linh hot của chư tăng Khmer trong công tác hoằng pháp là họ thường chọn cách tiếp cn phù hợp nht với đc đim dân trí của người Khmer. Vic sử dụng đin tích Pht giáo và đin tích dân gian Khmer để lý giải cho nhng hành động nhân quả là cách thức mà chư tăng Khmer thường áp dụng nhm dn dt người dân đến mục tiêu cao nht trong đo lý hiếu nghĩa đối với ông bà và cha mẹ của h. Triết học Pht giáo thường ít được trình bày trong các buổi thuyết pháp vì vn đề này có thể to cho người tham dự một sự hiu
 


biết viên mãn nhưng đối tượng lãnh hội phải là người có năng lực học vn. Nhng câu chuyn mà chư tăng thuyết giảng luôn gn lin với hành động thực tin trong thực hành tôn giáo hay nghi lễ của người Khmer. Với hình thức thực hin và một nim tin đơn gin là ai làm lễ như vy thì ông bà, cha mẹ họ sẽ được hưởng phước báu trên cõi tri. Cthnhư đi vi những người Khmer nghèo khó, không có khng tchức lgicho cha mđã khut, thì chọn cách m đơn giản vbáo hiếu là ng dường một bát cơm cho chư tăng khi hhóa duyên qua nhà. Người Khmer tin rằng vic ng dường thực phẨm như vy sto phước nh cho ông bà, cha mca họ ở cõi tri.

Thông qua các lễ hội, người Khmer thực hin nghi lễ báo hiếu cho cha mẹ bằng bằng nim tin và nhng giá trị tinh thn khác nhau. Cụ thể như trong lễ mng năm mới (Chol Chnam Thmay), họ svào chùa đp núi cát với nim tin rằng một ht cát dâng lên cho Đức Pht slà một công đức hồi hướng cho cha mẹ nên với số lượng cát đp thành núi thì công đức svô lượng, vô biên. Cũng trong lễ mng năm mới (Chol Chnam Thmay) lại có phong tục con cháu tm cho ông bà, cha mẹ tại nhà. Các bc ông bà, cha mẹ trong gia đình sẽ được con cháu mời ra sân nhà, ngồi trang trng trên nhng chiếc ghế, con cháu ng nước nu vi hương liu, chậm ri xi từng o nước nhnn lên tn thông bà, cha m. Nghi lnày nhằm cc phúc cho ông bà, cha mđược sng thng hưởng phước an vui vi gia đình, nó ng nhằm thhin nh động hiếu nghĩa vi các bc sinh tnh đã dày công nuôi nấng, dy dcon cháu khi còn tm bé.

Đối với người Khmer, vic báo hiếu của con cháu dành cho ông bà cha mẹ quan trng nht là dịp lễ hội Sel Dolta (29/09-01/09 AL), được tổ chức sau Vu Lan của người Vit khoảng một tháng. Luôn có một chuỗi nghi lễ din ra trong phm vi gia đình như t chức lễ hồi hướng công đức cho nhng người thân đã mt và cả nhng người đã mt mà kng phải họ hàng của gia chủ. Các lễ ng cho ông bà với các loại thực phẨm và nghi lễ cu siêu được thực hin tại chùa cùng với sự tham gia của đông đo người dân.
  1. TIẾP CN CA PHT GIÁO NAM TÔNG VXÂY DNG ĐO ĐC HIẾU NGHĨA CA NGƯỜI KHMER TRONG BI CNH HIỆN NAY

Xã hội người Khmer hin nay đang đứng trước nhng thách thức lớn do sự thay đổi cơ cu tổ chức và phương thức mưu sinh
 


mới trong nn kinh tế thị trường. Người Khmer mở rng kng gian sinh tồn, vic cư trú hòa nhp vào các cng đồng tộc người láng giềng đã làm cho kng gian sng của họ luôn chịu nhiu tác động của vn đề biến đổi kinh tế và xã hội đương đi. Nhiu người Khmer hin kng có đt canh tác đã chọn giải pháp di dân lao động lên các đô thị lớn của min Đông Nam B. Cuộc sng tách rời khỏi phm vi nh hưởng của nhng ngôi chùa Khmer. Công vic mưu sinh của họ phải tuân theo quy định thời gian của công ty và gn như họ kng có điu kin để tham gia các lễ hội truyn thống, ng như thực hành các nghi lễ liên quan đến tôn giáo. Với trình độ dân trí thấp và cuộc sng tách ri ngôi ca, người Khmer di dân lao động đã trtnh những đi tượng truyn giáo ca các tôn giáo mới. Hqunày m thay đi quan đim sng, nhận thức vđo hiếu của một sngười Khmer và đồng thời ng to nên sxung đột tôn giáo giữa các tnh viên trong gia đình, nht là giữa người cha và con trai.

Nhng người Khmer di dân lao động khi đã có gia đình thường chọn giải pp gửi con trẻ cho cha mẹ cm sóc, ng tng họ gửi một số tin về cho cha mẹ chi tiêu và trang trải cho vic nuôi dưỡng con cái của h. Đây cũng được đánh giá như một nh động hiếu tho trong hoàn cnh sng xa nhà của h. Tt nhiên là các nghi lễ o hiếu mang giá trị tinh thần truyn thống của người Khmer thì họ gn như kng thể thực hin được, vì kng thể thu xếp được thời gian ri. Thượng ta Kim Rune cho biết: Phn nhiều người Khmer làm nhng công vic nng nhc, hkhông có chuyên môn để làm vic trong văn phòng, công ty hay nghề kỹ thuật. Mỗi khi t chức làm đám cúng cho cha mẹ, hli vquê đón chư tăng qua nhà tng kinh. Xong ri hmau chóng vli thành phvì sợ mt công ăn vic làm”. (Trích ghi chép đin dã: Thông tín viên Thượng ta Kim Rune, người Khmer, 50 tuổi, sư cả trụ trì chùa Ba Cụm, ngày 20/8/2017, xã Ngọc Biên, huyn Trà Cú).

Xu hướng tuân theo tp quán tộc người đã nh hưởng chi phối đến nếp sinh hot của người Khmer di dân lao động. Các trường hợp nghiên cứu của chúng tôi cho thy khi kng tìm được ngôi chùa Khmer tại nơi tm trú, người Khmer cũng kng kết nối với các ngôi chùa Vit theo hệ phái Pht giáo Bắc tông. Giải pháp cho vic thực hin nghi lễ báo hiếu cho cha mẹ đã khut là quay vngôi chùa Khmer tại n quán của họ như lời mô tả của Thượng ta
 


Kim Rune. Chị Thch Thị Ngoan (30 tuổi), quê quán p Nô Đùng, xã Tân Hip, huyn Trà Cú, hin làm công nhân may túi xách cho Công ty Thái Bình. Chị cùng chồng tm trú trong một khu nhà tr dành cho người Khmer tại khu phố Chiêu Liêu, phường Tân Đông Hip, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, chị cho biết: đây không có chùa (Khmer) nên chúng tôi không thđi chùa, mà có chùa thì chùa ở đây khác với chùa của người Khmer. Chùa Việt, người Khmer không đi được do chùa Việt ng kiến, tng kinh khác xa với chùa Khmer nên người Khmer thy xa lquá. Tôi rt muốn đi chùa nhưng không đi được vì ở chnày không có chùa Khmer để đi. Người Việt đi chùa của người Khmer rt nhiều nhưng người Khmer không thđi chùa Việt”. (Trích ghi chép đin : Thông tín viên chị Thch ThNgoan, sinh m 1987, người Khmer, nghnghip công nn, ngày 12/03/2017, nguyên quán p Nô Đùng, xã Tân Hip, huyn Trà Cú, tỉnh Trà Vinh).

Tại các làng quê của người Khmer, số lượng trem hư hỏng cũng gia tăng theo thời gian. Nhiu thiếu niên kng thích bị cha mẹ gửi đến chùa tu báo hiếu”’ mà chỉ thích chọn cuộc sng tự do và hành động theo sở thích của mình. Đt đai đã trở thành một loại hình tài sn lớn khiến cho nhn thức của người nông dân Khmer cũng thay đổi, tranh chp chủ quyn đt đai thường xuyên xy ra, ngay cả giữa con cái với cha m. Nhiu skin din ra nm ngoài khnăng khuyên n của chư tăng đã dn đến vic người Khmer thưa kin với nhau đến cơ quan chính quyn.

Internet là một loại hình phương tin kỹ thut cao, gây hiu ng hai mt cho đời sng của con người, tin ích và nguy hi. Ngày nay, internet đã được phsóng đến tn các sóc xa xuôi nht của người Khmer. Các loại hình quán nước và quán cà phê trong các sóc Khmer hin nay đu được trang bị wifi để thu hút khách hàng, nht là nhng thanh thiếu niên người Khmer. Với một chiếc đin thoại di động thông minh, họ có thể tiếp cn kng biết cơ man nào v thông tin, dịch vgiải trí, game online ... Tác nhân này dn đến vic nhiu thanh thiếu niên Khmer nghin online và nghin game.

Trong tình hình có nhiu biến đổi vmt xã hội của người Khmer, Pht giáo Nam tông Khmer đã có nhng thay đổi hướng tiếp cn Pht pháp và đo đức con người, mc dù nhng thay đổi này chưa phải là nhanh chóng. Trước hết, giải pháp nâng cao năng lực học vn là một chiến lược quan trng để duy trì vai trò dn dt
 


tinh thn của chư tăng đối với người Khmer. Các buổi thuyết giảng phải mang tính thực tin, phù hợp với hn cnh mưu sinh của các nhóm người Khmer khác nhau, đc bit là phải tìm giải pháp tiếp cn nhng Pht tử là người Khmer di dân lao động. Chư tăng cn giúp đỡ nhng người Khmer này lựa chọn một phương hướng báo hiếu cho cha mẹ phù hợp nht với hn cnh sng của h. Đặc bit vic sử dụng công nghệ internet đã gn như mang tính phổ quát đối với chư tăng Khmer qua hệ thống Blog, Website và Facebook của cá nhân hoc nhà chùa, có thể xem như nhng trung tâm mạng nhm rút ngn khoảng cách kng gian giữa người Khmer di dân lao động và Pht giáo. Kho sát các trang Facebook của chư tăng Khmer và nhà chùa, chúng tôi nhn thy rằng nhng trao đổi về hot động Pht sự, hoằng pháp, giải thích các đin tích Pht giáo, đin tích dân gian, vn đề nghi l, đời sng tinh thn và kết bạn là vn đề chyếu thường xuyên din ra.

Tuy nhiên, cũng theo kho sát của chúng tôi với nhng người Khmer di dân lao động như trường hợp kho sát tại phường Tân Đông Hip, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương thì phn nhiu họ bị mù chữ hoc biết đọc, biết viết rt ít chKhmer và chVit. Hcó sử dụng đin thoại thông minh nhưng phn nhiu là dùng để liên lc, chkng thể viết trên Facabook, một phn vì lo ngại vn đề hn chế trong học vn của mình. Chính vì vy, họ kng thể trao đổi với chư tăng trên Facebook hay Messenger, trong khi đó cuộc sng xa nhà khiến cho họ luôn gp nhiu trc trở, lo toan, bao gồm cả nổi lo về cha mẹ già yếu ở quê nhà kng ai chăm sóc hay vic họ chưa thể tổ chức một đám phước cu siêu cho cha mẹ đã khut trong khi nhng người Khmer khác ở trong sóc đã thực hin ri. Nổi lo kéo dài thường to ra tâm lý bt ổn cho nhng người Khmer di dân lao động, khng khoảng tâm lý thường xuyên xy ra đã khiến cho họ có xu hướng quay vlại quê nhà khi họ thy số tin lương dành dụm có thể đủ để mua một đôi bò hay một công đt.

Vic xây dựng các hội đn Pht tử hay nhóm Pht tử nhm kết nối giữa cng đồng Khmer và nhà chùa cũng là một giải pháp được các chùa Khmer thực hin trong thời gian gn đây. Phương thức thực hin là chư tăng nhờ một người Khmer thường xuyên đến chùa làm đu mối để kết nối với nhng người Khmer khác trong khu vực cư trú của anh ta. Giải pháp này đt được hiu quả cao như
 


nhà chùa có thể thông báo đến các nhóm Pht tử nhng skin din ra theo định k. Đng thời các nhóm Pht tử Khmer cũng tự tìm đến chùa lễ Pht, xin vn an từ chư tăng mỗi khi họ thu xếp được thời gian. Tuy nhiên, phương thức này chỉ có hiu quả ở thành phố HCMinh, vì nhng người Khmer di dân lao động ở đây có thể đến chùa Chantarangsey ở qun 03 hay chùa Pôthivông ở qun Tân Bình. Song ở Bình Dương và Đng Nai, người Khmer kng thể đến thành phố HCMinh được vì khoảng cách tương đối xa, còn tại các đa phương này thì kng có chùa Khmer. Tuy nhiên, nhà chùa cũng có nhng thay đổi linh hot như trường hợp lễ báo hiếu ông bà, cha mẹ trong nhng ngày Sel Dolta thì tổ chức thuyết pháp và cúng lễ vào cả ban ngày và ban đêm để có thể đón nhn số đông người Khmer đến dự sau khi họ tan ca. Nhng người Khmer làm vic tại Bình Dương và Đng Nai có thể đến tham dự lễ hội Sel Dolta quan trng nht về thực hành phong tục báo hiếu với ông bà cha mẹ h. Qung đường đến thành phố HCMinh dù sao đi nữa cũng gn hơn hành trình trvề min Tây của h.
  1. KT LUN

Hiếu tho ông bà, cha mẹ được xem là tiêu chuẨn đo đức hàng đu của người Khmer. Cơ cu tổ chức của xã hội Khmer truyn thống đã trở thành một quy chuẨn để Pht giáo Nam tông Khmer tiếp cn trực tiếp với từng hộ gia đình người Khmer trong vic duy trì và phát huy giá trđo đức hiếu nghĩa của h. Trách nhim báo hiếu cho cha mẹ thường được ca ngợi ở người con trai qua tục tu báo hiếu theo truyn thống của Pht giáo Nam tông Khmer và phong tục chỉ có con trai mới được làm sư của người Khmer Nam B. Tuy nhiên, trên phương din đời sng gia đình thì vai trò trực tiếp chăm sóc cha mẹ già thường được ủy thác cho người con gái út theo tục mu hệ của người Khmer. Trước tác động của nn kinh tế thị trường, nhng giá trị hiếu nghĩa của người Khmer cũng bị mai một do sự thay đổi của môi trường sng, di dân lao động và thay đổi nhận thức. Pht giáo Nam tông Khmer đã thhin những nlực đáng ktrong công tác Pht s, hong pp nhằm duy trì nn tng đo đức hiếu nghĩa ca người Khmer đi vi ông bà, cha mca h. Những nlực nhằm kết ni người Khmer di dân lao động đến vi ngôi chùa tuy đt được những kết qukhiêm tn nng nó ng đã thhin tính ng động ca chư tăng Khmer trong công tác hong pp ca h.






TÀI LIỆU THAM KHO

Lê Anh Vũ (2016), “Hành trình mưu sinh trên đt khách: sinh kế và bn sc, trong Đời sống xã hi Việt Nam đương đi (tp 2), Nhng người thiểu số ở đô th: lc chn, trthành, khác biệt, NXB Tri thc.

Phan Anh Tú (2014), “ng xvới môi trường tự nhiên của người Khmer ở Nam Bộ: Nhìn từ sinh thái học Pht giáo, Tp chí Nghiên cứu tôn go số 05 (131), tr. 61- 69.

Phan Thị Yến Tuyết (2010), Tâm thức ứng xvới nước của người Khmer qua lễ hội Ok Angbok – tiếp cn sinh thái văn hóa, Tờ tin khoa hc – Đi hc Trà Vinh, số 07, tháng 02 năm 2010.

UBND huyn Trà Cú (2001), Đán phát triển kinh tế - xã hi nhm giảm nghèo nhanh và bền vng huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh giai đon 2011-2015 và định hướng đến năm 2020.

UBND huyn Trà Cú (2011), Phát triển kinh tế - xã hi nhm giảm nghèo nhanh và bền vng huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh giai đon 2011-2015 và định hướng đến năm 2020.

UBND tỉnh Trà Vinh (2015), Báo o hiện trng môi trường tỉnh Trà Vinh 5 năm (2011-2015).

y ban Nn dân huyn, Huyn ủy Trà Cú (2016), Báo cáo kết quả triển khai thực hiện chương trình hành đng phát triển kinh tế - xã hi vùng đng bào n tc Khmer giai đon 2011-2015.

y ban Nn dân xã Ngọc Biên (2015), Báo cáo kết quthực hiện chính sách n tc giai đon 2011-2015.

Vin Khoa học Xã hội Vit Nam (1993), Chính sách xã hi: mt số vn đề lý luận và thực tiễn, NXB Khoa học Xã hội.

Vin Văn hóa (1993), Văn hóa người Khmer ở Đồng bng sông Cửu Long, NXB Văn hóa Dân tc.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây