17 MINH TRIẾT “KHUYẾN THIỆN - TRỪNG ÁC” VÌ HÒA BÌNH CỦA PHẬT GIÁO HIỂN LỘ QUA VIỆC THỜ HAI VỊ HỘ PHÁP TRONG NGÔI  CHÙA NGƯỜI VIỆT

Thứ tư - 08/05/2019 19:30
Vũ Minh Tuyên - Vũ Thúy Hằng
193






 
MINH TRIT KHUYẾN THIỆN - TRNG ÁC VÌ HÒA BÌNH CA PHT GIÁHIỂN LQUA VIC THỜ HAI VỊ HỘ PP TRONG NGÔI  CHÙA NGƯỜI VIT

 
Vũ Minh Tuyên* Vũ Thúy Hng**





Như thách thức cùng năm tháng, như nm ngoài chiu hướng hin đại hóa của con người và xã hội, Pht giáo luôn đồng hành và tiếp biến văn hóa của người Vit to nên bản sc Pht giáo Vit Nam. Song, có lẽ giá trcốt lõi trong minh triết nhân văn của Pht giáo nói chung, minh triết vì hòa bình của Pht giáo nói riêng đã hội duyên với chân giá trị truyn thống của người Vit to nên bản sc văn hóa Pht giáo Vit Nam. Minh triết vì hòa bình của Pht giáo được thể hin thông qua giáo lý cơ bản của Pht giáo (Tam Tạng Chân Kinh), cũng như trong tổ chức, nghi lễ và hệ thống thờ cúng của Pht giáo, song trong phm vi tham lun của Hội tho chúng tôi xin được mn n vMinh triết “khuyến Thiện – trng Ác” vì hòa bình của Pht go - hiển lộ qua vic thhai vHộ Pp trong ngôi chùa người Việt”.

Txưa cho đến nay, hệ thống thờ cúng của Pht giáo luôn có sđa dạng khác nhau, sđa dạng đó kng nhng phụ thuộc vào kng gian, thời gian khác nhau, mà còn phụ thuộc vào phong tục, tp quán, bản sc của mỗi dân tộc, cùng các tông phái khác nhau của Pht giáo. Ở Vit Nam, hệ thống thờ cúng đa dạng của Pht




*. TS., **. ThS., Trường Đại học Sư phm - Đại học Thái Nguyên, Vit Nam.
 


giáo cũng mang đm du n của từng thời đi, min vùng và tông phái khác nhau.

Thực tế vic thờ hai vHPháp trong ngôi chùa Vit Nam được thể hin ở các ngôi chùa theo trường phái Bắc tông, còn các ngôi chùa theo trường phái Nam tông và Kht sĩ là kng thờ. Bởi vy, trong bài tham lun ở đây chúng tôi kng nói tới vic thờ cúng hai vHPháp trong ngôi chùa Vit Nam nói chung, mà chỉ n vvic thờ cúng hai vHPháp trong ngôi chùa người Vit.

Hình tượng HPháp trong Pht giáo Nguyên thủy được đề cp tới với nhiu người khác nhau, với tên gọi cùng nhng đin tích khác nhau .., nhưng thường được nhc tới là HPháp Vi - Đà - Tôn
- Bồ tát, Thin Hu, Ác Hu, hay La Đắc, Ma Pha La. Cũng có quan nim cho rằng, HPháp là hin thân tin kiếp nhiu đời của Bồ tát. Tên gọi HPháp được hiu chính là nhng vị Thiên thn luôn tự nguyn hỗ trợ, bo vPht pháp và pht tử. Ngoài ra, theo lời Đức Pht kng chỉ có Thiên thn mới là HPháp, mà tt cả mọi người, ai có tâm ủng hộ Pht pháp (từ bỏ cái ác, khuyến khích phát trin cái thin) trường tồn ở thế gian, đu được coi là HPháp. Mục đích và cùng đích của HPháp là bo v, ủng hộ cho Pht pháp được phát trin và trường tồn mang lại lợi lc qun sinh” cho thế gian.

Như vy, Hộ Pháp được hiểu là rt nhiều người, ở nhiều thời đại khác nhau, với tên gi khác nhau, song cùng chung mc đích giống nhau là bo vệ Pht pp, nhưng trong ngôi chùa ca người Việt li có slựa chn và kết tinh, hiển lộ qua hai vHộ Pháp (Thiện và Ác), đây chính là mt trong nhng nét đặc thù to nên bn sc Pht giáo Việt Nam. hơn thế nữa, đây cũng chính là điểm nhn to nên sc thái riêng trong không gian thcúng ca ngôi chùa người Việt.

Hơn ai hết, Đức Pht đã sớm giác ngra bản tính vốn có trong mỗi một con người luôn hàm chứa tính thin và tính ác, đồng thời Ngài cũng đã tìm ra được bin pháp căn cốt nht để hướng tới s giải thoát, bằng cách khuyên n con người làm điu thin, hướng tới Thin Tâm, xa lánh và trng trị điu ác. Trong Pht giáo, Tâm được xem như là một phm trù cơ bản. Nhưng nó giữ vị trí là vai trò quan trng trong các tông phái khác nhau. Phm trù Tâm” của Pht giáo vừa biu hin là bản thể lun, đồng thời cũng chính là nhn thức lun. Tuy nhiên, Tâm” của Pht giáo luôn mang tính
 


hướng thin. Đtâm hướng thin theo nhà Pht thì phải giữ giới và thực hin các quy tc đo đức của Pht giáo. Đng thời phải biết chế ngự, xa lánh và dit trtâm Ác thông qua dit đế. Pht coi Thin tâm là chính tâm, là tâm Pht, coi Ác tâm là tà tâm, là tâm qu. Với Pht giáo, nhng người thành tâm, hướng thin, sng có trách nhim, bao dung đu sẽ thy có Pht ở trong lòng, bởi “Pht tại tâm, tâm là Pht. Pht giáo chủ trương kêu gọi con người phải biết yêu thương nhau trên tinh thn Từ - Bi - Hỷ - X(tứ vô lượng tâm), với tm lòng quên mình để cứu độ chúng sinh (vô ngã vị tha). Trong kinh Uđàna, Đức Pht đã khẳng định: “Cũng như nước của đại dương hùng ng chỉ có mt vlà vmặn của muối. Giáo pp chỉ có mt vlà vgiải thoát1. Với tư tưởng khuyến Thinvà trng Ác” của Pht giáo cũng chính là khởi nguyên cho minh triết vì hòa bình, bác ái và vì hnh phúc, m no cho nhân loi, mà cho tới nay chưa có tôn giáo nào có thể sánh bằng.

Cùng lun n vbản tính của con người, Nho giáo trong suốt my tm năm cũng luôn din ra cuộc tranh lun xung quanh bản tính có sn của con người là Thin, hay là Ác. Khổng Tử (551 - 479 tr. CN) người sáng lp ra Nho giáo cho bản cht con người do Thiên mnh” chi phối quyết định, đức “Nhân” chính là giá trị cao nht của con người, đc bit là người quân tử. Khổng Tử cho rằng bản tính con người vốn gn nhau, do tp nhim nhng thói hư, tt xu trong xã hội mà xa nhau (tính tương cn, tp tương vin). Thời đại Khổng Tlà thời đại mà theo ông “Lễ nhc hư hỏng, cn phải khôi phục lại “L. “Lmà Khổng Tử nói ở đây là nhng lễ nghi, quy phm đo đức thời Tây Chu, tức là lễ của nhà Chu. Ông cho rằng, do vua kng giữ đúng đo vua, tôi kng làm đúng đo tôi, cha kng giữ đúng đo cha, con kng làm đúng đo con, cho nên thiên hvô đovà thiên hđại lon. Do vy cn phải lp lại trt tự kỷ cương cho vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con (thuyết chính danh) để cho thiên hhữu đo, xã hội mới yên ổn, thái bình.

Mnh Tử (371 -289 tr. CN) cho rằng con người mới sinh ra Trời phú cho đủ Nhân, Nghĩa, L, Trí, Tín, đủ đức Hiếu (với cha mẹ người thân) - Trung (với vua) và Kính (với bề trên) nhưng chỉ có

 
  1. Nara - Da Thera: Đức Phật và Phật pháp, Phạm Kim Knh dịch, Nxb Tp. HCMinh, 1998, tr. 262.
 


người quân tử là có khnăng giữ được đủ mà thôi. Bởi vy, Mnh T đi tới khái quát bản tính con người là tính Thin(nhân chi sơ tính bản thin), một sngười do kng biết tu dưỡng và do nh hưởng tp quán mà trở nên ác, qua tu dưỡng có thể giữ được cái thin.

Tuân Tử (298 - 238 tr. CN), ông đưa ra thuyết tính Ác, phn đối thuyết tính Thin” của Mnh Tử. Ông cho rằng bản năng của con người vốn là đi tìm sự tha mãn dục vng sinh lý, nếu hot động tự nhiên theo bản tính y thì trong xã hội scó trộm cướp, vô luân. Do vy, ông cho rằng phải có lễ nghĩa, khuôn phép, hình pht để ngăn ngừa tính Ác” để có thể cải biến được cái ác để trở thành tốt. Tuân Tlà người đu tiên khởi xướng ra tư tưởng pháp trị - là dùng lut pháp hà khc để trng trị cái ác trong con người.

Nhưng triết lý Nho gia chịu nh hưởng nhiu tư tưởng của Kinh dịch. Theo tư tưởng này, lúc âm - dương phân định, thanh klàm tri, trời là chúa tể của vũ trụ; trng klàm đt, con người và vn vt được to thành sự hỗn hợp giữa khí thanh và khí trng trong khoảng giữa âm - dương nhưng con người bẩm thụ tính trời nên bản tính con người là Thin.

Trong quan nim của Lão Tử, đo như là tính quy lut khách quan, là nguồn gốc vn vt và cũng là nguồn gốc của con người. Theo ông, bản tính con người có hai khuynh hướng hữu vivà vô vi. Vô vi là khuynh hướng trvnguồn gốc để sng với tự nhiên, tức là hợp thể với đo. Vì vy, Lão Tử đưa ra giải pháp cho các bc trnước là ly vô vi mà xsự, ly bt ngôn mà dy đời, để lp quân bình trong xã hội phải trkhử nhng thái quá, nâng đỡ cái bt cp, ly nhu thắng cương, ly yếu thắng mnh, tri túc(biết đ), kng cnh tranh bo động. Lão Tkhuyên n con người sng với nhau phải tử tế, phải biết cho đi, trong skhoan dung độ lượng.

Như vy, Pht go Việt Nam vừa tiếp thu Pht go Ấn Đ, vừa chịu ảnh hưởng ca Nho go, Lão go, cùng nhng phong tc tập quán và n ngưỡng n gian, to ra sgiao thoa, tiếp biến văn hóa riêng biệt đc đáo. Nét riêng biệt đc đáo đó được hiển hiện mt cách vừa tinh tế, vừa thân quen qua hình tượng ca hai vị Hộ Pp trong ngôi chùa người Việt.

Khi bước vào chính đin trong ngôi chùa người Vit điu dễ dàng khiến chúng ta nhn thy; hai vHPháp to lớn với khuôn mt,
 


dáng điu hin lành và dữ tợn khác nhau. Dân gian thường gọi bằng cái tên thân thuộc là ông Thin và ông Ác. Hai vHPháp trong các ngôi chùa với trang phục mc bộ áo giáp, mũ trụ uy nghiêm. Tượng HPháp trong các ngôi chùa ở min Bắc thường được to dáng đứng hoc ngồi trên lưng con su - một loại sư tử huyn thoi. Trong khi đó các chùa min Nam hai vị tượng HPháp thường là đứng cưỡi rng, cưỡi mây. Tượng hai vHPháp ở hai bên trong tư thế đối lp, trái ngược nhau nhưng lại tương trợ cho nhau, thống nht hài hòa ln nhau, hin lộ minh triết sâu xa tư tưởng vì hòa bình của Pht giáo Vit Nam.

Vic thờ ông Thin và ông Ác trong ngôi chùa người Vit thể hin stồn tại song trùng của hai mt đối lp giữa Thin và Ác trong cuộc sng đời thường, cũng như trong bản thân nhân cách của mỗi một con người. Hình tượng hai vHPháp ở chính đin nơi Tam bo, khiến người ta liên tưởng đến quan văn, quan võ ở Triu chính, nơi thường xuyên lun n và giải quyết nhng nhim vụ trng đại quốc gia. Liên quan đến vn đề trị quốc” từ xưa cho tới nay theo quan nim của người Vit cũng xoay xung quanh sự chọn giữa văn trhay võ tr, mà trong số nhng nhim vụ trng đại quốc gia đó lại liên quan đến vn đề chiến tranh và hòa bình.

Theo nghĩa chung nht thì chiến tranh đối lp với hòa bình. Có thể nói chiến tranh đồng nghĩa với cái Ác, thông qua đó nó biu hin các cp độ khác nhau của khổ đếmà Pht từng khái quát. Bởi vy, dit đế” ở đây cũng gn lin với dit trừ chiến tranh để bo vệ hòa bình. Hòa bình được hiu với nhiu nghĩa khác nhau, song theo nghĩa chung nht; hòa bình là trạng thái xã hội kng có chiến tranh, kng dùng vũ lực để giải quyết các tranh chp trong quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc, các nhóm chính trxã hội. Đ bo vệ hòa bình được bn vng, có thể thực hin bằng nhiu hình thức khác nhau, song hin lộ qua hai vHPháp có thể khái quát bng cp phm trù là khuyến Thinvà trng Ác” trong ngôi chùa người Vit.

Tượng HPháp khuyến Thin thường được tô màu trắng hồng, nét mt thanh thn, từ bi, ming nhon nụ cười, tay cm viên ngọc Thin Tâm, đt ở bên tay trái n thờ Pht (từ trong nhìn ra). H Pháp khuyến Thin với tư tưởng chđo là khuyên n, giáo hóa chúng sinh Chư c mặc Ác, chúng Thiện phng hành(ai làm điu ác
 


mc người ta, chúng sinh phải luôn giữ và m điu thin). Tư tưởng ly thin m nh để nhng điu u mê trong bể kh” nn gian được xóa b, tránh xa tam độc(tham, sân, si), hướng tới sgiải thoát. Với triết lý quay lại là bờ” của Pht thể hin sbao dung, độ lượng nn từ, sn sàng tha thứ cho nhng klầm đường lc lối mà biết hối cải, ăn n, sám hối. Thông qua hình tượng Hộ Pháp khuyến Thiện, Pht giáo gửi tới mt thông điệp hết sức tường minh rng: mun cho xã hi hòa bình, an lc thì trước hết phi biết tuyên truyn, giáo hóa cho chúng sinh hướng thiện và làm điều thiện, xa lánh điều ác.

Tư tưởng khuyến Thin của Pht giáo được cụ thể hóa thông qua các phm trù từ bi, hx, vị thavới mục đích cứu kh, cứu nnvà tm lòng bao dung nhân đo của Pht giáo vừa trùng hợp với bản tính yêu chuộng hòa bình của người Vit, lại đáp ứng được nhu cu tinh thn truyn thống của qun chúng vốn đa slà nhng người lao động đã từng sng trong đau khổ da diết mênh mông từ kiếp này sang kiếp khác. Dù là một tôn giáo từ phương trời xa xôi truyn đến, nhưng Pht giáo lại gn gũi với tâm lý truyn thống của người Vit. Dĩ nhiên qun chúng đã kng tiếp nhn Pht giáo với tư cách là một hệ tư tưởng, một trào lưu triết học mà như một s cm thông và đồng điu; vừa gn gũi; vừa có tình; vừa có lý; lại vừa cụ thể và thiết thc. Pht giáo nói về cái khổ của con người được thể hin ở “Bát kh” cùng bao nhiêu nỗi khổ khác mà con người đã từng nếm tri. Pht giáo nói vvô thườngđã đt nim hy vng cho người bình dân vsự thay đổi cuộc sng cùng cực của h.

Đối với người Vit Nam, từ em bé đến cụ già, Bụt (hay Pht) đã trở nên quen thuộc, gn gũi và thân thiết. Với nhân dân Bụt tượng trưng cho sự cm thông, lòng thương người, tinh thn từ bi, hỉ x. Trong các câu truyn cổ tích, một điu lý thú là Khổng Tvà Lão Thay các vgiáo chủ của các tôn giáo khác hu như kng bao giờ xut hin, trong khi đó Bụt luôn hin lên để cứu giúp nhng người hin lành, tht thà tốt bụng đang trong cơn khốn knguy nan.

Chủ tịch HCMinh, anh hùng giải png dân tộc, danh nhân văn hóa kit xut của Vit Nam, ngay chốn ngục trung” của kẻ thù, vào lúc “Nửa đêmNgười cũng đã ngra rằng:
“Thiện - Ác phi đâu là tính sn Phn nhiều do giáo dục mà nên”.
 


HCMinh khẳng định phm cht, năng lực của con người kng phải có sn, cũng kng phải từ trên trời sa xuốngmà do đu tranh, rèn luyn bn bỉ hàng ngày mà phát trin và củng c. Trong phong cách ứng xgiữa người với người HCMinh luôn thể hin minh triết nhân văn sâu sc của Pht giáo về tư tưởng khuyến Thin. “Mỗi con người đu có thin và ác ở trong lòng, ta phải biết làm cho phn tốt ở trong mỗi con người ny nở như hoa mùa xuân và phn xu mt dn đi.2

Mục tiêu cao nht, bao trùm và thường xuyên mà HCMinh cng hiến và theo đuổi toàn bộ cuộc đời là độc lập, tự do, hạnh phúc của con người. Tôi chỉ có mt sham mun, ham mun tt bc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn đc lập, n ta được hoàn toàn tự do, đng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mc, ai cũng được hc hành3.

Toàn bộ cuộc đời hot động của HCMinh là quá trình tuyên truyn đu tranh vì mục đích giải png con người, vì hòa bình, hạnh phúc cho nn loi. Trong lời ra mt o “Người cùng kh, Người chủ trương: Đi từ gii phóng nhng người nô lệ mt nước, nhng người lao đng cùng khổ đến gii phóng con người”.

Có thể nói ở một góc độ nào đó, với tm lòng yêu thương con người, sn sàng dn thân trong khổ đau để tuyên truyn giải png dân tộc và nhân loại của HCMinh là hin thân của tm lòng v tha và đức hnh của Bồ Tát về tư tưởng khuyến Thin và thực hành Thin tâm.

Như vy, từ lý luận đến thực tiễn tư tưởng vì hòa bình ca Pht giáo thông qua Hộ Pháp khuyến Thiện trong ngôi chùa người Việt, đã khng đnh vai trò ca Thiện tâm chính là ci ngun mang li hòa bình thnh trị, an lc cho xã hi, bởi vy phi luôn đề cao và khơi dy Thiện tâm trong mi mt con người. Song bn tính ca con người luôn hàm chứa tính hai mt giữa Thiện và Ác, vì vy nếu chdng li ở khuyến Thiện thì chưa đủ, mà phi cn phi xử dụng đến biện pp cương quyết và cng rn hơn đó là trng Ác.

Tượng HPháp trng Ác thường được tô din màu đ, với nét mt gin dữ, râu, ria, mt trợn ngược, tay lăm lăm thanh Long đao,

 
  1. HChí Minh: Tn tp, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t. 12, tr.558.
  2. HChí Minh: Tn tp, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t. 4, tr.161.
 


bảo kiếm, hay chày Kim Cang …, sn sàng ra tay trng trkác, tiêu dit cái ác, đồng thời như răn đe mọi người tránh xa con đường dn đến tội ác để khỏi bị trng tr, được đt bên tay phải bàn thờ Pht. Ở một sngôi chùa min Bc, cn của HPháp còn giẫm đp lên tượng của quỷ ác. HPháp trng Ác thể hin tư tưởng kng khoan dung và tha thứ cho cái ác, một mt thể hin triết lý nn quả của nhà Pht, mt khác cũng thể hin spn minh rạch ròi trong ứng xử, đối xgiữa cái thin với cái ác. Cửa chùa thanh tịnh vốn là chốn từ bi, c ái” đề cao cái thin, song cũng sn sàng ra tay tiêu dit, trng trị cái ác, bảo vệ cái thin, vì hòa bình cho nn loi. Hộ Pháp trng Ác thhiện minh triết ca Pht về tư tưởng mun cho nhân loi được hòa bình an lc, thì không thdng li ở vic tuyên truyền khuyến Thiện, mà cn phi có sức mạnh thực sự để sn sàng trng trị và tiêu diệt cái Ác, bo vcái Thiện.

Cái Ác chính là nguyên nhân dn con người tới đời là bể kh. Theo Pht giáo cái khổ của đời người kng phải do ai to ra, mà do chính con người tự to ra nghip, đồng thời phải hng ly nghip. Pht giáo khẳng định cái khổ có thể tiêu dit được, có thể chm dứt được luân hồi. Muốn chm dứt mọi đau khổ thì chỉ có cách dit nguyên nhân sinh ra skhổ đau y. Pht giáo quan nim nguồn gốc của skhổ là svn hành của thp nhị nhân duyên, trong đó gốc rsâu xa là vô minh. Vì vy muốn dit khổ phải đi ngược lại s vn động của mười hai nhân duyên, bt đu từ dit trvô minh. Vô minh bị dit, trí tuệ bừng sáng, hiu rõ được bản cht của tồn ti, thực tướng của vũ trvà con người, kng còn tham dục và kéo theo nhng hành động to nghip na. Tức là thoát khỏi bể kh của vòng luân hồi sinh - tử.

Cho dù chiến tranh đồng nghĩa với phá hoi, với cái ác, song ng có nhiu loại chiến tranh, có chiến tranh phi nghĩa và chiến tranh chính nghĩa. Trong thực tế có thể phải phát động chiến tranh để chống lại chiến tranh, hoc nói một cách khác là phải dùng bo lực để chống lại bo lực, hay ly ác để trác. Trong dân gian người Vit vn truyn tai nhau câu nói cửa ming: “Đi với Bt mặc áo cà sa. Đi với ma mặc áo giy. Hoc là: “Hiền với Bt chkhông hiền với ma”.

Một trong nhng giới lut hàng đu của Pht giáo là kng được sát sinh hại vt, nhưng Pht cũng chủ trương nêu quan đim; giết một người để cứu nhiu người y là thin! Đây cũng chính là cơ
 


sở triết lý để ct nghĩa cho vic tại sao từ xưa cho tới nay đã có biết bao nhiêu nhà sư Vit Nam luôn sn sàng cởi áo cà sa khoác chiến bào, bỏ kinh mõ, mà cầm gươm, go ra trn” trong các cuộc chống gic ngoại xâm giữ gìn nn hòa bình cho dân tc.

Là một dân tộc thường xuyên bị gic ngoại xâm dòm ngó, thông qua chiến tranh để xâm lược và đô h, trng Ác” trong Pht giáo được nhân dân hiu là chống cướp nước, cướp ssng của gia đình mình, để bo vệ hòa bình, độc lp của dân tc.

Trải qua quá trình lịch sử, dựng nước và giữ nước, Pht giáo được nhân dân ta đón nhn và tiếp thu phù hợp với tâm lý truyn thống dân tộc và có đc đim kng tách rời với tư tưởng cứu quốcvì hòa bình và độc lp, tự do cho dân tc. Theo sát cuộc đu tranh của dân tộc từ trước đến nay kng tư tưởng nào hơn Pht giáo, tr chnghĩa cng sn. Bình minh của lịch sdân tộc đã gn lin với Pht giáo4.

Lý Nam Đế (503 - 548) vừa to lp ra nước Vn Xuânvừa xây dựng chùa “Khai Quốc. Hình nh nước Vn Xuânvà chùa “Khai Quốcđã quyn cht vào nhau trong buổi đu dựng nước và giữ nước. Điu đc sc và thú vlà gn đây, giới sử học Vit Nam đã có nhng cơ svng chc để cho rằng Lý Nam Đế, vHoàng đế đu tiên của Vit Nam vốn xut thân là Sa di tu hành ở chùa Hương p, xã Tiên Phong, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên ngày nay. Vì muốn chống lại sáp bức, bt công đòi lại độc lp tự do cho dân tộc mà Người đã phải từ bỏ chốn Thin môn, đứng lên tiêu dit gic ngoại xâm, lp ra nước Vn Xuân, mưu cu hòa bình, hnh phúc cho dân tc. Một ông vua khác Lý Pht Tử cũng tự nhn mình là con Pht (chđâu phải là Thiên tử con Tri) để trng Ác” - cứu dân, độ thế.

Đến thế kỷ thX, lịch sVit Nam lại một ln nữa được ta sáng bởi Lý Công Un (974 – 1028) là Sa di, đệ tử của nhà sư Lý Khánh Vân, tu hành ở chùa CPháp, TSơn, Bắc Ninh, cũng đã vì dân, vì nước mà xả thân trng Ác, khởi nghip nhà Lý huy hoàng trong lịch sử của dân tc. Lý Công Un với nhãn quan của nhà Pht học, nhà chính tr, nhà quân sự thiên tài đã quyết định rời đô ra Đại La to lp đế kinh Thăng Long, giữ cốt cách phong độ Vit Nam, góp
  1. Trn Văn Gu: Đo Phật và mt số vn đề ca lch sử tư tưởng Việt Nam, Vin Triết học, H, 1986, tr. 15.
 


phn quan trng vào thành tựu mới văn minh sông Hng, to lên một trung tâm chính tr, kinh tế, văn hóa của cả nước. Đây là một kỳ tích, một bước ngot lịch sử quan trng kng chỉ đối với quốc gia phong kiến Đại Vit đương thời mà còn ta sáng cho tới ngày nay và muôn đời con cháu mai sau. Các vua nhà Lý đu tôn sùng Pht giáo. Lý Thái Tông thế hệ thby của thin phái Vô Ngôn Thông. Lý Tnh Tông thuộc thế hệ thứ nht của thin phái Tho Đường, thuộc phái này còn có Lý Anh Tông (thế hệ thba) và Lý Cao Tông (thế hệ thnăm) Lý Huệ Tông sau khi nhường ngôi cho Lý Chiêu Hoàng cũng đã đi tu với hiu danh là Huệ Quang thin sư.

Dưới đời Trần, vua Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông vừa là bc minh quân, vừa là nhng nhà Pht học li lc, sáng tác nhiu thơ văn mang tư tưởng sâu sc của Pht giáo. Trần Thái Tông đã viết quyn “Thiền Tông ChNam, thu suốt được tâm tông, hay cuốn Lục thì sám hối khoa nghigồm nhng bài văn và thơ dùng để tụng nim trong sáu khoảng thời gian một ngày của người tu hành. Ông còn viết tựa đề kinh Kim Cương, viết bình lun vta thin, về nim Pht …, đc bit là tác phm “Khóa Hư Lục” nổi tiếng.

Trần Nhân Tông (1258 - 1308) là vvua anh minh, quyết đn, được ssách ngợi ca là vanh hùng cứu nước. Trong cả hai ln kháng chiến chống quân Nguyên Mông ông đã trở thành ngọn cờ đn kết tn dân lãnh đo nhân dân Đại Vit vượt qua muôn vàn kkhăn gian kh, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng. Sau khi đt nước được hòa bình, thịnh tr, đức vua đã nhường ngôi cho con vlàm Thái Thượng Hoàng. Người từ bỏ ngai vàng, bệ ngọc mà ví như trút bỏ đôi giày rách” lên núi rng Yên Tử tu hành và trở thành Trúc Lâm Điu Ngự - Trần Nhân Tông - Người mở đu cho phái Thin Trúc Lâm Vit Nam.

Thin Trúc Lâm có skế thừa với các dòng Thin trước đó, đồng thời lại được tiếp nhn và phát trin trên cơ sở của tinh thn yêu nước và lòng tự hào dân tc. Với hào khí “Đông - A” trên tinh thn t Thát, sn sàng tiêu dit quân xâm lược bo tàn, giữ gìn nn hòa bình, thịnh trị cho dân tc.

Trong thời kỳ hin đại Chủ tịch H CMinh luôn thể hin s gn bó giữa Pht giáo với truyn thống tốt đp của Vit Nam là hướng thin, làm vic thin, nhưng cũng sn sàng vùng lên để tiêu
 


dit quân xâm lược vì nn hòa bình cho dân tc. Giá trnày thực s đã biu lộ qua Lời kêu gi toàn quc kháng chiến” tường minh và bt hủ của Người:

Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực n Pp càng ln tới, vì chúng quyết tâm xâm lược nước ta mt ln nữa!

Không! Chúng ta thà hy sinh tt cả, chnht đnh không chu mt nước, nht đnh không chu làm nô l.
Hỡi đng bào!
Chúng ta phi đng lên!”5

Tư tưởng bt hủ trên của Người cũng chính là cội nguồn cho ca từ của một bài hát truyn thống của Quân đội Nhân dân Vit Nam Hát mãi khúc quân hành, đồng thời cũng là khát vng hàng ngàn năm vì hòa bình độc lp của dân tộc Vit Nam:
Dù rng đời mình thích hoa hồng Kẻ thù buc ta ôm tay súng”.
Trong thời kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mxâm lược, ng như các cuộc chiến tranh giữ gìn biên giới Tổ quốc đã có rất nhiu Tăng Ni, Pht tử tuy nương thân trong chốn cửa Thin vn kng quên trách nhim với non sông đt nước, luôn sn sàng đóng góp của cải, sức lực, trí tuệ thm chí cả tính mạng mình cho sng- hip đu tranh giải png dân tộc, gìn giữ hòa bình.

Pht sngLưu Công Danh (1900 - 2003) là một trong nhng huyn thoại đc bit của lịch sVit Nam gn lin với trang sPht của thời hin đi. Ông xut tn từ một người nghèo khó, phải đi m thuê, m mướn để nuôi sng bn tn, gia đình. Khi sang n Đ, ông tình nguyn đi tu nh theo Pht, qua sự tuyn chọn rt nghiêm ngt, ông được chọn đi tới chùa Tây Phương. Trong suốt 10 m tri, một mình đi bộ qua 10 ngôi chùa trong rng hoang, núi thẳm của dãy núi Hymalaya, vừa phải tự kiếm sng, vừa phải tự bảo vệ mình trước các loài thú dữ, rn rết..., vừa phải ngồi thin, học thuộc kinh pp, tự tìm thuốc chữa trị cho mình. Cuối cùng ông cũng đã đến được chùa Tây Phương, và đã được công nhận đc
  1. HChí Minh: Tn tp, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t. 4, tr.534.
 


đo thành “Pht sng. Ông được ngợi ca, được đón rước trng thị ở nhiu nước ở châu Âu, châu Á. Sau đó, ông trvCampuchia xây dựng chùa cnh và tu hành ở chùa Prp Pra. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, nghe theo tiếng gọi của non sông đt nước, ông đã tự nguyn quay trvề tham gia kháng chiến gian kh, trường kỳ để chống gic cứu nước. “Pht sngLưu Công Danh đã trở thành, đảng viên Đảng cng sn Vit Nam, Đại úy Quân đội Nhân dân Vit Nam đã góp phn đời mình cho cuộc kháng chống Pháp và chống Mỹ nhm giải png dân tộc, xây dựng xã hội mới tươi đp hơn. Ông thực slà người viết tiếp trang svàng của Pht giáo Vit Nam thời hin đại luôn hướng tới điu thin, nhưng cũng sn sàng ra tay trng trị cái ác để cứu nhân độ thế, giữ gìn nn hòa bình cho dân tc.

Tượng HPháp trng Ác đã khẳng định chân lý cái ác trước sau gì thì đu phải bị tiêu dit, cho dù nó được thể hin dưới các hình thức khác nhau. Cái ác có thể bị tiêu dit một cách hữu hình cụ th, song cũng có thể bị tiêu dit một cách vô hình theo kiu “Lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó lọt. Song trong tâm lý của người Vit đu mong cái ác phải nhanh chóng được tiêu dit một cách hin thực, và muốn đt tới điu đó thì đòi hỏi mỗi người phải ra tay hành động để dit trừ cái ác. Dit ác thì đồng nghĩa với dit trừ chiến tranh, bo vệ cái thin, bo vệ hòa bình. HPháp trng Ác là hin thân của nhng tượng đài anh hùng bt tử của dân tộc Vit Nam trải dài khp mọi min của đt nước, qua hàng ngàn năm trong các cuộc chiến tranh nhm bo vệ hòa bình, độc lp, tự do cho dân tc.

Minh triết khuyến Thin – trng Ác” của Pht giáo đã được thăng hoa và tiếp biến văn hóa thành nghệ thut vừa đàm – vừa đánh” trong các cuộc chiến tranh giải png và bo vệ hòa bình của dân tộc ta thời hin đi. Và chính nhng cuộc kháng chiến thn thánhnày của dân tộc ta được thế giới ngợi ca là lương tri, là biu tượng vì hòa bình của thế giới.

Tượng hai vị Hộ Pp uy nghi được thcúng trang trng ở ngôi chùa người Việt, càng cho chúng ta thy ý nga uyên thâm được kết tinh từ minh triết ca Pht go với thực tiễn đu tranh dng nước và ginước hàng ngàn năm ca n tc ta. Hai vị Hpp vừa thhiện khát vọng, niềm tin, vừa thhiện ý chí quyết tâm son st trong vic gìn giữ, bo v hòa bình, hạnh phúc cho n tc và nhân loi. Khuyến Thiện – trừng
 


Ác” to nên cặp phm trù có giá trị mang tính quy luật trong vic gi gìn nền hòa bình cho nhân loi. Hai vHộ Pháp dường như đi lập, trái ngược nhau, song li thống nht nhau, hỗ trvà to điều kiện cho nhau không thtách rời. Hai vHộ Pháp xét đến cùng đều có chung mc đích là vì con người và do con người, hướng con người thoát khi mi khđau, đhưởng an vui, thịnh vượng. Và trên hết, hai vHPháp là hiện thân minh triết chánh niệm vì hòa bình bn vng ca Pht giáo Việt Nam.







***

206

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây