16 SỬ DỤNG TÀI SẢN TÔN GIÁO MỘT CÁCH CÓ TRÁCH NHIỆM VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG THEO QUAN NIỆM PHẬT GIÁO TỪ SRI LANKA

Thứ tư - 08/05/2019 12:47
Ts.. Praneeth Abayasundara and Prof. Dhanapala Wijesinghe




 
SDNG TÀI SN TÔN GIÁO MT CÁCH CÓ TRÁCH NHIM VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG THEO QUAN NIM
PHT GIÁO TSRI LANKA
 
Ts.. Praneeth Abayasundara and Prof. Dhanapala Wijesinghe(*)



 

TÓM TT


Nghiên cứu này n nhc vsđa dạng trong vic sdụng tài sản Pht giáo ở Sri Lanka và ảnh hưởng của vic sdụng đến s phát triển bền vng của đt nước. Bài tham luận là một nghiên cứu xã hội, được viết để trả lời cho câu hỏi làm thế nào mà vic sử dụng nhiều lần các i sản Pht giáo có thđóng góp cho s phát triển bền vng vn đang gp vấn đvkhan hiếm các nguồn lực. Theo đó, mục tiêu trng m của bài nghiên cứu là xác định những cách thức và phương tiện rõ ràng ng như tiềm n trong vic sdụng nhiều lần các i sản tôn giáo đđáp ng được scần thiết của các nguồn i nguyên dành cho các hot động Pht svà góp phn vào công cuộc phát triển bền vng. Ý nghĩa và sliên quan của nghiên cứu này có thđược chứng minh vvai trò của các tchức tôn giáo trong vic hoàn thành các Mc tiêu Phát triển Bền vng của Liên
 
  • Department of Sociology and Anthropology, University of SriJayewardenepura, SriLanka.
Người dịch: Trí Dũng
 


Hp Quốc. Theo như các tchức tôn giáo thế giới, một phn đáng kể các nguồn lực khác nhau có tiềm năng thực hiện một sự đóng góp quyết định cho sphát triển bền vng trong khuôn khổ ý thức hệ của các tôn giáo đó, vn thuộc shữu của hvà ng hiển nhiên các i nguyên đó được sdụng cho mục đích phát triển ở các cấp độ khác nhau. Tuy nhiên, các nghiên cứu được yêu cu xây dựng một nền tảng kiến thức khoa học dựa trên vic sdụng các i sản tôn giáo cho mục tiêu phát triển bền vng trong xã hội hiện đại. Mt nền tảng kiến thức như vy sto điều kin phát triển n nữa vai trò của các tchức tôn giáo trong sphát triển bền vng ở bt kquốc gia nào.

Nghiên cứu hiện tại đã được thực hin tại hai mươi m ngôi chùa Pht giáo và các học vin có liên quan nằm ở tỉnh phía Tây Sri Lanka. Và mu nghiên cứu này được lựa chọn đxem t sđa dạng trong vic sdụng các i sản tôn giáo trong các đóng góp đáng kcho s phát triển và phúc lợi của người dân. Các cuộc phỏng vấn theo bng câu hỏi được thiết kế sẵn có cu trúc và bán cu trúc được thực hiện vi by mươi người trlời ng vi các quan sát được thực hiện trong các tchức này vi mục đích thu thp dliệu cho nghiên cứu này.

Các phát hiện đã tiết lnhững cách thức và phương tiện thú v đbiến đổi các i nguyên tôn giáo thiêng liêng, vn là Tăng kvt được các n đcung cấp dành riêng cho Tăng đoàn, được chuyển thành sdụng chung đphục vcho lợi ích của Tăng đoàn và đại chúng mà không có bt ksgiới hạn nào. Bng cách cung cấp đt chùa cho các mục đích phát triển như thành lập các tchức giáo dục, phúc lợi, dịch vxã hội, sc khỏe, y tế, phát triển cng đồng, n hóa, ththao, đào to ngh, trung m công nghiệp và thương mại, hxây dựng các công trình có nhiều không gian cho nhiều mục đích của xã hội , hot động của các tchức phúc lợi xã hội và giáo dục, i trhọc bổng và tr cấpi chính, to điu kin cho các cuộc hành hương và các chương trình nhà ở được thhiện rõ ràng ở các mức khác nhau. Ngoài các i sản tôn giáo và các qucung cấp riêng cho Tăng đoàn, mối quan m trong vic m kiếm nguồn i trcho
 

các mục đích phúc lợi và phát triển như vy ng được thhiện rõ ràng trong bài nghiên cứu.

Theo nguyên tc tiêu ng có trách nhiệm cho sphát triển bền vng, nghiên cứu này đã chứng minh stht rằng ngay ccác i sản tôn giáo được sdụng cho các nhà sư Pht Giáo có thể được chuyn đổi thành i sản phục vcho cng đồng thông qua stham gia tích cực của các tchức Pht Giáo vào các hot động phúc lợi xã hội và phát triển. Các tchức Pht Giáo Sri Lanka đang có một tiềm năng lớn đđóng góp cho sphát triển bền vng của đt nước.
    1. GIỚI THIỆU

Nghiên cứu này liên quan đến vic sdụng đa dạng các i sản tôn giáo Pht Giáo ở Sri Lanka và tác động của vic sdụng đó đối vi sphát triển bền vng của đt nước. Sri Lanka vi tư cách thành viên của Liên Hp Quốc, đã nlực đhoàn thành các mục tiêu phát triển bền vng, khám phá những cách thức và phương tiện hoàn thành khác nhau trong thời gian quy định. Là một quốc gia đang phát triển, Sri Lanka đang phải vt lộn vi nguồn lực hn chế trong vic thực hiện các dán phát triển bền vng. Mặc dù Sri Lanka luôn m kiếm các nguồn lực nước ngoài m tư vấn và đu tư phát triển, nhưng hkhông quan m nhiều đến năng lực phát triển của các tổ chức xã hội phi kinh tế, năng lực kinh tế và khnăng tư vấn phát triển của h. Và ngay cstham gia tích cực của hvào và đóng góp có giá trcho sphát triển bền vng dường như vẫn chưa được công nhn và đánh giá đy đt góc đphát triển. Thiếu kiến thức khoa học vcác tchức xã hội như vy bao gm các tchức tôn giáo m mt đi tiềm năng phát triển của các tổ chức xã hội đó. Tm thời không đề cập tới các tổ chức xã hội, nghiên cứu hiện tại tập trung vào các t chức tôn giáo Pht Giáo tham gia góp phn vào phát triển bền vng của đt nước. Ý nghĩa và sliên quan của nghiên cứu này có thđược đánh giá trong
 


phương diện vai trò của các tchức tôn giáo trong vic hoàn thành các Mc tiêu Phát triển Bền vng của Liên Hp Quốc. Như các tchức tôn giáo thế giới đã thy rõ, một phn đáng knguồn lực khác nhau có tiềm năng thực hiện các đóng góp quyết định cho s phát triển bền vng trong khuôn khổ ý thức hcủa các tôn giáo đó, vẫn thuộc shữu của hvà ng hiển nhiên là các i nguyên đó được sdụng cho mục đích phát triển ở các cấp đkhác nhau. Tuy nhiên, các nghiên cứu được yêu cu đxây dựng một nền tảng kiến thức khoa học dựa trên vic sdụng cáci sản tôn giáo đ phát triển bền vng trong xã hội hiện đại. Mt nền tảng kiến thức như vy sto điều kin phát triển n nữa vai trò của các tchức tôn giáo trong sphát triển bền vng ở bt kquốc gia nào.
    1. VN ĐNGHIÊN CỨU

Như các tvin ở các quốc gia khác, các tchức Pht Giáo ở Sri Lanka ng thực hiện một scác chức năng xã hội nhm mnag lại lợi lc cho người n chkhông chcó các hot động tôn giáo thuần tuý. Do đó, hu hết các i nguyên và Tăng kvt, vn dành riêng biệt cho Tăng Đoàn, được chuyn thành i nguyên s dụng cho nhiều mục đích sdụng xen kvi các vấn đthế tục của người dân. Nghiên cứu xã hội học này được thiết kế đtrlời cho vấn đvvic m thế nào mà bằng cách đa dạng hóa mục đích s dụng các i sản Pht Giáo có thđóng góp vào công cuộc phát triển bền vng, vn dĩ đang phải đu tranh vi skhan hiếm v nguồn lực cho mục đích phát triển.
    1. MỤC TIÊU CA NGHIÊN CỨU

Theo đó, mục tiêu trng m của vic nghiên cứu là xác định các cách thức triển khai ng như khai thác những tiềm năng ng n trong vic sdụng i sản tôn giáo đphù hợp vi scần thiết của nguồn lực dành cho các hot động nhm góp phn vào sphát triển bền vng.
 
 
    1. PHƯƠNG PHÁP

Nghiên cứu hiện tại đã được thc hiện dựa trên stham kho đến hai mươi m ngôi chùa Pht Giáo và các tchức có liên quan nm ở một tỉnh thuộc phía tây Sri Lanka. Và nghiên cứu có chđích này đã được lựa chọn đxem t vic sdụng đa dạng các i sản tôn giáo nhm to ra sđóng góp đáng k cho s phát triển và phúc lợi ca con người. Các nhà nghiên cứu đã thực hiện các cuộc phỏng vấn có cu trúc và n cu trúc vi by mươi người đồng thời thực hiện kho sát tại các tchức đthu thp dliệu cho nghiên cứu này. Những ngôi chùa và tchức Pht Giáo đó bao gm (1) Ranmuthugala Puranaviharaya ở Kadawatha,
(2) Gangaraya ở Colombo, (3) Mahindaramaya ở Ethulkotte, (4) Mahamevna Arama, (5) Jayasekeraramaya ở Kuppiyawathara )
(6) Thilakarathnaramaya ở Borella, (7) Sri Wijayawardanaramaya
-Mampe ở Piliyandala, (8) Kolamunne Prathibimbaramaya ở Piliyandala, ( 9)Wijeramaviharaya ở Wijerama, (10 ) SunethraDevi Piriven Viharasthanaya ở Papiliyana, (11) Boudhayathanaya tại Watarappala Road ở Mount Lavinia, (12) Soisaramaya in Moratuwa,
(13)BodhiBharakaraMandalayaofKalutara,(14)Malibenaramaya,
(15) Wajiraramaya ở Bambalapitiya, (16) Mallikaramaya ở rathmalana, (17) Allenmathiniyaramaya ở Polhengoda, (18) Sudarsanaramaya ở Baththaramulla,(1 9) Wijayasundararamaya ở Kesbawa, (20 ) Kindelpitiye Pansala,(21) Dharmayathanaya ở Maharagama, (22) Wapikaramaya ở Maharagama (23) Bellanwila rajamahaviharaya ở Bellanwila, (24) Kethumathiviharaya và (25) Abayaya.

Những ngôi chùa Pht Giáo, các tchức liên quan và một số tchức tương tkhác đã tiến hành hàng trăm chương trình phát triển trong khi cung cấp không gian cho hot động của các nhiệm vđó. Do tầm quan trng của các dịch vđược cung cấp bởi các t chức này, i liệu nghiên cứu này không thbáo cáo chi tiết hết tt cả các dịch vụ theo tên của từng tổ chức, và chỉ tính đến sự đóng
 


góp của các tchức cho s phát triển bền vng đthực hiện các khía cạnh quan trng rõ ràng.
    1. KT QUNGHIÊN CỨU

Các phát hiện đã tiết lnhững phương pháp và cách thức thú vcủa vic chuyn đổi các i sản tôn giáo thiêng liêng những i mà vn chsdụng riêng biệt cho Mahasangha như i sản Sangika, thành sdụng hợp tác vì lợi ích của cMahasangha và pht tkhông có giới hạn. Vic cung cấp đt chùa cho các mục đích phát triển như thành lập các tchức giáo dục, phúc lợi, dịch vxã hội, sc khỏe, y tế, phát triển cng động, n hóa, thdục ththao, đào to ngh, trung m công nghiệp và thương mại, xây dựng các kiến trúc tòa nhà sdung không gian có sẳn cho các mục đích khác nhau của xã hội, hot động của các tchức phúc lợi xã hội và giáo dục, quy định v học bổng và trcấp i chính, to điều kin cho các chương trình nhà và các cuộc nh hương được thhiện rõ ở các cấp đkhác nhau. Ngoài các i sản tôn giáo và các quđược cung cấp cho vic chs dụng cho Mahasangha, mối quan m trong vic m kiếm i trcho các mục đích phúc lợi và phát trin như vy ng được thhiện rõ từ nghiên cứu.
    1. CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC TRONG CÁC CƠ SPHT GIÁO

S dụng các cơ svt cht của Pht Giáo cho vic đào to các nhà sư và pht tđã là truyn thống lịch sử ở Sri Lanka. Trước khi nền n hóa phương Tây du nhập vào thời kthuộc địa, các trường Pht Giáo được gọi là Pirivena là học vin giáo dục duy nht trong nước. Các nhà sư và pht tkhông chhọc Pht pháp và n hóa Pht Giáo tại các ngôi chùa trường học mà còn học các n học khác những điều mà tht shữu ích cho các bphn khác nhau của xã hội. Các di sản lịch svgiáo dục con người tại các cơ sPht Giáo đã biến đổi theo các hướng khác nhau cùng với hệ thống giáo dục của các học vin phương tây khiến một strình đbt buộc phải
 

xã hội hóa phù hợp vi trem. Ngày nay, giáo dục tlớp Mt đến Đi học được Chính phi trmiễn phí tại gn mười ngàn trường công lập và mười m ngàn trường đại học quốc gia tương ng. H thống giáo dục hiện đại không chđào to quốc gia mà còn giúp cho những người có trình đkthut một phương tiện đthay đổi đời sống ttầng lớp nghèo đến tầng lớp trung u và thượng u. Đng thời, chức năng của các bằng cấp giáo dục như là một nguồn thông tin uy tín và được công nhận trong xã hội Sri Lanka. Sự thay đổi đc thù xã hội này đã to ra một cuộc cạnh tranh lớn giữa giáo dục học đường cũng như giáo dục cao học trong xã hội đương đại. Kết qulà, đã ny sinh một thtrường sinh lợi cho vic thu học phí giáo dục ở các hthống tư nhân tại các trung m đô thbao gồm các tỉnh ở miền Tây đt nước. Vic thiếu các cơ s h tầng trong hthống tư nhân và tiền thuê các cơ ssẳn có cao n đã m các giáo viên tư nhân chọn thuê các tòa nhà của các ngôi chùa vi giá chợp lý ở Colombo và các trung m đô thkhác. Chng bao lâu, một slượng đáng kcác ngôi chùa hot động như một trung tâm giáo dục có thu phí được triển khai bởi các giáo viên có trình độ sto ra nguồn thu nhn mới và sinh lợi cho các ngôi chùa đgây quỹ cho vic phát triển và bo trì các ngôi chùa cũng như các dịch vphúc lợi xã hội khác được đảm nhiệm bởi các ngôi chùa này. S chuyn đổi đc biệt này của các nhiệm vgiáo dục của Pht Giáo góp phn rt lớn vào vic sdụng có trách nhiệm các i sản của tôn giáo cho shnh phúc của thế htrbằng cách to điều kiện cho hcạnh tranh bằng những bằng cấp có giá trtrong xã hội nơi người nghèo không có sự lựa chọn nào khác ngoài vic học đến đại học đleo n những nc thang của xã hội. Vic mrng cơ sh tầng giáo dục sang các cơ shtầng của Pht Giáo đã giải quyết được phn lớn các vấn đ vđáp ng nhu cu ngày ng vvic nâng cao trình đgiáo dục cho một slượng lớn người n trong đt nước. Đó ng là vic sdụng các nguồn i sản tôn giáo của Pht Giáo góp phn vào sphát triển bền vng của quốc gia.
 
 
    1. CÁC TRUNG TÂM DY NGHTRONG CƠ SPHT GIÁO

Đào tạo nghđã được xác định là một nhu cầu bt buộc của thanh niên Sri Lanka theo như các cuộc khảo sát các nguyên nhân chính gây n tình trng bt n của thanh niên dẫn đến vic nổi dy của thanh niên Sinhalese vào năm 1971, 1988 và 1989 xung đột quân scủa thanh niên Tamil trong suốt ba thp kỷ từ năm 1978. Theo các khuyến cáo liên quan đến các yêu cầu đó, vic đào tạo nghphi hữu ích cho tt cả người trtuổi trong nước đtạo điều kin cho học có vic m sớm và trthành ng n có ích. Mặc dù đào tạo nghcho thanh thiếu niên là yếu t quan trong cho sphát triển bền vng, nhưng nnước vẫn chưa thgii quyết dứt điểm vic này. Để đáp ng vấn đmang tính quốc gia cho vic không nghề nghiệp của người trtuổi, một vài ngôi chùa đã chđộng hướng dn đào tạo nghtận tình cho các thanh niên. Những ngôi chùa Pht Giáo nào dường như đã tiến thêm một bước đến gn nền giáo dục định hướng tri thức bng cách mcác trung m đào tạo nghkhác nhau cho giới trẻ ở tt ccác tầng lớp bt kể chủng tc và n ngưỡng của h. Vic gii quyết những nhu cu mang tính quốc gia như vy bng cách sdụng các i sản của tôn giáo là ng hcho vic sdụng các nguồn i nguyên khác một cách tch nhiệm các ngôi chùa Pht Giáo. Nghiên cứu này cho thy rõ tầm quan trng trong sđóng góp của các cơ sở Pht Giáo trong vic ng cường khả năng lao động của thanh niên ở Sri Lanka và là bng chứng thực tế rng các ngôi chùa Pht Giáo có khả năng đảm bảo sphát triển bền vng của đt nước.

Theo kết qunghiên cứu, các khóa đào to nghđược cung cấp ở các cơ sPht Giáo bao gm nhiều lĩnh vc khác nhau từ nghmộc đến phát triển phn mềm cho các nhu cu khác nhau của xã hội thông tin hiện đại. Tchức đào to nghnổi tiếng nht của Pht Giáo nm ở trung m thành phColombo cung
 

cấp năm mươi khóa học trong tt ccác lĩnh vc nghnghiệp ở cSri Lanka và nước ngoài. Hơn 50 ging viên chính ging dy cho hơn ba nghìn học viên đến từ các vùng miền khác nhau của đt nước. Chriêng t chức này đã hot động được gn bốn thập kktnăm 1979. Ban đu nó chcung cấp hai khóa học vào năm 1979 vi mục tiêu nâng cao tay nghcho người lao động tr tuổi và trong suốt bốn thp kqua, nó đã đào to ra hàng ngàn thanh niên có tay nghm vic trong nhiều lĩnh vc khác nhau. Như đã được u trong nghiên cứu, tchức này đã mrng địa điểm sang nhiều i trong đt nước vi 30 trung m đào to nghnhư Pannipitaya, Katharagama, Mathara, Kandy, Tangalla, Ibbagamuwa, Maduwanwala và một sđịa điểm khác. Hc hỏi từ tchức đào to nổi tiếng này, các ngôi chùa khác ng nlực triển khai thành công trong vic cung cung cấp đào to nghcho các thế hlao động tiếp theo. Tht thú vkhi tt cnhững nlực ban đu nhm cung cấp cho thanh niên những knăng nghđã thay đổi quan niệm việc các i sản thiêng liêng của tôn giáo không chỉ được phục vdành riêng cho Maha Sangha như Sangika mà còn được dùng cho Pht tử và các cng đồng khác. Theo cách đó vic sdụng có trách nhiệm đối vi i sản Pht giáo ng đã được thiết lập nhm giải quyết những nhu cu mang tính quốc gia vvic phát triển bền vng và duy trì an ninh, trt tvà hòa bình của xã hội.

Sthành công của vic phát huy những nhiệm vđó của các ngôi chùa dường như đến tcác bphn tuyên truyn của các nhà sư, mối quan hệ xã hội rng rãi các nhà sư đương nhiệm, các t chức bo trợ của Pht giáo và các tổ chức xã hội khác, các tổ chức, các công ty, các ban ngành địa phương và các tchức tthiện quốc tế, các tchức htrpháp lý, s công nhn của cng đồng và s giúp đcủa các cựu thực tập sinh có năng lực và giàu có.
 
 
    1. TRUNG TÂM CHĂM SÓC SỨC KHỎE VÀ Y TTRONG CÁC CƠ SỞ PHT GIÁO

Các ngôi chùa Pht Giáo ở Sri Lanka có danh tiếng lâu đời trong vic cung cấp các dịch vụ y tế và chăm c sc khỏe cho s thịnh vượng chung của mọi tầng lớp bng tấm ng tbi vi tt cmọi người. Có những tu sĩ Pht Giáo nổi tiếng vi các phương pháp chữa bệnh y học n gian truyn thống và phương pháp chữa bệnh Ayurveda ở các vùng khác nhau của đt nước. Dịch vchăm sóc sức khỏe và chữa bệnh đc biệt này đã thay đổi công ng của các ngôi đền thành các trung m chăm c sc khỏe và y tế. Vì thế, đó là một hot động thực tế của các ngôi chùa Pht Giáo Sri Lanka mà các nhà sư và các c sĩ sử dụng các cơ sở tôn giáo để triển khai các dịch vchăm c sc khỏe và y tế. Dựa theo bng chứng tcác cuộc kho sát, các trung m chăm c sc khỏe và y tế tại chùa chiền phục vrt nhiều bệnh nhân đến tcác tầng lớp nghèo khó. Ngay ckhi dịch vchăm c sc khỏe và y tế được cung cấp miễn phí như là một chính sách quốc gia, công ng của các trung tâm chăm c sc khỏe, các bệnh vin và các trung m điều trvẫn chưa được ng cao thay vào đó các trung m chăm c sc khỏe và y tế tại chùa chiền đápng được các nhu cu của bệnh nhân gp khó khăn trong vic chờ đợi lâu để được hưởng dịch vụ của các cơ sở y tế chính thức. Vì phi sdụng có tch nhiệm vi các i sản của tôn giáo cho lợi ích của các bệnh nhân và gia đình nghèo khó, hot động này dường như góp phn không nhcho sphát triển bền vng của cng đồng. Nhiều dịch vụ y tế và chăm c sc khỏe định kvà thường niên như khám chữa mt, khám răng và một vài kim tra y tế cho người nghèo, kim tra sc khỏe sản phụ, chương trình tiêm chủng cho trem và trsơ sinh, chương trình ng cao nhn thức vchăm c sc khỏe, phân phát lương thực, htrợ y tế và thông tin vsc khỏe được thực hiện tại cơ sPht Giáo. Các cơ shtầng của các tu vin Pht Giáo gii quyết được vấn đm kiếm những địa điểm tt và dtiếp cận đđem đến nhiều chương trình tư vấn và i điều trị y tế quan trng cho sc khỏe
 

cng đồng. Thm chí cvic quyên góp cho chăm c sc khỏe y tế ng được xem là nhiệm vtrng m tại các cơ sPht Giáo. Mt sngôi chùa đã thành lập các trung m chămc sc khỏe cho người già và những người khỏe mnh khác nhau sẽ chịu trách nhiệm chăm c cho h. Mt trung m dành cho các nhà sư cao tuổi ng đã được xây dựng tại Horana quận Kalutara i các nhà sư và pht tchăm c các vsư cao tuổi đến tcác vùng miền khác nhau trong nước.
    1. PHÁT TRIỂN CNG ĐNG VÀ TRUNG TÂM PHÚC LI XÃ HỘI TRONG CƠ SPHT GIÁO

Các trung m phát triển cng đồng được m thy ở hu hết các ngôi chùa Pht Giáo ở Sri Lanka và những ngôi đền được quan sát cho nghiên cứu này không khác nhau. Hđã phân b các tòa nhà cho các cơ sn phòng của các xã hội phát triển cng đồng khác nhau và cũng cho các cuộc họp thường xuyên của các xã hội đó mà không có bt kkhoản phí chính thức nào. Người đứng đu đương nhiệm hoc một trong những nhà sư hàng đu ng m c vấn cho một sxã hội. Khi tầm quan trng của sphát triển cng đồng đối vi sphát triển bền vng của đt nước được xem t, vai trò của các ngôi chùa Pht Giáo cung cấp cơ shtầng cho hcần được đánh giá cao vi shiểu biết thực svcơ shtầng nghèo nàn của cng đồng. Ngoài việc thiếu các cơ snhư vy, cơ sđền thđược lựa chọn đc biệt là trung m i mọi người có ththu thp bt kskhác biệt cá nhân. Cung cấp cơ s htầng thchế Pht Giáo cho các xã hội phát triển cng đồng có thđược coi một phương tiện quan trng của vic s dụng có trách nhiệm tiêu thcác i sản tôn giáo Pht Giáo cho phép quốc gia đt được các mục tiêu phát triển bền vng.

Mt khía cạnh quan trng của sphát triển bền vng là trao quyn cho phnữ, những người đã bthiệt thòi trong lịch s phthuộc vào sthống trcủa nam giới. Trong trường hợp của Sri
 


Lanka, các ngôi chùa Pht Giáo đã đóng một vai trò quan trng cung cấp cho phnmột diễn đàn đthu thp và tho luận vcác vấn đvà giải pháp của h. Mt sphnxã hội nhot động tcác trung m đền thvà tận hưởng phước lành của các nhà sư trong vic trao quyn cho các thành viên. So vi đàn ông, phnữ thhiện stham gia nhiệt tình vào tt c các chức năng tôn giáo được tiến hành trong các đền thvà scam kết của phndường như là một du hiệu rõ ràng vstrao quyn của h. Tchức các chức năng tôn giáo và các chức năng thế tục dựa trên đền thkhác, tham gia tích cực vào các nhiệm vgây quỹ của xã hội của h, lãnh đo các hot động chung, tchức các hot động phúc lợi xã hội và tham gia tích cực vào việc htrnhững người bảnh hưởng bởi thiên tai. bởi các trung m phát triển cng đồng dựa trên đền thờ. Trao quyn cho phntrong một xã hội thống trnam giới vẫn là một thách thức lớn đối vi các xã hội nvà dường như đã vượt qua ththách đó nhvào sbo trcủa ngôi đền. Khi cng đồng hoàn toàn công nhn thm quyn truyn thống của các nhà sư Pht Giáo, nam giới phải htrcác chương trình trao quyn được thực hiện tại khuôn viên chùa .

Các ngôi chùa Pht Giáo đang được xem t đóng góp to lớn cho sphát triển bền vng của đt nước bằng cách cung cấp nhiều dịch vụ phúc lợi xã hội cho người tị nn thiên tai, người tị nn di dời do xung đột, người khác, người già, trẻ mồ côi, người nghiện ma y, bệnh nhân mc bệnh mãn tính, trem phải di dời bởi gia đình tan vvà nn nhân của tội ác nghiêm trng chống lại người và i sản. Những nhóm khách hàng này đã được m thy trong hàng trăm trung m phúc lợi xã hội dựa trên các ngôi chùa Pht Giáo, được hưởng các dịch vthường xuyên được cung cấp cho s thịnh vượng của họ trong khi hỗ trợ các tổ chức theo các năng lực khác nhau y thuộc vào tính cách của h. Cung cấp đt đai và cu trúc vt lý cho các dịch vphúc lợi và shot động của các trung m đó vi chi phí rt lớn dường như đã đóng góp đáng kcho môi trường xã hội, nơi các dịch vụ tương tự của các tổ chức khu vực nhà
 

nước không đđđáp ng nhu cu của người dân. Ngay cvcht lượng, các dịch vphúc lợi được cung cấp bởi các trung m phúc lợi dựa trên chùa vẫn tt n các cơ scông cng được tiết lbởi những người nhn dịch vcó kinh nghiệm thưởng thức các dịch v của cnhà nước và chùa Pht Giáo. Tt ctrem trong trung tâm phúc lợi trong đtuổi được giáo dục ở trường được quan sát thy vic học ở các trường công lập trong vùng n cận của các trung m phúc lợi đó và vic to điều kin cho giáo dục học đường, giáo dục nghnghiệp và giáo dục đại học sau khi hoàn thành nó có thể được đánh giá cao đóng góp vào thành tựu mục tiêu giáo dục phát triển bền vng của các ngôi chùa Pht Giáo cam kết các nguồn lực của hcho hnh phúc của trem bt lực trong nước.

Trong trường hợp các thành viên khỏe mnh của cng đồng thường xuyên đến thăm đền thcủa h, các trung m phúc lợi và phát triển thực hiện các chương trình phát triển thcht tinh thn của những người dường như hp dẫn n nhiều đối với những người tham gia đc biệt trong vic quản lý ng thng tâm lý và ng thng của h. Đặc biệt, thiền định Pht Giáo vn được truyn thống hướng ti san lành vm linh của các n đdường như đã được mrng ra ngoài ranh giới m linh đgiải quyết các vấn đhiện tại vsc khỏe thcht và thuốc chữa bệnh m lý của những người tham gia các chương trình thiền định. S thay đổi tích cực này của chân tri thiền Pht Giáo và nhn thức mới vtầm quan trng của nó đối vi sc khỏe tinh thn và thể cht của tt ccác thế httrem đến người già đã m ng tần sut sdụng các cơ scủa Pht Giáo vì lợi ích của n đgiáo dân trong các cng đồng n cận như đã được quan sát trong nghiên cứu. Trong một sngôi chùa đang được xem t trong nghiên cứu này, có các trung m Yoga và các chương trình Yoga được thực hiện bởi các giáo viên yoga được đào to dưới sbo trcủa các đương nhiệm trưởng của những ngôi chùa Pht Giáo đó. Mặc Yoga quen thuộc vi cng đồng n giáo và một sngười khác ở Sri Lanka, nhưng người theo đo Pht đã coi đó là một n tập
 


luyn đnâng cao sc khỏe tinh thn và th cht cho đến những thp kgn đây khi các ngôi chùa Pht Giáo hàng đu nhn ra và cung cấp các cơ schùa cho vic nghiêng mình và đào to Yoga mà không có và tác động bt lợi đến bản sc Pht Giáo dựa trên thiền định vi sgiải thích và nhn thức Pht Giáo nguyên vn.
    1. LIÊN DOANH NG NGHIỆP VÀ CƠ STHƯƠNG MẠI TRONG CƠ SPHT GIÁO

Sdụng đt đai và cơ shtầng của cơ sđền thcho các mục đích công nghiệp khác nhau cũng được tìm thy trong một số ngôi đền được quan sát trong nghiên cứu. Trong các khu vc đô thị ở Colombo và các thành phkhác, các cơ sđc biệt vẫn còn đt đỏ do skhan hiếm đt có giá trthương mại và công nghiệp trong nền kinh tế thtrường hiện tại. Theo kết qunghiên cứu, một số phn của khuôn viên chùa được sdụng đxây dựng các khối xi măng m vt liệu xây dựng, sa chữa phương tiện, xe đạp, máy công nghiệp, máy tính, đồng h, điện tử và các thiết bị trong nước khác, sản xut giày, i xách tay, n và đng nhà bếp, đnội tht và sản xut quy mô nhcủa nhiều loi hàng hóa khác nhau những ngành công nghiệp này chyếu được thực hiện bởi những người đến tcác gia đình thu nhp thp có mối quan hcht chẽ vi các nhà sư của những ngôi đền đó. Mặc dù một snhà sản xut như vy có mối quan hhhàng vi các nhà sư đương nhiệm của ngôi đền, hvẫn trtiền định kcho ngôi đền đthuê đt và các công trình kiến trúc cho mục đích công nghiệp của h. Trong khi to ra nguồn thu nhp cho các ngôi chùa và các hot động phát triển và phúc lợi xã hội khác nhau, các ngôi chùa Pht Giáo to điều kin cho hot động kinh tế sản xut của các gia đình có thu nhp thp trong bối cảnh xã hội đô thi có thtrường cho các ngành công nghiệp đó.

Làm cho các thành viên cng đồng hot động kém năng sut n thông qua vic cung cấp đt đai và cu trúc, vn được dành
 

cho vic sdụng độc quyn trt tcủa các nhà sư Pht Giáo, Maha Sangha, có thđược coi là một đóng góp quan trng cho sphát triển bền vng và sdụng có tch nhiệm i sản chùa sản xut. Ý nghĩa kinh tế của sđóng góp này của các ngôi chùa Pht Giáo nên được hiểu theo giá trthtrường đt đcủa các vtrí địa lý của các i sản thuộc vcác ngôi chùa Pht Giáo. Trong trường hợp các ngôi chùa Pht Giáo tuân thnghiêm ngặt các quy tc tôn giáo s dụng i sản Sangika, được cung cấp cho vic sdụng độc quyn của Pht Giáo Maha Sangha, những người tiến hành sản xut hàng hóa công nghiệp có thể không được tiếp cận thị trường đô thị. Nhưng sự thay đổi tích cực của các tiêu chuẩn tôn giáo cứng nhc như vy trong vic tiêu thvà sdụng các i sản của chùa đã khiến các ngôi chùa có năng sut cao n nhiều, to điều kin cho stham gia sản xut của các gia đình thu nhp thp trong h thống thtrường đô thhiện đại trong khi vẫn giđược bản sc tôn giáo truyn thống của các ngôi chùa Pht Giáo. Như đã thy rõ trong nghiên cứu, có những chtrích xã hội chống lại vic sdụng các tài sản đền thvà công nghiệp thế tục nhưng lợi ích kinh tế của vic sdụng các i sản đền thđó cho ccác ngôi đền và các gia đình thp kém dường như đã m suy yếu chúng.

Liên quan đến vic sdụng tài sản của đền chùa cho sản xut công nghiệp là các dán thương mại được m thy trong các khu đt và đền chùa nm trong khu đô thị. Theo kết qunghiên cứu, không chnhững người thuộc tầng lớp thu nhp thp của xã hội mà ctầng lớp trung u và thượng u ng sdụng i sản đền thđtiến hành kinh doanh các loi hình như chi nhánh ngân hàng và tchức i chính, công ty, ngành in ấn, báo chí, phương tiện truyn thông đại chúng, trung m n hàng, cửa hàng, bãi đu xe, nhà thuốc, phòng khám tư nhân và trung m kênh. Hđã thuê những i sản đó có và kng có hành vi cho thuê hợp pháp trong một khoảng thời gian cth. Vic sdụng thương mại như vy của các i sản đền thdường như đã m cho chúng có nhiều năng sut cho đt nước trong khi có lợi ích đc biệt cho ccác đền
 


thvà các doanh nhân. Schuyn đổi các vùng đt và cơ sh tầng kém năng sut của các ngôi chùa Pht Giáo thành năng sut ở nhiều cấp đkhác nhau đảm bo ssẵn có của các nguồn lực sản xut cần thiết cho sphát triển bền vng.
    1. CƠ SỞ LƯU TRÚ TRONG CÁC CƠ SỞ PHT GIÁO

Các ngôi chùa Pht Giáo thực hiện một chức năng xã hội lịch sử là cung cấp cơ sở lưu trú cho khách du lịch, khách hành hương, khách du lịch, khách ngn hn, sinh viên, nhân viên, bệnh nhân, người n hàng, người ăn xin và giáo sĩ đi ti này sang i khác. Theo truyn thống Pht Giáo, các ngôi chùa được cung cấp cho vic sdụng độc quyn của tt ccác trt thiện tại và tương lai của các nhà sư và họ mở cửa cho các nhà sư có chỗ ở trong các tour du lịch của h. Tuy nhiên, giáo n ng đã phát triển một truyền thống n hóa vvic m kiếm các cơ su trú miễn phí trong khuôn viên chùa vi sbo trcủa các tu sĩ đương nhiệm của ngôi đền và nó đã trthành một thói quen phbiến trong những đêm khi có yêu cu như vy đối vi những người đó trong các tour du lịch tôn giáo hoc thế tục. Thm chí ngày nay, một sngôi đền đô thtuân theo truyn thống này theo các quy tc và quan niệm nghiêm ngặt ngăn chn vic lạm dụng dịch vu trú trong đền thđphm tội và thơ. Cách m truyn thống này, như đã thy trong nghiên cứu, các ngôi đền đóng góp đáng kvào vic tiêu thi nguyên có trách nhiệm và đảm bo sphát triển bền vng, bằng cách phục vcác cơ su trú giá rcho người ng tạm thời và thường xuyên trong bối cảnh xã hội đô thị. Sự đóng góp này đang có nhiều tác động xã hội tích cực vì nhiều loi người i trên tìm được chỗ ở giá rẻ hoc miễn phí cho các mục đích khác nhau. Chỗ ở dựa trên chùa dường như to điều kin cho trường học giáo dục đại học của hàng trăm học sinh nghèo đến tvùng sâu vùng xa đến các trường học và cao đẳng đô thị. Theo đó, đó là một chức năng xã hội tuyt vi to điều kin cho giáo dục trem bảnh hưởng bởi sbt bình đẳng quyết liệt của phân phối thu nhp
 

hu qulà s xa cách và xa lánh khỏi vic tiếp cận các cơ hội phát triển trong hthống xã hội tư bn hiện đại. Giải quyết các vấn đề của những người bthiệt thòi và xa lánh xã hội vẫn là một thách thức lớn đối vi sphát triển bền vng và scông nhn đúng đắn vchức ng xã hội này của các ngôi chùa Pht Giáo có thgiúp quốc gia đối mt với nó thành công.
    1. KT LUN

Theo nguyên tc tiêu ng có trách nhiệm cho sphát triển bền vng, nghiên cứu này đã chứng minh một cách khoa học thực tế rằng ngay ccác i sản tôn giáo được sdụng cho các nhà sư Pht Giáo có thđược chuyn đổi thành i sản sdụng công cng thông qua stham gia tích cực của các tchức Pht Giáo vào xã hội hot động phúc lợi và phát triển. Các tchức Pht Giáo Sri Lanka đang có một tiềm năng lớn đđóng góp cho s phát triển bền vng của đt nước. Như là hiển nhiên tvic sdụng các tài sản đền thto điều kin cho slượng các chức năng xã hội như giáo dục. Đào to ngh, sản xut công nghiệp và các hot động thương mi, phát triển cng đồng, phúc lợi xã hội, chỗ ở mà tt cng nhau nâng cao cht lượng cuộc sống và hnh phúc của người dân. Do đó, người ta kết luận rằng các ngôi đền ở Sri Lanka đóng góp to lớn cho sphát triển bền vng của đt nước lấp đy những khoảng trng khác nhau do quá trình phát triển chính giải quyết các vấn đtquan điểm của Pht Giáo và sdụng các i sản được cung cấp cho việc sdụng các nhà sư. Các lợi ích quốc gia của vic sdụng các i sản của chùa Pht Giáo được hưởng bởi các thành viên của nhiều nhóm người khác nhau bvô svấn đ muốn có i nguyên và truy cập vào chúng.
 
 

TÀI LIỆU THAM KHO





Buddhadatta. P. (1948) Theravada Buddhist Scholars (Published in Sinhalese) Colombo: Anula Press.

Dhammavihari. (2006) Dharma: Man, Religion, Society, Government in Buddhism. Dehiwala Buddhist Cultural Centre. Sri Lanka.

Dissanayaka. J. B. (1993) The Monk and the Village; A study of the Traditional SinhaleseVillage. Colombo. State Printing Corporation.

Eliot, C. (1957), Hinduism and Buddhism, An Historical Sketch, London: Routledge.

Epigraphia  Zeylanica. (1949) Report of the Archaeological Survey of Ceylone.   Colombo.

Gamage, C. (1998), Buddhism and Sexuality, As Recorded in the Theravada, Cannon. Illinois:  North Western University.

Geiger. W. (1960) Culture of Ceylon in Mediaeval Times. Wiesbaden Geiger.  W.  (1953)  Chulavamsa  (Translation)  Colombo:  Ceylon
Government Information Department.

Gombrich, (1988), Theravada Buddhism: A Social History from Ancient Benares to Modern Colombo, London: Rutledge.

Gombrich, (1971) Buddhist Precept and Practice. DeIhi: Motilal Banarsidass.

Guruge, A. W. P. (1984) From the Living Fountains of Buddhism.
Colombo: Ministry of Cultural affaires

Jayawickrama,N.A. ( Ed. Trn). (1971) The Chronicle of the Thupa and the Thupavamsa, London.

Kalupahana, Devid J. (2008), The Buddhism and the Concept of


Law, Dehivala: Buddhist Cultural Center, Sri Lanka. Mahavamsa,( Ed.2003) Buddhist Cultural Centre. Colombo.
Malalasekera, G. P. (1960) Dictionary of Pali Proper Nouns. Vol I and II. London: Luzak and company Ltd.

Malalasekera.G.P.(1958) The Pali Literature of Ceylone. Colombo. Mirando. A. H. (1985) Buddhism in Sri Lanka in the 17th and 18th
Centuries with Special Reference to Sinhalese Litarary Sources.
Dehiwala: Tisara Prakasakayo Ltd.

Nandasena. R. (2005) Buddhist Sociology. Rathmalana: Sarwodaya Vishwaleka

Pangnakiththi.  H.  (2003)  History  of  Pali  Literature  (Sinhalese Translation) Colombo: S. Godage and Brothers

Ratnapala Nandasena (1997), Buddhist Democratic Political Theory and Practice, Ratmalana: Vishvaleka Publication.

Ray.H.C. Paranavithana, S. (1960History  of  Ceylon. Vol. 1.2.
Colombo. University of Ceylone.

Saddhatissa, Hammillewa (1970), Buddhist Ethics, London. Thambaiah  SJ  (1972),  World  Conqueror,  World  Renouncer,
Cambridge .

Weeraratna W. G (1977), Individual and Society in Buddhism,
Colombo.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây