16. PHÁTHUYVAITRÒNGUỒNLỰCPHẬTGIÁO VÌ MỘT XÃ HỘI VIỆT NAM BỀN VỮNG

Thứ sáu - 03/05/2019 06:18
ĐĐ. Thích Nhuận Chương (Trần Tấn Tâm)
- Trụ trì chùa Phước Long, Thôn Quang Đông, xã Ninh Đông, Thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam.
241





 
PHÁTHUYVAITRÒNGUỒNLCPHTGIÁO MỘT HỘI VIỆT NAM BỀN VỮNG

ĐĐ. Thích Nhun Chương (Trn Tn Tâm)





M TẮT
Bài viết nhằm làm vai trò của nguồn lực Pht giáo trong quá trình xây dựng phát triển bền vững của đt nước, phát huy nguồn lực Pht giáo để xây dựng phát triển bền vững đt nước khẳng định lại những đóng góp của nguồn lực Pht giáo cho hội.
***
Ngay sau khi du nhp vào Việt Nam, Pht giáo đã nhanh chóng a quyện cùng n a người Việt, hình thành n một Pht giáo Vit Nam đm đà bn sc dân tc. Trong hơn 2000 năm qua, Pht giáo đã đồng hành cùng dân tộc ta trong suốt quá trình xây dựng bảo vệ t quốc. Có những giai đon Pht giáo được xem quốc giáo, như dưới triu nhà Lý, nhà Trn. Pht giáo gn như đã trthành tôn giáo của dân tộc Việt Nam,trong thời đại nào Pht giáo vẫn luôn đồng hành phát triển cùng với sự phát triển của dân tộc trong mục tiêu hoàn thiện nhân cách, đạo đức con người, phát triển hội, xây dựng một quốc gia n minh, giàu đẹp, một hội ấm no hnh phúc.
Nước Việt Nam đang trên đường tiến n xây dựng hội chủ nghĩa, phát triển công nghiệp hóa, hiện đại a đt nước, nhằm mục đích làm cho dân giàu nước mạnh, hội công bằng, n minh bền vững. Muốn đt được điều đó trước hết, cần phát huy mọi nguồn lực hiện có trong hội như nguồn lực v địa tài nguyên,


*. Trụ trì chùa Phước Long, Thôn Quang Đông, Ninh Đông, Thị Ninh Hòa, tỉnh Khánh a, Việt Nam.
 


nguồn lực về dân nguồn lao động, nguồn lực về đường lối phát triển kinh tế - hội sở vật chất kỹ thuật, nguồn lực về vốn, thị trường, khoa học thuật, xu thế phát triển… kể cả nguồn lực tôn giáo nguồn lực Phật giáo nói riêng. Pht giáo Việt Nam với chiều dài lịch sử hơn 2000 năm, đủ để minh chứng cho một tôn giáo với những đóng góp của mình vào sứ mệnh phát triển của dân tộc, của đt nước. Đồng thời Pht giáo cũng tôn giáo có lượng tín đồ đông nht ở nước ta hin nay. Theo Ban Tăng sTrung ương Giáo hi Pht giáo Việt Nam, báo o tổng kết hoạt động Pht sự nhiệm kỳ VII (2012-2017), tính đến năm 2017 cả nước có: Tăng Ni 53.941 vị, gồm: 38.629 Bắc tông; 8.574 Nam tông Khmer, 1.754 Nam tông kinh (1.100 chư Tăng, 654 Tu nữ); 4.984 Kht sĩ; T viện: 18.466 ngôi, gồm: 15.846 T viện Bắc tông; 454 chùa Nam tông Khmer; 106 chùa Nam tông Kinh; 541 Tịnh xá, 467 Tịnh tht, 998 Niện Phật Đường, 54 T viện Pht giáo người Hoa; hơn 10 triệu tín đồ đã quy y hàng triệu người có cảm tình với Pht giáo. Đây quả một con s khổng lồ, nếu chúng ta phát huy tốt những nguồn lực này, đó một nhân t không nhỏ góp phn phát triển bền vững của hội. Tôn giáo vừa nhân t cho sự phát triển bền vững vừa nhu cu của con người ở thời hin đi. Trong các nhu cu tôn giáo để bảo vệ bản sắc dân tộc hiện nay, Pht giáo nổi n như một sự lựa chọn quan trọng1.
Trong phm vi một bài tham lun, bài viết chỉ đề cp khái quát về phát huy vai trò của nguồn lực Pht giáo (nguồn lực tinh thần, nguồn lực vật chất nguồn lực con người) trong công cuộc xây dựng phát triển bền vững hội hiện nay. Việc hiểu đánh giá đúng những giá trị về nguồn lực Pht giáo hiện nay có ý nghĩa to lớn, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế, ổn định trt tự hội, giữ vững chủ quyền tn vẹn nh thổ bảo vệ, tái tạo môi trường sinh thái. Thông qua đó, phát huy những mặt tích cực hn chế tối đa những tiêu cực trong nh hưởng của nguồn lực này mang lại. Đồng thời, đề xuất một s ý kiến, đóng góp nhằm phát huy tốt hơn những mặt tích cực hn chế khắc phục những tiêu cực của nguồn lực Pht giáo, trong bối cảnh đt nước hội nhp quốc tế tiến n xây dựng chủ nghĩa hội như hiện nay.


1. Thích Nht Từ, Trương n Chung, Nguyễn Công , Phật giáo với các mục tiêu thiên niên kỷ của liên hiệp quốc, NXB. Đại Học Quốc Gia TP. HCM, 2014, trang 203.
 


1. CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN VÀ THỰC TRẠNG NGUỒN LỰC PHT GIÁO VIỆT NAM
Theo T điển tiếng Việt: Nguồn lực nguồn sức mạnh vật chất, tinh thần phải bỏ ra để tiến hành mt hoạt động nào đó.
Phát triển: Theo từ điển Oxford là:Sự gia tăng dần của một sự vật theo hướng tiến bộ hơn, mạnh hơn… (The gradual grow of sth. so that it becomes more advanced, stronger…). Trong Tđiển Bách khoa của Việt Nam, phát triển được định nghĩa là: Phạm trù triết hc chra tính cht ca nhng biến đi đang diễn ra trong thế giới”.
Phát triển bền vững quá trình phát triển, trong đó có sự kết hợp hợp lý, chặt chẽ hài a giữa phát triển kinh tế với phát triển hội bo v môi trường.2
Trong o cáo tại hi tho Tương lai của chúng tay ban Môi trường Phát triển Thế giới (còn gi Brundtland) của Liên Hiệp Quốc đã khng định: Phát triển bền vững được coi sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế h hiện tại mà không m ảnh hưởng đến tổn hại đến kh năng đáp ứng các nhu cầu của thế h tương lai3.
Nguồn lực Pht giáo bao gồm nguồn lực vật chất, nguồn lực tinh thn nguồn lực con người.
Nguồn lực vật chất: Pht giáo với hệ thống sở thờ tự đồ s nằmkhp mọi nơi trên cả nước. T viện Pht giáo với nhiều di sản có giá trị về mặt n hóa, nghệ thuật, điêu khắc nơi bảo tồn - lưu giữ những bản sắc tinh hoa n a truyền thống của đt nước. Thông qua nh hưởng của mình, Pht giáo có thể kêu gi các nguồn lực từ hội như nguồn lực con người, nguồn lực kinh tế, nguồn lực văn hóa… T đó, Phật giáo lại chuyển những nguồn lực đã thu hút được ngược vào hội, thông qua các hình thức như an sinh, từ thiện, giáo dục, y tế,góp phn thực hiện các mục tiêu xóa đói, giảm nghèo để mọi người cùng được ấm no hnh phúc, cùng chăm lo xây dựng phát triển đt nước phồn vinh, giàu mạnh, bền vững.


  1. Hà Huy Thành - Nguyễn Ngọc Khánh, Phát triển bền vững từ quan niệm đến hành động, NXB KHXH, Hà Nội, 2009, Tr.39.
  2. WCED world comission on enviroment and development (1987), our common future, new york oxford university, press, p. 43.
 


Nguồn lực tinh thần chính những giá tr trong kho tàng giáo lý, kinh sách của nhà Phật về tưởng, về thế giới quan, nhân sinh quan, về triết học, đạo đức, văn hóa, giáo dục, về các triết sống, hướng thiện… Những giá tr này của Phật giáo đã đang tham gia vào công cuộc xây dựng bảo vệ tổ quốc, vào xây dựng đời sống văn hóa, xã hội, vào sự phát triển bền vững của đất nước hiện nay.
Nguồn lực con người nguồn lực then chốt, nguồn lực quan trọng hơn tt cả các nguồn lực khác. Bởi chỉ có phát huy tốt nguồn lực con người thì mới khai thác tốt tái tạo các nguồn lực khác để phục vụ đời sống hội. Hiện nay, Pht giáo có hơn 10 triệu tín đồ đã quy y hàng triệu đồng bào có cảm tình, tín ngưỡng đối với Pht giáo. Trong nhng năm gn đây, có hơn 100 tăng ni đã tốt nghiệp tiến sỹ thạcchuyên nnh Pht học tại các nước như Ấn Độ, Thái Lan, Đài Loan, Myanma, Miến Điện… đã tr về nước đang phục vụ - cống hiến cho đạo pháp dân tộc. Đây quả một nguồn nhân lực rất lớn có thể phát huy trong quá trình xây dựng phát triển bền vững của đt nước.
  1. CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐT NƯỚC THEO CÁC ĐƯỜNG LỐI CHỦ TRƯƠNG HIỆN NAY
Phát triển bền vững mục tiêu phát triển chung của tt cả các nước trên thế giới. Việt Nam đang từng bước hòa mình vào bước đi chung của toàn nhân loại về các mục tiêu thiên niên kỷ của liên hiệp quốc, trong đó chiến lược xây dựng phát triển bền vững đất nước về các mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế, phát triển bền vững về văn hóa - xã hội, phát triển bền vững về môi trường, phát triển bền vững về an ninh quốc phòng (chính tr). Điều này được thể hiệntrong chương trình nghị sự 21 quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo quyết định số 153/QÐ-TTg ngày 17/8/2004 quyết định số 432/ QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 20112020 ban hành ngày 12 tháng 4 năm 2012 quyết định Số: 1393/QĐ-TTg quyết định phê duyệt, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011- 2020 tầm nhìn đến năm 2050” ban hành ngày 25 tháng
09 năm 2012.
 
 
  1. PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NGUỒN LỰC PHẬT GIÁO TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA ĐT NƯỚC HIỆN NAY
Pht giáo vốn in sâu trong tâm trí người dân Việt, gắnmật thiết với những sinh hoạt hng ngày của người Việt, từ sinh hoạt gia đình đến sinh hoạt hội, đó sự gắn bó tự nhiên, tự a quyện vào nhau, không do một quyền lực nào tác động hay bắt buộc. Chính sự tồn tại lâu dài này của Pht giáo trong hội đã đem lại những đóng góp đáng kể trong các mặt về đời sống, kinh tế, n hóa, hội, chính trị trong quá trình xây dựng bảo vệ t quốc Việt Nam, cũng như trong tiến trình lịch sử. Xuyên suốt chiều dài lịch sử nước nhà, mỗi thời kỳ, mỗi giai đon phát triển, luôn có sự hiện diện của Pht giáo trong tt cả các lĩnh vực của hội kinh tế, n hóa, chính trị ngoại giao. Chính lẽ đó, ngày nay khi đt nước đang trên con đường hội nhp phát triển, chúng ta cần phải phát huy hơn nữa, vai trò của Phật giáo đối với hội, cũng như phát huy vai trò của nguồn lực Phật giáo trong công cuộc xây dựng phát triển bền vững tại Việt Nam hiện nay. Nguồn nhân lực, nguồn vốn của tôn giáo khi kết hợp với niềm tin tôn giáo không chỉ tạo ra của cải vật chất mà còn thôi tc các t chức cá nhân tôn giáo nâng cao trách nhiệm trong thực hiện các hoạt động an sinh hội mt cách hiệu quả và bền vững4.
    1. Phát huy vai trò của nguồn lực tinh thần
Ngay sau khi du nhp vào Việt Nam, Pht giáo đã nhanh chóng kiến tạo cho mình chỗ đứng vững chắc trong lòng dân tộc Việt, được đông đảo quần chúng hưởng ứng tin theo, bởi những giá trị quý báu trong kho tàng giáovềtưởng, về thế giới quan, nhân sinh quan, về triết học, đạo đức, n hóa, giáo dục, về các triết lý sống, hướng thiện... Những quan điểm triết lý của Pht giáo đã a quyện cùng với những giá trị n a nước nhà hình thành n một nền n a Việt Nam đậm đà bản sắc nhân n. Phật giáo Việt Nam xut phát từ dân gian, ăn sâu vào tâm thức của quảng đại quần chúng, trở thành một nhân t tâm dân tộc vậy mang tính dân tộc xuyên suốt lịch sử. Đó mt sự tht khách quan5.


  1. ThS. Lê Thị Liên, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chính ch tôn giáo.
  2. Nguyễn Duy Hinh, Mấy đặc điểm của Phật giáo Việt Nam, tp chí nghiên cứu tôn giáo, s 8, 2008, tr.19.
 


Pht giáo Việt Nam với những triết lý sống mang đậm tính nhân văn, hướng thiện đã để lại những nh hưởng sâu sắc đến n hóa, đo đức tinh thn người Vit. Trong đời sng sinh hot hằng ngày, người Việt Nam ít nhiều chịu nh hưởng của nền đạo đức, triết lý của Pht giáo về tinh thn từ bi, h xả, tinh thn tương thân tương ái, về lòng hiếu thảo với ông bà, cha mẹ. Chính những điều này tạo cho dân tộc ta một nguồn năng lượng tinh thn để chiến đấu bảo vệ đt nước, bảo vệ n a nước nhà tránh khỏi sự đồng a trong suốt một nn năm độ hộ của phương bắc.
Những giáo lý của nhà Pht, không còn nhữngluận suông trong kinh sách, tht sự đã đi vào đời sống hiện thực của con người trong hội. Với những giáohướng thiện như từ bi, h xả, vô ngã, vị tha, n giới6, thp thiện giới7, lòng hiếu thảo với cha mẹ, ông của Pht giáo đã góp phn hoàn thiện nhân cách, đạo đức cho từngnhân, hoàn thiện nếp sống hnh phúc cho mỗi gia đình an bình cho tn hội. Giáon bản của Pht giáo như n giới (năm điều đạo đức của người Pht tử tại gia), một không t sanh, hai không trộm cắp, ba không tà dâm, bốn không nói dối, năm không uống rượu sử dụng các cht gây nghiện. Năm giới này như một bài học giáo dục công dân thông thường, quy tắc sống bản bất cứ hội nào cũng không thể bỏ qua nếu muốn đt đến sự phát triển bền vững. Bởi năm giới ấy nền tng để xây dựng một nền đạo đức của hội n minh, phồn thịnh bền vững.
Pht giáo thông qua nguồn lực về tinh thần, đã góp phn củng c nền đạo đức hội nói chung hoàn thiện nhân cách, đạo đức cá nhân, gia đình nói riêng. Nht trong thời đại ngày nay, khi đt nước đang trên đà phát triển kinh tế hội nhp quốc tế thì vai trò của nguồn lực tinh thn Pht giáo ng tr n ý nghĩa trong sự định hướng, xây dựng phát triển đạo đức con người Việt Nam theo những chuẩn mục đạo đức của thời buổi kinh tế thị trường. Trong suốt chiu dài lịch sxây dựng và phát trin đt nước, Pht giáo đã phát huy được vai trò của mình đối với hội. Cho đến nay,


  1. Giới th nht: không t sanh, th hai: không trộm căp, th ba: không tà dâm, th tư: không nói sai sự tht, th năm: không được uống rượu các chất gây nghiện.
  2. Thập thiện mười việc thiện được thực hiện qua thân ba (Không t sanh, không trộm cắp, không dâm dật), khẩu bốn (Không i dối, không i thêu dệt, không i lưỡi hai chiều, không i lời hung ác) ý ba (Không tham lam, không giận hờn, không si ).
 


Pht giáo đang phát huy tốt vai trò nguồn lực tinh thn của mình bởi những giá trị của giáo lý từ bi, hỉ xả, vô ngã, vị tha những giá trị này tht gần gũi với những giá trị nhân n của dân tộc như lành đùm lá rách, bầu ơi thương lycùng, thương người như th thương thân, yêu thương, đùm bọc, nhân hu của người Vit Nam.
Pht giáo tôn giáo của sự yêu thương bình đẳng, Đức Pht từng dy “Ta là Pht đã thành, chúng sanh là Pht sẽ thành, hay Không giai cấp trong dòng máu cùng đỏ, khônggiai cấp trong dòng nước mt ng mn, đó là nhng thông đip về một tôn giáo bình đng Đức Pht muốn gửi đến cho nhân loại, không ngoài mục đích đem lại hnh phúc an lạc cho mọi người trong hội. Hnh phúc chính mục đích tối cao Pht giáo hướng con người vươn tới trong cuộc sống cũng nguyên nhân Đức Pht thị hiện trên ci đời này. Này Sàriputta, những ai nói một cách chơn chánh sẽ nói như sau: Một vị hữu tình không bị sự chi phối, đã sanh ra ở đời vì hạnh phúc cho số đông,an lạc cho số đông,lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích,hạnh phúc,an lc cho chư Thiên và loài người. Vy sẽ nói vTa một cách chơn cnh như sau: Mt vị hữu tình không bị sự chi phối, đã sanh ra ở đời, vì hạnh phúc cho số đông,an lạc cho số đông,lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người.8 Hnh phúc theo quan điểm của Pht giáo không phải nhà cao cửa rộng, hay vợ đẹp con ngoan, hay quyền cao chức lớn, hnh phúc theo Pht giáo sự an lạc, an bình nơi chính bản thân tâm hồn của mọi người. Hnh phúc chỉ đúng nghĩa khi con người ta xây dựng, thực hiệntrên những giá trị của chân thiện mỹ, chứ không phải lấy sự đau khổ giẫm đp n hnh phúc của người khác, loài khác có được. Nó thực scó nghĩa khi “Đem lại sự sng an vui đến cho muôn loài”.
n tộc Việt Nam vốn dân tộc yêu chuộng a bình hnh phúc. T thời dựng nước tới nay, dân ta vốn chăm lo cày cấy, có giặc ngoại xâm thì đứng n bảo vệ nước nhà, bảo vệ chủ quyền của t quốc, sau khi đánh đuổi quân giặc ra khỏi biên cương bờ cõi, thì họ lại tr về với bản chất lương thiện của người nông dân Việt Nam. Đt nghèo nuôi những anh hùng, Chìm trong máu lửa lại vùng đứng



  1. HT. Thích Minh Châu dịch, Kinh trung bộ 1, NXB: Tôn Giáo, 2012, trang 83.
 


lên, Đạp quân thù xuống đất đen, Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa9. Vốn những người dân tht thà chất phát, nhưng bảo vệ đt nước, họ phải đứng n để chiến đấu, họ chưa bao giờ phát động một cuộc chiến tranh hay xâm lược một nước nào. Con đường của Phật giáo con đường a bình, tinh thn của nhà Phật tinh thn từ bi, h xả, mục đích của nhà Phật đem lại bình n hnh phúc cho mọi người. Ba yếu t này, a quyện cùng tinh thn yêu chuộng a bình vốn có của dân ta, hình thành n một dân tộc Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, Lấy chí nhân để thay cường bạo (Bình ngô đại cáo, Nguyn Trãi). Đó là đim cốt yếu của sphát trin bn vững một dân tộc, một đt nước.
Đất nước Việt Nam chúng ta, từ thời vua Hùng dựng nước đến nay, đã có biết bao cuộc xâm ng của thế lực n ngoài, cũng có biết bao cuộc nội chiến tranh dành quyền lực của các triều đại n trong, dn đến cuộc sống người dân triền miên chìm trong đói khổ, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Chính nhờ triết lý sống “kham nhẫn chịu đựng “vô thường” sự biến đổi của Pht giáo đã giúp họ có thêm niềm tin vào một ngày mai tươi ng đang chờ họ phía trước. Kham nhn để chờ đợi Hết cơn bĩ cực tới hồi thái lai10, kham nhn để chiến đấu, kham nhn để xây dựng bảo vệ t quốc, bảo vệ nền n a nước nhà. Theo thuyết nhân dun của nhà Pht thì vạn sự, vạn vật trên đời này thảy đều liên quan với nhau ở một chữ duyên. Bt lun là thin duyên hay ác duyên thì có tụ t scó tan, có đến ri cũng có đi. Chính, dân tộc ta đã thấm nhuầntưởng của giáonhân duyên, n khi nghịch duyên, ác dun đến thì kham nhn chịu đựng, c gắng phn đấu để vượt qua, phn đấu để tự tạo niềm vui hnh phúc ngay trong cuộc sống bất an này.
Người á đông nói chung dân tộc Việt Nam nói riêng, vốn giàu truyền thống hiếu thảo cha mẹ, kính trọng ông t tn. Nên trong ca dao, tục ngữ những vấn đề về luân thường đạo đức, về lòng hiếu thảo đối với ông bà, cha mẹ rất được đề cao trân trọng như Công cha như núi Thái sơn, Nghĩa m như nước trong nguồn chảy ra, Một lòng thmẹ kính cha, Cho tròn chhiếu mới là đạo con. Trong kho tàng n học dân gian, rất nhiều ca dao, tục ngữ, tác phẩm nói


  1. Trn Đăng Khoa, Chân dung đối thoại, NXB Thanh niên, 1999.
  2. Wiktionary. T điển mở tiếng Việt.
 


n tinh thn hiếu tho của con cái đối với cha mẹ, ngay cả khi cha mẹ đã qua đời, Th  cha mẹ ở hết ng, y là chhiếu dy trong luân thường.
Phật giáo tôn giáo của lòng hiếu thảo, luôn đề cao, tôn trọng cha mẹ với những cao quý nhất. Đức Pht bậc tn tri, tn giác nhưng đạo Pht lại đem cha mẹ nh ngang bằng với Đức Pht, điều này đủ để minh chng cho một tôn giáo đề cao chữ hiếu. Trong kinh Đại tập Đức Pht dạy: Gặp thời không Phật, khéo thờ cha m tức là thPhậthay “Tâm hiếu là m Pht, hạnh hiếu là hạnh Pht, muốn được quvnhư chư Pht, trước hãy hiếu dưỡng với song thân”. Pht giáo xem có hiếu điều thiện tối cao bất hiếu điều ác tột cùng Tt cùng thiện không hơn báo hiếu, tt cùng ác không hơn bất hiếu (kinh Nhẫn Nhục). Chính nhờ truyền tải kết hợp được nguồn giáovề đạo hiếu của nhà Pht với lòng hiếu kính ông bà, cha mẹ sẵn của người Việt làm n một bản sắc n a về lòng hiếu thảo, duy chỉ có Việt Nam mới , đây chính t đặc thù của n a Pht giáo Việt Nam. Chính nhờ sự giao a này đã làm cho tấm lòng hiếu thảo của người Việt tr n sâu sắc trọn vẹn hơn. Một minh chứng hùng hồn cho sự giao a giữa hai nền n a về đạo hiếu đó chính ngày lễ Vu Lan theo truyền thống Pht giáo bắc tông. Ngày nay, lễ Vu lan báo hiếu không còn ngày hội riêng của Pht giáo, tr thành ngày hội của cả dân tộc Việt Nam, ngày các người con nghĩ nhớ về công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ, ngày hội ấy đã hiển nhiên đi vào lòng người Việt với những tiết tấu bình dân của ca dao, tục ngữ như Tháng sáu bn nhãn bán trâm, tháng by ngày rm xá ti vong nhân, hay ai bn bán đâu đâu, crm tháng by mưa ngâu thì v. Đây chính là điểm đặc sắc của n a Việt Nam về đạo hiếu cần được duy trì phát huy để bảo tồn bản sắc n a nước nhà trong bối cảnh đt nước hội nhp như hiện nay.
Có thể nói, trong suốt chiều dài lịch sử, Pht giáo n a Phật giáo đã đồng hành cùng dân tộc, một phn cốt yếu, quan trọng của n a dân tộc, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng bảo vệ đt nước, nuôi dưỡng tâm hồn sức sống Việt Nam, xây dựng lối ứng xử n a trong quan hệ với đồng loại với thế giới tự nhiên cho các thế hệ, tạo n vẻ đẹp bản sắc dân tộc11.


  1. Nguyễn Hữu Oanh, Bảo vệ phát triển di sản văn hóa Phật giáo Việt nam, mt nhiệm
 
 
    1. Nguồn lực vật cht
Pht giáo với hệ thống sở thờ tự đồ s nằmkhp mọi nơi trên cả nước, với nhiều di sản có giá trị về mặt n hóa, nghệ thuật nơi bảo tồn - lưu giữ những bản sắc tinh hoa n a của đt nước. Hiện nay, Pht giáo có 399 sở thờ tự được công nhn di sản n a trong tổng s 3.058 di tích cấp quốc gia của cả nước hàng trăm sở thờ tự di tích n a cấp tỉnh, thành12. Đại đa s những sở thờ tự của Pht giáo đều nằmvị trí non nước hữu tình như Yên Tử, chùa Ba ng (Quảng Ninh), Hương Sơn (Hà Nội), chùa Bái Đính (Ninh Bình), N Hành Sơn (Đà Nẵng), Pht Trắng (Khánh Hòa), Núi Cấm (An Giang)… đều những danh lam thng cảnh nổi tiếng, hng năm thu hút hàng chục triệu lượt khách trong ngoài nước, tín đồ đến tham quan, hành lễ.
Du lịch tâm linh một trong những lựa chọn của con người thời hiện đại. Bởi sau những tt bật, bộn bề của cuộc sống cơm áo gạo tiền, con người thường tìm về những nơi thiên nhiên n tĩnh, nơi cảm thấy cõi lòng mình được nhẹ nhàng, nơi cảm thấy cuộc sống mình được bình an, ngôi chùa Pht giáo phn nào đáp ứng được nhu cầu ấy tr thành sự lựa chọn của con người trong thời hiện đại. V phương diện cuộc sống: khi con người ta về dưới ngôi chùa, thành tâm thp một n nhang cầu nguyện, họ sẽ tạm thời quên đi những âu lo muộn phiền, giúp họ tháo gỡ được các cảm xúc khổ đau bất trắc trong cuộc sống, vun bồi điều thiện loại dn những tạp niệm, ác niệm cho tâm trí nhẹ nhàng, họ sẽ có những giây phút an bình trong nội tâm, cũng như bình an trong phút giây hiện tại. H th mình vào khung cảnh thiên nhiên hữu tình của ngôi chùa, hoặc để tâm lắng nghe một câu kinh, một bài kệ, một bài thuyết pháp hay th hồn mình theo âm thanh vang vọng của tiếng chuông chùa, lúc này người ta cảm thấy cuộc sống này tht n bình hnh phúc. V với ngôi chùa thông qua du lịch tâm linh không những con người đã tìm về cuộc sống bình an trong hiện tại còn cuộc hành trình tìm lại “Bản lai diện mục” của chính mình. t về phương diện phát triển kinh tế: khi nnh du lịch tâm linh phát triển, sẽ kéo theo sự phát triển của sở h tầng, các nnh nghề



vụ quan trọng cấp thiết.
  1. Theo ban tôn giáo chính ph năm 2017.
 


khác như dịch vụ du lịch, vận tải, dịch vụ ăn uống, ngủ nghỉ, mua sắm, vui chơi, giải trí… tạo việc làm tăng thu nhp cho người dân, góp phn tăng trưởng GDP cho quốc gia. Đây một nhân t để phát triển bền vững nnh du lịch nói riêng phát triển kinh tế cả nước nói chung, nếu chúng ta biết khai thác tối đa thế mạnh của nguồn lực vật chất này của Pht giáo.
Nếu nnh du lịch nói chung được xem Nnh công nghiệp không khói” thì du lịch tâm linh ng một “Ngành công nghiệp siêu kng khói. Bởi nhng lý do sau; thứ nht: khi ngành du lịch đầuphát triển du lịch tâm linh, kinh p bỏ ra ban đầu để xây dựng các sở vật chất, sở thờ tự không , những sở thờ tự Pht giáo vốn đã có tự bao đời nay nhà chùa luôn luôn mở cửa để đón khách thp phương. Thứ hai: Nếu sau một cuộc dã ngoại hay một chuyến du lịch vô s rác thải sinh hoạt để lại, gây nh hưởng xấu cho môi trường thì du lịch tâm linh hn chế tối đa những vấn đề đó. Người ta có thể mang thức ăn, nước uống, bia rượu… để cùng ăn uống, vui chơi đàn hát trong một chuyến du lịch bình thường, nhưng người ta không thể đem những th đó vào những nơi du lịch tâm linh đặc biệt những sở thờ tự của Phật giáo. vy, một địa điểm du lịch tâm linh của tôn giáo nói chung Pht giáo nói rng một “Siêu khu công nghiệp không khói” vừa có kh năng phát triển kinh tế cho địa phương, vừa bảo đảm sự phát triển bền vững của nước nhà. Như lễ hội chùa Hương13, theo báo o tổng kết lễ hội chùa Hương của UBND huyện Mỹ Đức - Hà Nội năm 2017. Lễ hội diễn ra từ ngày 1-2 đến hết ngày 30-4-2017 đã đón hơn 1,3 triệu lượt khách về trẩy hội, (trong đó có 7.800 khách nước ngoài), tạo việc làm cho hơn 10 nn lao động tại địa phương, trong s đó 4.500 lao động phục vụ chèo đò đưa rước khách, s còn lại phục vụ trong các lĩnh vực như ăn uống, vệ sinh, an ninh, dịch vụ, bến bãi với tổng s tiền thu được trong những ngày diễn ra lễ hội 174 t đồng. Núi Yên Tử, chùa Ba ng thành phố Uông hng năm thu hút vài triệu lượt khách tín đồ đến tham quan hành lễ, đó những minh chứng sinh động của nguồn lực vật chất Pht giáo tham gia vào quá trình phát triển bền vững của đt nước. Theo báo o tổng kết công tác quản t chức lễ hội của UBND

  1. Chùa Hương một quần thể di tích danh lam thng cảnh nổi tiếng thuộc Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.
 


TP Uông Bí. Tính đến ngày 30/10/2018, tn thành phố đón gần
2.1 triu lượt khách. Trong đó, khách tham quan Khu di tích danh thng Yên T hơn 982.000 lượt, chùa Ba ng đt gần 870.000 lượt, với tổng doanh thu đt trên 628 t đồng. Những s tiền trên mặckhông lớn nhưng đó tiềm năng của du lịch tâm linh, tiềm năng để Pht giáo góp phn phát triển đt nước, nếu chúng ta biết khai thác tốt những lợi thế của cả hệ thống sở thờ tự của Pht giáo trên khp mọi miền đt nước, từ đó sẽ tạo ra vô s việc làm cho người lao động góp phn tăng thu nhp cho cá nhân, góp phn làm cho dân giàu, nước mạnh, hội công bằng, n minh.
Thông qua nh hưởng của mình, Pht giáo có thể kêu gi các nguồn lực từ hội như nguồn lực con người, nguồn lực kinh tế, nguồn lực n a T đó, Pht giáo lại chuyển những nguồn lực đã thu hút được ngược vàoxã hội, thông qua các hình thức như an sinh, từ thiện, giáo dục, y tế,góp phần thực hiện các mục tiêu xóa đói, giảm nghèo để mọi người cùng được ấm no hạnh phúc, cùng chăm lo xây dựng phát triển đt nước phồn vinh, giàu mnh, bền vững.
Tín đồ Pht giáo với tinh thn từ bi phương châm “Phụng sự chúng sanh là cúng dường Chư Pht, trong m 2018 vừa qua, Giáo hội Pht giáo Việt Nam đã tiến hành nhiều hoạt động thiết thực nhằm phát huy vai trò nguồn lực của mình đối với hội như cứu tr đồng báo lũ lụt tại Tây Bắc 8 tỉnh miền trung, thành lập các trung tâm nuôi dạy tr mồ côi trung tâm nuôi dưỡng người già neo đơn không nơi nương tựa, các trường dạy nghề, trung tâm hướng nghiệp cho tr em nhở người tht nghiệp nhiều hoạt động từ thiện nhân đạo khác như y tế, giáo dục, xây nhà tình thương, xây cầu, m đường, bến ăn tình thương, nồi cháo tình thương, tham gia xây dựng chương trình nông thôn mới tại địa phương…. Theo o công tác Pht snăm 2018 của Ban Từ Thin Xã Hi Trung Ương: Tính đến thời điểm này (20/12/2018), Ban T thiện hội Trung ương đã ghi nhn thống kê được kết quả như sau: Trung tâm nuôi dạy tr mồ côi có: 46 sở, 1.329 tr em, 160 bảo mẫu; Trung tâm nuôi dưỡng người già neo đơn có: 15 cơ sở, 527 cụ già, 49 bảo mẫu; lớp học tình thương có: 12 sở, 5.678 nn học sinh, 199 giáo viên; Phòng khám Đông Y có: 33 cơ sở, 60.298 lượt khám, điều trị, có 206 Lương y; Phòng khám Tây Y có: 10 sở, 4.689 lượt khám, điu tr, có 40 c sĩ; Trung tâm dy nghề có: 2 cơ sở, có 6
 


nnh nghề, có 65 học viên 6 giáo viên hướng dn vận động ủng hộ cho công tác từ thiện hội với s tiền : 585,408,976,000đ (Năm trăm tám mươi lăm t bốn trăm lẻ tám triệu chín trăm bảy mươi u nn đồng).
    1. Nguồn lực con người
Nguồn lực con người nguồn lực then chốt, nguồn lực quan trọng hơn tt cả các nguồn lực khác. Bởi chỉ có phát huy tốt nguồn lực con người thì mới khai thác tốt tái tạo các nguồn lực khác để phục vụ đời sống hội. Phát triển bền vững được thực hiện thông qua những phương thức kết hợp hài a giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng hội, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường. Trong đó, con người ở vị trí trung tâm14. Con người được xem vị trí trung tâm của việc phát triển bền vững. Bởi chỉ khi chúng ta có sự đầutốt về nguồn lực con người, từ thể lực cho đến trí tuệ, từ nhân cách cho đến đạo đức thì mọi nguồn lực khác trong hội tự nhiên sẽ được khai thác bảo vệ tốt để phục vụ nhu cầu phát triển đời sống hội phát triển n minh bền vững.
Một hội nào, ở giai đon nàotiến bộ hay lạc hậu, nếu muốn tồn tại phát triển đều phải dựa vào con người, lịch sử của nhân loại đã chứng minh điều đó. Theo quan điểm của Pht giáo con người chính chủ nhân ông của cuộc sống, nhân t quyết định cuộc sng khổ đau hay hnh phúc. Trong kinh Majjhima Nikàya (Trung Bộ Kinh), Đức Pht dạy rằng: Con người chủ nhân của nghiệp, kẻ thừa tự nghiệp. Nghiệp thai tạng mà từ đó con người được sinh ra; nghiệp là quyến thuc, là nơi nương tựa. Đo Pht là đo của từ bi trí tuệ, vậy con người của Pht giáo ít nhiều cũng thấm nhuần tinh thn giáoy. Vậy Pht giáo làm thế nào để con người thấm nhuần được tinh thn từ bi trí tuệ y, Phật giáo đã đào tạo con người như thế nào?
Trong lịch sử truyn giáo, Pht giáo kng bao giờ bt ép hay khuyến dụ một ai, tt cả những người đến với đạo đều trên tinh thn tự nguyện. Chính bởi những giá trị thiết thực giáo lý của đạo Pht mang lại cho họ trong cuộc sống, mang lại niềm vui


  1. Hà Huy Thành - Nguyễn Ngọc Khánh, Phát triển bền vững từ quan niệm đến hành động, NXB KHXH, Hà Nội, 2009, tr. 33.
 


hnh phúc ngay chính nội tâm bản thân gia đình họ. Nên khi họ đến với Pht giáo với một trng thái tâm hoan hỷ, (hoan h nh thọ tam quy, hoan h thọ trì n giới). Quy y tam bảo quay về nương tựa ba ngôi báo, (Pht bảo, Pháp bảo Tăng bảo). Pht đấng giác ngộ hoàn tn (tự giác, giác tha, giác hnh viên n) không cònlầm, đau khổ vượt ra ngoài sự ng buộc của thế gian. Pháp con đường, phương pháp tu hành do chính Đức Pht giảng dạy để diệt trừ mọi khổ đau, luân hồi trong thế gian. Tăng đoàn thể đệ tử xuất gia, sống trong tinh thn lục hòa, tu tập theo chánh pháp của đức Như Lai. Quy y Pht không đọa vào địa ngục, quy y Pháp không đọa vào ngạ quỷ, quy y Tăng không đọa vào ng sanh. Khi con người phát tâm quay về nương tựa ba ngôi báo tức họ đã có niềm tin vững chắc vào Pht Pháp Tăng. T đây, chính niềm tin bất hoại này giúp họ trong mọi cử chỉ, hành động, nói năng đều chánh niệm, tỉnh giác, thanh lọc chuyển a tam nghiệp, cuộc sống thăng hoa hnh phúc.
Kế sau đó, họ tiếp tục thọ trì n giới để hoàn thiện nhân cách của một người Pht tử. Giới th nht không t sanh, chính tôn trọng sự sống, người giữ được giới này hiện tại luôn sống trong an ổn, không sợ thù n. Nhờ không giết hại, môi sinh được giữ gìn, hội an ninh, thế giới hoà bình an lạc. Giới th hai không trộm cướp, chính tôn trọng mồ hôi, xương máu của người làm ra của cải, vật chất. Người giữ gìn được giới này hiện tại luôn sống trong bình an, không sợtội, được người tin tưởng, yêu thương. Giới th ba tà dâm, chính tôn trọng hnh phúc gia đình của mình, cũng như hnh phúc của gia đình người. Người giữ được giới này thân thể khoẻ mạnh, gia đình ấm êm hnh phúc. Giới th không nói dối, chính tôn trọng sự tht, không nói sai sự tht để mọi người không mt niềm tin, chia rẻ lẫn nhau. Người giữ được giới này, được mọi người tin tưởng, tín nhiệm, tôn trọng yêu thương. Giới th năm không uống rượu các chất kích thích, chất gây nghiện. Tức người Pht tử bảo tồn nuôi dưỡng ht giống trí tuệ. Người giữ được giới này thì thân thể khoẻ mạnh, trí tuệ ng suốt, minh mẫn, sống lâu, đồng thời tránh được những lỗi lầm đáng tiếc do sự mất tự chủ do say xỉn, nghiện ngập gây ra.
Khi chính thức tr thành người Pht tử trong giáo pháp giải thoát của đức Như Lai, người Pht tử đã thấm nhuần năm nguyên
 


tắc đạo đức bản của một con người Pht tử. Đó tiền đề, nấc thang đầu tn để bước tiếp trong tiến trình giác ngộ tâm linh của họ. Chính người Pht tử đã phát nguyện thọ trì những giới cấm của Pht, n trong cuộc sống sinh hoạt hng ngày, ít nhiều người Pht tử cũng n nhắc trước mỗi cử chỉ, hành động, lời nói, việc làm sao cho phù hợp với những mình đã phát nguyện thọ trì khi tr thành một người đệ tử Phật. Nếu cư sĩ Pht tử tại gia, thì có thể thọ trì những cấp bậc giới cao hơn như t quan trai giới, hay thp thiện giới, bồ tát giới. Còn nếu đệ tử xuất gia thì tiến xa hơn trên con đường tu học thọ trì mười giới của sa di sa di ni, t kheo 250 giới t kheo ni 348 giới. Giới trong nhà Pht chính “Phòng phi chỉ ác” nghĩa đề phòng điều trái quấy, dừng chỉ mọi điều ác, cũng có nghĩa Chỉ ác tác thiện tức ngưng làm điều ác, làm mọi điều thiện. Giới còn có nghĩa điều phục, chế ngự, tức T nại da, cũng có nghĩa Biệt giải thoát, tức giữ giới phn nào thì được giải thoát phn đó. Giữ giới nhiều thì giải thoát nhiều, giữ giới ít thì giải thoát ít. Người Pht tử (xuất gia tại gia) được trưởng thành trong giới pháp, tức họ đã đang dn hoàn thiện được nhân cách đạo đức của mình theo chiều hướng hướng thiện. Hướng tâm mình theo tâm đại từ bi của Đức Pht, hướng đời mình vào cuộc sống hnh phúc của muôn loài chúng sanh như Chư Phật. Mỗi cử chỉ hành động, lời nói, việc làm đều nhằm đến hạnh phúc, an vui của con người và xã hi. Banzeladze từng nói: Vn đlý tưởng ti cao và ý nghĩa của cuộc sống thực chất vấn đề hạnh phúc. Con người giá tr cao nhất, sở, ngọn nguồn của mọi giá trị, mọi th đều phương tiện cho con người cuộc sống của con người15.
Hiện nay, Pht giáo Việt Nam với s lượng hơn 10 triệu tín đồ (bao gồm giới tại gia xuất gia), trong tổng s hơn 96.2 triệu dân, chiếm 14.91% dân s cả nước16. Phn lớn tín đồ Pht tử trưởng thành trên nn tảng giáo lý từ bi, trí tu, giải thoát của Đức Thế Tôn, n đã hình thành cho họ một nhân cách của một con người trong đạo pháp, biết yêu thương đùm bọc lẫn nhau, cùng chia sẻ, cùng lắng nghe, cùng thấu hiểu để cùng xây dựng một đời sống n minh, nh mạnh. Vậy con người của Pht giáo tham gia vào quá trình phát triển bền vững của đt nước như thế nào?

  1. Banzeladze, Ðạo đức học, NXB. Hà Nội, 1985.
  2. Theo ban tôn giáo chính phủ, tháng 7/2017.
 


Lĩnh vực kinh tế: Với nền kinh tế thị trường hiện nay, lợi nhuận chính mục đích của người sản xuất cũng như người kinh doanh. vy, đồng tiền được xem thước đo cho mọi giá trị của nền kinh tế. Chính chạy theo lợi nhuận, chạy theo đồng tiền họ không từ một th đon nào để đt được mục đích của mình. lợi nhuận, đồng tiền con người sẵn ng khai thác cạn kiệt các tài nguyên của đt nước, sẵn ng hủy hoại ngay cả môi trường sống của chính mình. lợi nhuận người ta có thể làm ra những sản phẩm giả, sản phẩm nhái không đt tiêu chuẩn để ri đồng bào của họ phải nhn lấy hậu quả do chính lòng tham của họ gây ra. đồng tiền, người ta có thể tuôn ra thị trường tràn lan những thực phẩm bẩn, thực phẩm không an tn nhiễm a chất, làm nh hưởng tới sức khỏe của cộng đồng, gây bất an cho hội. Con người bằng mọi th đon để đáp ứng lòng tham không đáy của mình. Thánh Gandhi từngi: Trái đấtth cung ứng cho nhu cầu của tt cả mọi người, nhưng không tha n đủ lòng tham của tất cmi người”.
Ngay khi bước vào đạo, người Pht tử đã được nuôi dưỡng, truyền dạy, học tập, thực tập những giáon bản, để làm hành trang trên con đường tu đạo của chính mình. Với giáonhân quả giúp người Pht tử có cái nhìn chánh kiến hơn trong mỗi cử chỉ, hành động, lời nói của mình, đồng thời giúp người Pht tử có thể tránh được những quả báo xấu, khổ trong tương lai. Với giáovô thường giúp người Pht tử hiểu được cuộc sống mong manh, giả tạm n hn chế việc được mất hơn thua. Với giáo lý tứ vô lượng tâm, giúp người Pht tử biết yêu thương, mở rộng lòng mình ra với muôn loại. Với những hành trang này, đó sở để người Pht tử xây dựng cho mình một cuộc sống an vui, mang lại niềm vui hnh phúc cho gia đình hội.
Trong kinh Lăng Nghiêm Đức Pht có dy Nht thiết chúng sanh giai y thực trcó nghĩa “Tt cchúng sanh đều nhvào ăn mà tn ti. Con người nói chung và người Pht tử vn cn phải ăn để sng, cần phải có điều kiện để lo cho bản thân gia đình. vy, họ vẫn kinh doanh để tạo ra lợi nhuận, vẫn sản xuất để tạo ra của cải vật chất. Nhưng họ không phải chạy theo lợi nhuận tối đa để ri đánh mất lương tâm, đánh mất nhân tính. Với người Pht tử, trong kinh doanh phải trung thực, không lừa đảo, dối gian; trong sản xuất hàng hóa phải có tinh thn trách nhiệm, tạo ra sản phẩm chất lượng
 


bền đẹp giá thành lại thấp, khai thác tài nguyên đi đôi với việc tái tạo giữ gìn phát triển, không mục đích hiện tại triệt đường sng của con cháu mai sau. Trong sn xut lương thực, thực phm, người Pht tử làm đúng vai trò trách nhiệm của một người nông dân, một người Pht tử. Không lợi nhuận trước mắt thêm vào sản phẩm mình làm ra vô s a chất độc hại, nh hưởng xấu đến sức khỏe con người để ri hệ lụy bao n bệnh hiểm nghèo từ đó phát sinh. Người Pht tử với tinh thn Tri túc thường lchay Thiu dục tri túc, đã ngăn ngừa được tâm ham muốn trên con đường dục vọng, trụy lạc tầm thường, đã chặn được phn nào lòng tham không đáy của một chúng sanh. Chính thế,trong hoàn cảnh nào,vào cương vị nào, người Pht tử vẫn lấy tinh thn tự lợi lợi tha của nhà Pht làm kim chỉ nam cho mọi hành động việc làm của mình trong nền kinh thế thị trường hiện nay. Laurence Iannaccone17 trong bài viết “Giới thiệu về kinh tế tôn giáo” đăng trên tạp chí n học kinh tế năm 1998 ông nhn định rằng: Tôn giáo thườngảnh hưởng mang tính quyết định đối với các nguồn lựchội trong mthội sự ảnh hưởng nàyth trở thành mt nhân t then cht dễ giải, kết hợp với nguồn nhân lực tài lực, quyết định sự tăng trưởng kinh tế quốc gia18. Nguồn lực mà Pht giáo đang kết hợp để phát triển nền kinh tế bền vững của nước ta hiện nay chính nguồn nhân lực Pht giáo. Một nguồn nhân lực đầy đủ các yếu t của một con người thời đại mới, (đầy đủ trí tuệ, đạo đức nhân cách), đây một nhân t của sự phát triển bền vững.
V lĩnh vực môi trường: Tín đồ Pht giáo bo v môi trương thông qua việc ăn chay.
Khi chính thức bước chân vào cửa đạo, người Pht tử phát nguyện thọ trì trai tịnh, tùy theo điều kiện cho phép, tùy theo sự phát tâm người Pht tử có thể ăn chay một tháng 2 ngày (các ngày mồng 1 15), hoặc 4 ngày ( các ngày mồng 1, 14, 15 30),


  1. Laurence Iannaccone giáo kinh tế tại đại học Chapman, Trường kinh doanh kinh tế Argyros , Quận Cam, California. Trước khi chuyển đến Chapman o năm 2009, ông giáo kinh tế của trường đại học George Mason . Ông đã thành lập Tôn giáo, Kinh tế n hóa”, một “Hiệp hội nghiên cứu tôn giáo, kinh tế n hóa” liên nnh (ASREC) một “Hiệp hội nghiên cứu kinh tế về tôn giáo” (CESR) mới.
  2. Iannaccone, L. 1998. Introduction to the Economics of Religion, Journal of Economic literature 36, pp.1465-1496. Phan Ngọc Chiến dịch.
 


hoặc 10 ngày (các ngày mồng 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 29, 30)19 hoặc mỗi năm ăn chay 3 tháng ( tháng 1, 5 9) hoặc mỗi năm ăn chay một tháng ( vào tháng 1, 7, 10) hoặc cả đời tịnh trai hay ăn chay trường. Pht giáo Việt Nam với s lượng hơn 10 triệu tín đồ (bao gồm giới tại gia xuất gia), trong tổng s hơn 96.2 triệu dân, chiếm 14.91% dân s cả nước20. Theo thạc sĩ, bác Thị Hải - Viện Dinh Dưỡng Quốc Gia, mỗi ngày một người ăn khoảng 150 -200 gram thịt các loại. Pht giáo với lượng tín đồ hơn 10 triệu nhân với 150gr s thịt tối thiểu mỗi người dùng hng ngày quả không nhỏ (10.000.000 x 150= 1.500.000.000gr). Vy cứ một ngày ăn chay thì tín đồ Pht giáo đã không sử dụng s lượng thịt 1.500.000.000gr. Theo các nghiên cứu đã được báo cáo, để sản xuất 1kg thịt, cần phải tiêu hao tương đương 10kg thực phẩm, khoảng 15.000 lít nước. Năng lượng để sản xuất 1kg thịt có thể cho 1 bóng đèn 100kW cháy trong 3 tuần. Sản xuất 1kg thịt sẽ thải ra môi trường 36,4kg CO2 bằng khí thải ra xe hơi chạy trong vòng 3h. Vậy mỗi ngày ăn chay tín đồ Pht giáo đã tiết kiệm được 15.000.000 kg thực phẩm, tiết kiệm được 75.600.000.000 KW năng lượng, hn chế sử dụng được 22.500.000.000 lít nước hn chế được 54.600.000 kg CO2 thải ra
môi trường các loại khí gây hiệu ứng nhà kính khác như metan,
oxit nitro, amoniac thông qua hình thức ăn chay, không dùng đến thịt các loài động vật, tín đồ Pht giáo đã góp phn không nhỏ vào việc bảo vệ phát triển một môi trường xanh, giúp n bằng hệ sinh thái bền vững. Theo nghiên cứu đã công bố từ tạp chí Nature, chế độ ăn chủ yếu vào thực vật giúp giảm đáng kể những ô nhiễm đến môi trường, tiết kiệm tới 1/4 đt nông nghiệp quá trình tiêu th nước ngọt.21
Tín đồ Pht giáo bảo vệ môi trường thông qua giữ giới không t sanh.
Trong Tng TNi, Đức Pht dy: “Người Pht tử không được hoc tự mình giết, hoặc bảo người giết, dùng phương tiện giết, khen tặng sự giết, thấy giết mà tùy hỷ, nhẫn đến dùng bùa chú để giết, vân vân, phàm tt ccác loài hữu tình có mng sống, đều không được cố ý giết chúng”.

  1. Nếu tháng không có ngày 30 thì ăn chay o ngày 29
  2. Theo ban tôn giáo chính phủ, tháng 7/2017
 


Chính tấm lòng từ bi, yêu thương tôn trọng sự sống của muôn loài, Đức Pht dạy hàng đệ tử của ngài, không được t sanh dưới mọi hình thức. Đức Thế Tôn với tuệ giác của mình, đã quán chiếu thấy đã chỉ ra sự tương sinh, tương dun của vạn sự, vạn vật trong trụ. Với triết lý dun khởi, Đức Pht đã chỉ cho chúng ta thấy được mối quan hệ ấy giữa chúng. Cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt. Con người không thể tồn tại thiếu đi vạn vật xung quanh, điều kiện sống của con người chính do thiên nhiên ban tng. Chính bởi sự tương sinh gắng khít ấy Đức Pht dạy cho chúng đệ tử của ngài phải biết yêu thương tôn trọng sự sống, phải a đồng cùng thiên nhiên. t sanh, giết hại chính tàng phá hủy diệt sự sống trong thiên nhiên, dn đến mất n bằng sinh thái. Bởi theo thuyết dun sinh thì sự sống tồn tại của loài này chính điều kiện sống còn của loài khác ngược lại. Con người với lòng tham không đáy của mình, tàng phá thiên nhiên, giết hại loài vật để phục vụ nhu cầu sống, vô tình làm cho thiên nhiên cạn kiệt mất n bằng, môi trường sống có nguy bị hủy diệt. Khi giữ gìn trọn vẹn giới không t sanh, hại vật. Người Pht tử đã kiến tạo cho mình một thế giới bình an nơi nội tâm, tạo sự n bằng sinh thái của thế giới bên ngoài. Bởi Hết thảy chúng sanh không ng- hiệp giết, mười phương nàochuyện đao binh, mỗi nhà mỗi chốn đều tu thiện, thiên hạ lo chi chng thái bình”.
  1. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP
      • Đối với tín đồ Phật tử: Người Pht tử phải cần ý thức được bản thân mình chính một viên gạch xây dựng n ngôi nhà Pht pháp. thế, mỗi cá nhân cần phải không ngừng n luyện hoàn thiện bản thân, học tập trao dồi nâng cao kiến thức Pht pháp, từ đó có nhng đóng góp về công sức, về trí tuệ nhằm đem lại lợi lạc cho chính bản thân, gia đình sau mang lại hạnh phúc, bình an cho mọi người t những giá trị tốt đẹp về cử chỉ, hành động, lời ăn tiếng nói…
Hiện nay, không ít tín đồ Pht tử chưa nhn chân được giá trị, vai trò của mình đối với đạo pháp, đối với hội, hoặc giả có nhn thức được vai trò trách nhiệm đó thì cũng không dám dn thân phục vụ. Do đó, đã người pht tử, quý vị hãy mạnh dn dn thân đạo pháp, hội khi có hội, khi đạo pháp cần, hội cần.
 
 
        • Đối vi Tăng Ni: Tăng Ni là ng ct ca Giáo hi, đi din chư Phật tuyên lưu truyền Phật pháp tại thế gian. Chúng ta đang sống trong thời buổi công nghệ 4.0, đòi hỏi Tăng Ni phải tự nâng cao trình độ kiến thức của mình từ nội điển lẫn ngoại điển, về phương diện xã hội như công nghệ thông tin, ngoại ngữ, các kiến thức bản về thời đại, để làm đa dạng phương thức hoằng pháp truyền tải Phật pháp đến cộng đồng trong thời đại mới.
Nn kinh tế nước ta đang phát triển, đô thị a kết quả tt yếu của sự phát triển y. Kiến thức xây dựng các ngôi tự viện, chùa cũng bị chi phối bởi sự phát triển này. Nếu trước đây Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bt, thì bây giờ kng ít các cơ sở thờ tự của Pht giáo chỉ tn tông cốt thép, không có lấy một không gian tự nhiên, không có không gian để tín đồ vảng cảnh mỗi khi tới chùa. thế, thiết nghĩ đối với vai trò một sứ giả Như Lai, khi kiến thiết xây dựng tự viện, chùa cần kiến tạo những không gian tự nhiên để phn nào giữ lại vẻ thanh bình của ngôi chùa trong truyền thống, Mái chùa che chhn n tc, nét sống muôn đời ca tng”.
        • Đi với Giáo hi Pht go Việt Nam: Trong nhng năm gn đây, hiện trng giả” diễn ra rất nhiều nơi, làm những chuyện không tốt nh hưởng đến uy tín của Giáo hội, của Tăng đoàn. thế giáo hội cần có những n bản, những biện pháp cứng rắn hơn để loại trừ đi những hiện trng này, nhằm bảo đảm sự tôn nghiêm của giáo hội bảo đảm lòng tin của tín đồ đối với Tam bảo.
Thời đại công nghệ 4.0, con người có thể dễ dàng giao lưu, tiếp xúc với nhiều nền n a của các nước trên thế giới, cũng như tiếp xúc được với nhiều tôn giáo khác nhau. Nhưng mặt trái của nó mang lại cho con người quá nhiều sự lựa chọn trong lĩnh vực tôn giáo, quá nhiều pháp môn tu tập hành trì, chính bởi bị thu hút lôi cuốn của cái mới, cái lạ dẫn đến hiện tượng nhạt đạo, cải đạo của một số bộ phận tín đồ chưa niềm tin kiên cố hoặc chưa am hiểu sâu về giáo lý. Giáo hội cần những phương hướng hành động, làm sao để người Phật tử, tín đồ không bị lay động niềm tin trước những cám dỗ của cái mới, cái lạ. Đặc biệt những nơi vùng sâu, vùng xa, giáo hội thường xuyên tổ chức những buổi giảng pháp, những lớp giáo căn bản, những buổi hành thiền để tín đồ hội học hỏi trao dồi kiến thức Phật
 


học, để làm tốt đạo đẹp đời, không bị các thế lực xấu lợi dụng, làm nguy hại đến nền hòa bình của nước nhà.
Việt Nam một nước có nhiều tôn giáo cùng tồn tại, chính sự đa dng về tôn giáo dễ dn đến xung đột niềm tin tôn giáo làm ảnh hưởng tới khối đại đoàn kết dân tộc, đến an ninh trt tự hội, từ đó đe do đến sự phát triển bền vững của đt nước. thế giáo hội Pht giáo Việt Nam cần có những sách lược để bảo đảm việc đó không thể xảy ra trong tín đồ của đạo Phật.
  • Đối quan, đoàn th quản tôn giáo: V phn nhân sự quản về lĩnh vực tôn giáo: hiện nay, gần như hầu hết các n bộ quảnvề tôn giáo của cả nước, đều n bộ thuộc các lĩnh vực khác trong hội, được chuyển sang ph trách về lĩnh vực tôn giáo. H chưa trình độ về chuyên môn, chưa am hiểu về tôn giáo, hoặc giả có tìm hiểu cũng chỉ cỡi ngựa xem hoa, chưa thể đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu sâu về tôn giáo. Chính thế, sẽ có những quyết định, việc làm chưa phù hợp với tôn giáo của từng vùng, miền trên cả nước. Do đó, Đảng Nhà Nước nói chung, nnh giáo dục nói riêng, cần phải xây dựng một trường đại học chuyên nnh về quảntôn giáo, hoặc trường đào tạo n bộ chuyên sâu về lĩnh vực tôn giáo nói chung cũng như Pht giáo nói riêng.
  • Đối với Ban Tôn giáo Chính phủ: Ban Tôn giáo Chính ph thường xuyên cập nht tun truyền, phổ biến rộng rãi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước về tôn giáo đến đồng bào có đạo, nhằm giúp họ thực hiện quyền tự do tín ngưỡng trong khuôn khổ của pháp luật. Đồng thời, qua đó tiếp thu ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của họ kịp thời tạo điều kiện, giải quyết những yêu cầu cấp thiết liên quan đến đời sống của tín đồ Pht giáo.
Đã đến lúc chúng ta cần nhìn nhn tôn giáo một thực thể hội, cần có các công trình nghiên cứu, hội thảo tập trung làm các vấn đề liên quan đến tôn giáo nói chung Pht giáo nói riêng; về vai trò của tôn giáo trong thời đại mới, về nguồn lực tôn giáo đối với sự phát triển của hội, phát huy vai trò nguồn lực tôn giáo trong công cuộc xây dựng bảo vệ t quốc T đó có những đề xuất, kiến nghị, cung cấp cơ s khoa học xây dựng quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước đối với việc phát huy nguồn lực tôn giáo cũng như nguồn lực Pht giáo trong quá trình phát triển bền vững đt nước hiện nay.
 
 
  1. KẾT LUN
Tn bước đường đồng hành phát triển cùng vận mệnh của đt nước, Pht giáo cũng trải qua nhiều biến động thăng trầm, lúc thịnh lúc suy, nhưngtrong hoàn cảnh nào, thời đại nào, Pht giáo vn luôn giữ vng vai trò “Hộ quốc an dân. Pht giáo Vit Nam đã xây dựng lưu giữ cho mình một truyền thống yêu nước, gắncùng dân tộc trongtưởng, đạo đức, tâm hồn trong đời sống của người dân còn một nhân t không thể tách rời của nền n hóa Vit Nam. Trong thời bui công nghệ thông tin, đt nước, cuộc sống, con người có nhiều thay đổi n bản, nhưng những giá trị truyền thống của nước nhà được Pht giáo vun bồi nuôi dưỡng suốt 2000 năm qua vẫn còn hiện hữu trongtưởng, trong đạo đức trong lối sống của người dân Việt.
Giao lưu hội nhp hội để Việt Nam phát triển kinh tế, phát triển công nghiệp hóa, hiện đại a đt nước, nhưng cũng kéo theo mặt trái của nền kinh tế thị trường, con người chạy theo đồng tiền, làm giàu bằng mọi th đoạn, khai thác cạn kiệt tài nguyên, phá hủy môi trường sống của muôn loại, hủy diệt đồng loại, làm mất đi nền n a truyền thống “Bầu ơi thương lấy cùng” của dân tộc ta. n cạnh đó, lối sống gấp, sống vội, sống ảo, sống th làm tha a đạo đức của đại đa s giới tr hiện nay. Do đó, việc phát huy tốt vai trò nguồn lực tinh thn của Pht giáo, sẽ giúp giới tr nhn thức được vai trò tránh nhiệm của mình đối với bản thân, gia đình hội, đối với nền n a nước nhà, với sự phát triển của đt nước. T đó, giới tr có những hành động, việc làm hữu ích cho bản thân, gia đình hội, sống chan a tình yêu thương, cùng chung tay xây dựng một nền đạo đức hiện đại không mất đi những giá trị truyền thống, sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình cộng đồng, sống một hội Việt Nam n minh bền vững. thế, ngoài việc phát huy tốt vai trò nguồn lực Pht giáo trong hiện tại, Đảng Nhà Nước cũng như giáo hội Pht giáo Việt Nam cần có những sách lược, đường lối, định hướng phát triển Pht giáo trong thời gian tới, sao cho phù hợp với thời đại, phù hợp với sự phát triển của nước nhà. T đó, Pht giáo lại tiếp tục có những đóng góp tích cực cho hội cho sự phát triển ổn định, bền vững của nước nhà.
 


 

Tài liệu tham khảo

HT. Thích Minh Châu dịch, Kinh trung bộ 1, NXB: Tôn Go, 2012.
Thích Nht Từ, Trương Văn Chung, Nguyn Công Lý, Pht go với các mục tiêu thiên niên kỷ của liên hiệp quốc, NXB. Đại Học Quốc Gia TP. HCM, 2014.
Đặng Nghiêm Vạn, luận về tôn giáo tình hình tôn giáo Việt Nam, NXB: Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012.
Hà Huy Thành - Nguyễn Ngọc Khánh, Phát triển bền vững từ quan niệm đến hành động, NXB KHXH, Hà Nội, 2009.
Nguyễn Duy Hinh, Mấy đặc điểm của Phật giáo Việt Nam, tạp chí Nghiên Cứu Tôn Giáo, s 8, 2008.
Nguyễn Quốc Tuấn, Vai trò đặc điểm của Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX, NXB. T điển bách khoa, Hà Nội, 2012.
Cao Huy Thuần, Vai trò của Phật giáo trong hội hiện đại trên lĩnh vực văn hóa đạo đức. Tp n thành đo, s 55, năm 2003.
Nhiều tác giả, Văn hóa tôn giáo trong bối cảnh toàn cầu hóa, NXB. Tôn giáo, Hà Nội, 2009.
Trần Đăng Khoa, Chân dung và đi thoi, NXB Thanh niên, 1999. Nguyễn Hữu Oanh, Bảo vệ phát triển di sản văn hóa Phật giáo Việt
Nam, mt nhiệm vụ quan trọng cấp thiết.
Hà Huy Thành - Nguyễn Ngọc Khánh, Phát triển bền vững từ quan niệm đến hành động, NXB KHXH, Hà Nội, 2009.
Trung tâm khoa học Xã Hi và Nhân Văn quốc gia, Toàn cu hóa và phát triển bền vững, NXB. KHXH, Hà Nội, 2003.
Banzeladze, Ðạo đức học, NXB. Hà Nội, 1985. http://www.daophatngaynay.com/vn.
http://songmoi.vn/che-do-an-nhieu-rau-xanh-co-the-han-che-bi- en-doi-khi-hau-83766.html.
Wiktionary. T điển mở tiếng Việt. http://btgcp.gov.vn/plus.aspx/vi/1.

264

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây