15. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM VÀO TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM

Thứ sáu - 03/05/2019 06:01
Thích Không Tú
- Đại đức, Tiến sĩ, Ủy Viên Ban Chấp Hành Trung Ương, Hội Tâm Lý Học Xã Hội Việt Nam.
217


NHỮNG ĐÓNG GÓP CA PHT GIÁO VIT NAM VÀO TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM

Thích Không Tú*






M TẮT
Phát triển bền vững xu thế nhn thức hành động T chức Liên Hiệp Quốc, chính ph các quốc gia, các t chức phi chính phủ, các t chức quần chúng v.v đều tán đồng ủng hộ.
Xuyên suốt chiều dài lịch sử đt nước, Pht giáo Việt Nam luôn đồng hành đã có nhiều đóng góp đáng kể đối với sự phát triển n hóa, kinh tế, hội của dân tộc. Tiếp tục kế thừa phát huy truyền thống tốt đẹp đó, Pht giáo Việt Nam đã đang có nhiều đóng góp tích cực vào tiến trình phát triển bền vững ở Việt Nam trên nhiều phương diện.
Bài viết liệt trình bày một s đóng góp bản của Pht giáo Việt Nam vào tiến trình phát triển bền vững ở Việt Nam.
Tn sở đó đề xuất một s kiến nghị nhằm phát huy hơn nữa những đóng góp tích cực của Pht giáo vào sự phát triển bền vững ở Việt Nam.
  1. ĐT VẤN Đ
Chúng ta đang sống trong thời đại phát triển không ngừng về mọi mặt: đời sống, kinh tế, n a hội, khoa học kỹ thuật, v.v





*Đại đức, Tiến sĩ, Ủy Viên Ban Chấp Hành Trung Ương, Hội Tâm Học Hội Việt Nam.
 

Sự phát triển tt yếu, cần thiết đem lại cho con người cuộc sống hiện đại, đầy đủ, thuận lợi, tiện nghi, v.v Mặt trái,cũng tác động xấu tr lại đời sống con người theo mối quan hệ nguyên nhânhậu quả sự ng hoại đạo đức, bất công, bệnh tt, khoảng cách giàu nghèo ngày ng xa, đặc biệt môi trường bị tàn phá, ô nhiễm trầm trọng có thể dn đến sự diệt vong của trái đất. Như thế, chính sự phát triển kèm theo sự tàn phá, nhng phát sinh đáng báo động. Việc phát triển ng nhanh ng mạnh, thì sự tàn phá lại càng ghê gm. Trước tình hình đó, Liên hợp quốc kêu gi nhân loại không thể chỉ tập trung vào việc phát triển nhanh mạnh nữa phải nghĩ đến một giải pháp phát triển khác, đó phát triển bền vững (PTBV).
PTBV tr thành xu thế chung tn nhân loại đang nỗ lực hướng tới. Bền vững về kinh tế để mang lại cuộc sống sung túc cho tt cả mọi người. Bền vững về hội để bớt đi bất công, bạo lực, đt đến sự n minh. Và bền vững môi trường để cuộc sống được sạch đẹp, an toàn, chất lượng cuộc sống tốt hơn, con người sống mạnh khỏe hnh phúc hơn. Đó cũng mục tiêu chiến lược quan trọng Đảng, Chính phủ, nhân dân Việt Nam đang quyết tâm thực hiện.
Tn nhiều diễn đàn hội thảo của giới nghiên cứu, các nhà khoa học cũng như trong các chính sách, chương trình hành động của quốc gia, vấn đề PTBV đang nổi n như một trong những mối quan tâm ng đầu. Một câu hỏi “kinh điển được nêu ra: Đất nước chúng ta phải PTBV theo cách nào dựa vào đâu? nhiên, nếu chỉ sử dụng công cụ pháp tâm thuần y để biến PTBV thành hiện thực, đó bất kh thi. Bởi còn xuất phát từ chính tâm ý thức được thôi thúc n trong mỗi người n. Rất may,Việt Nam, trong nhiều giải pháp tác động tâm ý thức thì Phật giáo được nhắc đến như một nguồn lực quan trọng cần khai thác.
Trong suốt quá trình du nhp và phát trin ở Vit Nam, Pht giáo đã tr thành tôn giáo của dân tộc, có nhiều đóng góp đáng kể trong công cuộc xây dựng đt nước, xây dựng con người - hội ngày một tn diện, tiến bộ. Nhờ đó, Pht giáo ngày ng có vị trí vững chắc trong tâm thức mỗi người dân, khng định một yếu t bản tạo dựng n bản sắc dân tộc, cốt cách người Việt Nam.
 

Trong bài tham lun này, chúng tôi xin trình bày vkhái nim phát triển bền vững, dn dt vào định hướng phát triển bềnViệt Nam nhn mạnh đến những đóng góp của Pht giáo Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại a nhằm bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững.
  1. KHÁI NIỆM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Những năm gần đây, PTBV đã tr thành một trong những vấn đề lý lun và thực tin rt ng, rt quen thuộc đi với các học giả, nhà nghiên cứu; đồng thời, chủ đề thời sự được n thảo nhiều trên các diễn đàn quốc gia quốc tế, thu hút sự quan tâm của nhiều tng lớp hội.
t về nguồn gốc, thuật ngữ PTBV lần đầu tn được nhắc đến o năm 1980 trong Chiến lược bảo tồn thế giới(IUCN, 1980), do các t chức bảo tồn thế giới như Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN), Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) và Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Thế giới (WWF) đã đưa ra. Trong chiến lược này, thuật ngữ PTBV được đề cập với một nội dung hẹp, nhn mạnh tính bền vững của sự phát triển về mặt sinh thái, nhằm kêu gi việc bảo tồn các tài nguyên sinh vật. Và ba mục tiêu chính về bảo tồn tài nguyên sinh vật được nhn mạnh trong chiến lược như sau: (i) Duy trì những hệ sinh thái bản những hệ hỗ tr sự sống (như cải tạo đt, tái sinh các nguồn dinh dưỡng, bảo về an tn nguồn nước); (ii) Bảo tồn tính đa dng di truyền; (iii) Bảo đảm sử dụng một cách bền vững các loài các hệ sinh thái.
Năm 1987, trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta(Unit- ed Nations, 1987), Ủy ban Quốc tế về Môi trường Phát triển (WCED) lần đầu tn đã đưa ra một định nghĩa tương đối đầy đủ v PTBV: Sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không m tổn thương kh năng của các thế h tương lai trong việc thỏa mãn c nhu cu của chính h. Định nghĩa này mang nội dung bao quát, không có phạm vi nht định cũng không có tính cụ thể rệt. Nó chỉ nhn mạnh đến việc tối ưu a các lợi ích trong hiện tại nhưng không để gây hại cho tiềm năng của những lợi ích tương tự trong tương lai.
Sau đó, nội hàm về PTBV được tái khẳng định Hội nghị Thượng đỉnh Trái đt vMôi trường và phát trin tchc ở Rio de Janeiro
 

(Brazil) năm 1992 được bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về PTBV t chức Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002. PTBV được xác định là: Mt sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại không làm hại đến khả năng đáp ứng nhng nhu cầu ca thế htương lai. Tđó, ba trct PTBV được đưa ra: Thứ nhất, bền vững về mặt kinh tế phát triển nhanh, chất lượng an tn; Thứ hai, bền vững về mặthội công bằnghội phát triển con người; Thứ ba, bền vững về sinh thái i trường khai thác sử dụng hợp tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường cải thiện chất lượng môi trường sống. Như vy, nội dung PTBV bắt đầu từ việc đề cao tầm quan trọng của bảo vệ môi trường, tăng trưởng kinh tế mở rộng bao hàm luôn cả việc phải giải quyết những bất ổn tronghội xem đây “ba thế chân kiềng” trong sự phát biển bền vững của thế giới mỗi quốc gia.
T các khái niệm trên, chúng ta nhn thấy, phát triển bền vững một quá trình liên tục cân bằng hoà nhập các mục tiêu kinh tế,hội môi trường sinh thái nhm đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của con người trong hiện tại không m ảnh hưởng đến điều kiện khả năng thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ mai sau. đảm bảo sự trường tồn của nhân loại qua các thế hệ. Nói cách khác, PTBV xuất phát từ sự bình đẳng, công bằng, n đối, hài a các lợi ích, các giá trị để giải quyết hài a mối quan hệ giữa con người với tự nhiên giữa con người với con người. Thứ nhất, v mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, t từ phương diện kinh tế, để phát triển con người phải khai thác tự nhiên, nhưng không phải sự khai thác tùy tiện, bừa bãi, vô trách nhiệm sự khai thác hợp lý, có trách nhiệm nhằm bảo đảm cho tự nhiên không bị hủy hoại, trái lại tồn tại phát triển cùng với sự phát triển của con người hội loài người. Thứ hai, về mối quan hệ giữa con người với con người, quan điểm PTBV yêu cầu các thế hệ hôm nay có thể khai thác tài nguyên thiên nhiên để thỏa n nhu cầu của mình, nhưng sự khai thác đó phải làm sao vừa bảo đảm tài nguyên không bị cạn kiệt, vừa có thể bổ sung, tái tạo được để cho các thế hệ tương lai cũng có hội, điều kiện cần thiết nhằm tồn tại phát triển.
Luận thuyết về PTBV bác bỏ quan niệm con người có nhu cầu nh mông, không bao giờ hết, không cần định chừng mực. Đồng thời, cho rằng cần phải hoạt động sản xuất có giới hạn, tiêu dùng
 

th hưởng có tiết kiệm, chống khuynh hướng sayvô độ vào nhu cầu vật chất bất chấp các giá trị khác. Điều này có nghĩa theothuyết PTBV thì tăng trưởng kinh tế có tính cần thiết nhưng xác định tăng trưởng chỉ điều kiện cần (không phải điều kiện đủ) cho phát triển.
Một điều tht thú vị, nếu nghiền ngẫm kỹ thì PTBV có sự tương đồng về quan điểm, mục đích, phương pháp luận với học thuyết Trung Đo” của Pht giáo. Theo Pht giáo, chy theo khoái lạc hay dục lạc, đó không thánh thiện không lợi lạc; hay tự hành xác, khổ hạnh, đó cách chỉ mang lại đau đớn, không thánh thiện không lợi lạc. C hai cực đoan này Đức Pht đã từ bỏ, Người đã tìm ra con đường Trung Đo là con đường thực tin, ti ưu đưa đến sgiác ngộ, an lạc cho con người, đó con đường đi giữa hai thái cực tham dục thái quá khổ hạnh, khắc nghiệt. Cũng vy, con đường PTBV cũng chính đi giữa những cặp, những mặt khác nhau để dung hòa và cân bằng chúng. Có thể thy con đường Trung Đo thể hiện trong tiến trình PTBV giải quyết hài a các nhu cầu của con người đt trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên giữa con người với con người. Không chỉ dừng lạisự tương đồng về quan đim, mục đích PTBV, Pht giáo còn đưa ra một lựa chọn dứt khoát về con đường PTBV “hạn chế sự tăng trưởng kinh tế vô độ, thay vào đó tăng trưởng sự giàu có tâm linh tôn trọng, bo v môi trường” (eds. Laszlo Zsolnai, 2008).
Cho tới nay, quan niệm về PTBV trên bình diện quốc tế có được sự thống nht chung mục tiêu để thực hiện PTBV tr thành mục tiêu thiên niên kỷ. C thể, năm 1992, tại Hội nghị thượng đỉnh Trái đt về môi trường phát triển, các nhà nh đạo thế giới lần đầu tiên cam kết thúc đy PTBV, ký kết 5 văn kin quan trng, trong đó có Chương trình nghị sự 21 đt nền móng cho PTBV trên phạm vi tn cầu. Đến năm 2012, sau 20 năm thực hiện, Hội nghị (Rio+20) đã tổng kết những thành tựu, khó khăn thách thức của thế giới về tiến trình PTBV, mà trước hết là thực hin 8 Mục tiêu phát trin thiên niên k. Tiếp đó, năm 2015 tại New York, Liên Hợp Quốc đã đưa ra Chương trình nghị sự 2030, gồm có 17 mục tiêu chung 169 mục tiêu cụ thể về PTBV (United Nations, 2015). Khái niệm PTBV bắt đầu được mở rộng mang tính bao quát hơn, phn ánh khát vọng chung của tn nhân loại được sống trong hoà bình,
 

phát triển xanh, môi trường sống trong sạch, tiến bộ, công bằng không còn đói nghèo. T đó đến nay các mục tiêu trong Chương trình nghị sự 2030 được xem như định hướng mang tính tn cầu mỗi quốc gia cần phải đt ra các mục tiêu phù hợp với bối cảnh của quốc gia để thực hiện. Đồng thời, các quốc gia cũng sẽ phải quyết định cách thức thực hiện lồng ghép những chỉ tiêu PTBV tn cầu vào quá trình lập kế hoạch xây dựng các chiến lược, chính ch của quốc gia.
  1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trước xu hướng phát trin chung của thế giới, Vit Nam đã nhn thức tầm quan trọng đưa PTBV tr thành mục tiêu chiến lược quốc gia: PTBV yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển đt nước; sự nghiệp của toàn Đng, toàn dân, các cấp chính quyền, các bộ, ngành và đa phương; của cácquan, doanh nghiệp, đoàn thể, các cộng đồng dân mỗi người dân ( Kế hoch hành động quốc gia thực hiện chương trình nghị sự 2030 sự PTBV). Kèm theo đó một s n kiện Đại hội, chính sách đã được ban hành trong lĩnh vực kinh tế, hội, môi trường như: Chương trình nghị sự 21 về PTBV (2004), Chiến lược PTBV Việt Nam giai đon 2011-2020 (2012), Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh (2014), Kế hoạch phát triển kinh tế hội giai đon 2016-2020; Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 sự PTBV (2017).
Đu tn, o năm 1991, Việt Nam thông qua “Kế hoạch quốc gia về môi trường phát triển lâu bền 1991-2000 tạo tiền đề cho quá trình PTBVViệt Nam. Tiếp đó, căn cứ vào Chương trình hành động thế kỷ XXI của quốc tế, ngày 17/8/2004, Thủ tướng Nguyễn Tn Dũng đã ban hành Quyết định số 154/2004/QĐ-TTg “Định hướng chiến lược PTBVViệt Nam (còn gi Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam). Định hướng chiến lược PTBVViệt Nam, nêu bật những vấn đề đang đt ra trong ba lĩnh vực kinh tế, hội môi trường, những thách thức nước ta đang phải đối phó. Chương trình đã tạo lập mối quan hệ tương hỗ giữa các lĩnh vực kinh tế, hội, môi trường; đã xác định khung thời gian để thực hiện gắn trách nhiệm của các ngành, các địa phương, các t chức, các nhóm hội; đã tính tới việc sử dụng các nguồn lực tổng hợp để
 

thực hiện chiến lược. Có thể nói, chương trình nghị sự 21 đã đánh dấu một thời kỳ mới thực của Nhà nước Việt Nam, đó Phát triển nhanh, hiệu quả bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằnghội bảo vệ môi trường”. Đối với Việt Nam, đây một cách tiếp cận mang tính hệ thống, dài hạn, bảo đảm sự phát triển kinh tế, n hoá, hội, môi trường theo hướng bền vững.
Kết quả là hơn 30 năm đi mới theo hướng PTBV, chiến lược phát triển của Việt Nam luôn được xây dựng dựa trên 3 trụ cột gồm bền vững kinh tế, bền vững hội bền vững môi trường. Đánh giá một cách tổng thể, Việt Nam có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kinh tế bản ổn định, các n đối lớn của nền kinh tế được giữ vững, thâm hụt nn sách nợ quốc gia được kim soát trong giới hn an toàn (Trương Quang Học, 2016, tr.264- 274). C thể hơn:
  • Về kinh tế, sau 30 năm, nền kinh tế Việt Nam đã đt được nhiều thành tựu quan trọng. T năm 2010 Việt Nam đã tr thành nước thu nhpmức trung bình có xu hướng tăng n trung bình cao, thu nhp của người dân đã tăng từ mức 94 đô la Mỹ vào năm 1990 n gần 2.400 đô la Mỹ năm 2017. Tăng trưởng kinh tế bình quân của Việt Nam giai đon 1986-2017 đt 6,63%/năm.
  • Về hội, T lệ hộ nghèo hiện đã giảm còn 7% vào cuối năm 2017. Tuổi thọ trung bình tăng n đt khoảng 73,5 tuổi - thuộc nhóm cao nht của thế giới. Việt Nam được đánh giá quốc gia có chỉ s Hành tinh hnh phúc (HPI) đứng th 5 thế giới, th 2 ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Giải quyết thành công các vấn đề hội như: xoá đói giảm nghèo, phát triển giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Đặc biệt, theo Báo o quốc gia “Kết quả 15 năm thực hiện Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Việt Nam trong 8 mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc cho các nước đang phát triển đến năm 2015, Việt Nam đã hoàn thành trước thời hn 3 mục tiêu (Xóa bỏ tình trng nghèo cực cùng, phổ cập giáo dục tiểu học, tăng cường bình đng giới vị thế cho ph nữ) có nhiều tiến bộ, đt tiệm cận các mục tiêu còn lại.
  • Về môi trường, ngoài phát triển kinh tế phát triển hội, từ
 

lâu Chính ph Việt Nam đặc biệt quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường. Thời gian qua Việt Nam cũng đã xửnghiêm khắc các sự c gây ô nhiễm môi trường; thực hiện tái cấu kinh tế chuyển đổi các nnh kinh tế thâm dụng tài nguyên, tiềm n các nguy cao gây ô nhiễm môi trường lớn sang các nnh kinh tế thân thiện với môi trường, thâm dụng công nghệ. Công tác trồng rừng, bảo vệ rừng được quan tâm hơn n tình trng cháy chặt phá rừng đã giảm đi.
Những kết quả đt được trong chiến lược PTBVViệt Nam rất quan trọng, nó khng định đường lối của Đảng chính sách của Nhà nước đúng đn; đồng thời, sở vững chắc để củng c lòng tin của nhân dân vào sự nh đạo của Đảng trong tiến trình đưa đt nước phát triển theo định hướng hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải đối mặt với nhiều vấn đề mới, phức tạp, nhiều thách thức trong tiến trình PTBV: Nn kinh tế có sự tăng trưởng nhưng chưa tht sự bền vững; phát triển kinh tế vẫn còn dựa nhiều vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên; năng suất lao động thấp; công nghệ sản xuất, mô hình tiêu dùng còn sử dụng nhiều năng lượng, nguyên liệu thải ra nhiều chất thải. Nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, sử dụng ng p kém hiệu quả. Môi trường sinh tháinhiều nơi bị phá hoại nghiêm trọng, ô nhiễm suy thoái đến mức báo động (Bộ kết hoạch đầu tư, 2016).
Trên thế giới, sau gn 25 năm chủ trương PTBV, mà cụ thể thực hiện 8 Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc, thế giới vẫn chưa đt được các kết quả bền vững như mong muốn. Trước tình hình đó, tại Hi nghị Thượng đỉnh vPTBV, 2015, Liên hợp quốc đã chính thức thông qua Chương trình nghị sựsự PTBV 2030, bao gồm một bản tun bố 17 mục tiêu chung (SDGs) 169 mục tiêu cụ thể. Các mục tiêu trong chương trình nghị sự 2030 được xem như định hướng mang tính tn cầu mỗi quốc gia cần phải đt ra các mục tiêu phù hợp với bối cảnh của quốc gia để thực hiện.
Trong bi cnh quốc tế đó, Chủ tịch nước Trương Tn Sang đã khng định: Việt Nam nhiệt liệt ủng h Chương trình Nghị sự 2030 cam kết sẽ làm hết sức, sẽ tập trung mọi nguồn lực cần thiết, huy động tất c các bộ, ngành, đa phương, các t chức, cộng đồng và người
 

dân để thực hiện thành công Chương trình ngh sự 2030 các mục tiêu PTBV. Gn đây nht, tại Đại hi đồng Liên hợp quốc din ra từ ngày 25/9 - 01/10/2018 ở New York, với chủ đề “Làm cho Liên Hợp Quốc gắnvới tt cả người dân: Lãnh đạo tn cầu chia sẻ trách nhim vì các xã hi hòa bình, công bằng và bn vng. Thtướng Nguyễn Xuân Phúc khng định: Việt Nam sẽ tiếp tục vai trò tiên phong trong ứng phó biến đổi khí hậuchâu Á, thực hiện tt các Mục tiêu PTBV của Liên hợp quốc đến m 2030, Thoả thuận Pa-ri về chng biến đổi khí hậu và các khuôn kh hợp c, các chương trình ngh sự quan trọng khác của Liên hợp quốc”. Như vậy, Việt Nam luôn xác định quan điểm nht quán, xuyên suốt trong quá trình phát triển PTBV. Cụ thể đến nay Vit Nam đã xây dựng và đang trin khai Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 sự phát triển bền vững. Kế hoạch này bao gồm 17 mục tiêu chính 115 mục tiêu cụ thể, tương ứng với các mục tiêu PTBV tn cầu của Liên hợp quốc. 17 mục tiêu PTBV đến năm 2030 của Việt Nam cũng được xem như định hướng PTBV quốc gia trong giai đon này.
Những mục tiêu trong kế hoạch hành động quốc gia hướng đến tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng hội bảo vệ môi trường sinh thái, quản sử dụng hiệu quả tài nguyên, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; bảo đảm mọi người dân được phát huy mọi tiềm năng, tham gia th hưởng bình đng thành quả của phát triển; xây dựng một hội Việt Nam a bình, thịnh vượng, dân chủ, công bằng, n minh bền vững.
Có thể nói, bối cảnh thế giới trong nước hiện nay tạo ra cho chúng ta nhiều hội để phát triển hội nhập. Đồng thời cũng đt ra cho chúng ta nhiều khó khăn, thách thức trong tiến trình thực hin thành công kế hoạch PTBV. Một skkhăn có bn như:
  • Việt Nam một trong những quốc gia chịu nh hưởng nng nề của biến đổi khí hậu các hiện tượng thiên tai bất thường.
  • Khủng hong tài chính, năng lượng, vấn đề an ninh lượng thực.
  • Nhu cầu tài chính cho thực hiện các mục tiêu PTBV rất lớn trong khi nn sách quốc gia còn hn chế.
  • Sức ép chung đối với các nước đang phát triển: tập trung nguồn lực để phát triển kinh tế chưa có sự chú trọng đúng mực đối với các vấn đề về môi trường hội. Hậu quả tài nguyên
 

thiên nhiên môi trường bị suy thoái, gia tăng sự bất bình đng về thu nhp những thách thức khác trong hội đỏi hỏi cần nhiều nguồn lực thời gian để giải quyết.
    • Hòa bình, ổn định xu thế chung nhưng trên thế giới vẫn còn nảy sinh nhiều xung đột.
    • Bảo hộ thương mại đt ra những thách thức lớn đối với việc ổn định thương mại tn cầu nói chung xuất nhp khẩu của Việt Nam nói rng.
Trước nhng vn đề đt ra, nhng kkhăn gp phải đòi hi một mặt chúng ta phải xây dựng các khung pháptn diện; mặt khác, nhn thức rằng PTBV mục tiêu bao trùm không chỉ nhiệm vụ của một bộ, ngành, t chức, không chỉ vấn đề kinh tế, chất lượng tăng trưởng, bao gồm cả vấn đề hội, môi trường, n hóa, tôn giáo, con người, cần thống nht cả trong nhn thức hành động của tt cả các cấp, các nnh tn hội, trong đó có các cộng đồng tôn giáo.
Mấy thập niên tr lại đây, trong xu thế chung của đt nước, các tôn giáoViệt Nam cũng phát triển nhanh chóng, nhiều tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế, n hóa,hội, chính trị. Một số tôn giáo đã đang tích cực tham gia vào đời sốnghội, góp phần giảm thiểu những khó khăn, thách thức tích cực thú đẩy các mục tiêu phát trin đt nước. Tôn giáo đã thc strthành một nguồn lực xã hội quan trọng góp phần phát triển đt nước. Song, để đi đến những kết luận thống nhất về vai trò của tôn giáo đối với PTBVViệt Nam đòi hỏi một quá trình nghiên cứu nghiêm túc, công phu về tôn giáo trong mối quan hệ với đời sốnghội trên nhiều chiều cạnh. Phần tiếp theo của bài tham luận sẽ đề cập đến những đóng góp n bản của Phật giáo vào tiến trình PTBVViệt Nam.
  1. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA PHẬT GIÁO CHO TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
Có một thời ở nước ta, do chưa nhn thức đúng đn về tôn giáo, một s người quan niệm tôn giáo lạc hậu, vật cản bước tiến của hội. Nhưng đến nay trong thời kỳ hội nhập, giao lưu quốc tế kinh tế thị trường, các tôn giáo được nhn định đang sẽ tr thành một nguồn lực vật chất tinh thn để phát triển kinh tế, đóng góp vào
 

các lĩnh vực n hóa, giáo dục, hội, cộng đồng. Nhn thức đúng đn về nguồn lực tôn giáo phát huy nguồn lực tôn giáo sẽ góp phn phòng ngừa việc ng p nguồn lực tôn giáo, tránh những tác động tiêu cực đối với hội, góp phn phát triển đt nước.
Pht giáo, với lịch sử hơn 2000 tồn tại, phát triển tại Việt Nam, từ nền tng giáolấy con người làm trung tâm để xây dựng n các quan điểm về mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với hội giữa con người với tự nhiên trong tiến trình tu tập chuyển a nội tâm hướng đến giác ngộ, giải thoát - Thật thú vị, đây cũng được xem nội dung n a của sự PTBV - Trải qua thời gian,tưởng Pht giáo đã dần thấm đẫm trong tâm thức, điều chỉnh hành vi, lối sống, đạo đức của tín đồ một bộ phn quần chúng nhân dân. Góp phn tạo n sự đồng thuận, a hợp hội, đoàn kết dân tộc, bình đng giới, trong phát triển kinh tế thị trường, trong giải quyết an sinh hội, từ thiện nhân đạo bảo vệ môi trường. Bài viết này sẽ tiếp tục làm ng t rằng, trong quá trình đổi mới tn diện đt nước, Pht giáo có đóng góp ngày ng to lớn vào công cuộc phát triển kinh tế - hội nói riêng, vào việc thực hiện chiến lược PTBVViệt Nam nói chung.
    1. Đóng góp v mặt tăng trưởng kinh tế
Khi nghĩ về tôn giáo, không ít người cho rằng, tôn giáo tn lo chuyện “hư ảo thì có vai trò trong phát triển kinh tế? Suy nghĩ này đã bị đánh bạt khi Robert Barro, nhà nghiên cứu kinh tế nổi tiếng của Mỹ năm 2006 đưa ra nhn định tôn giáo ngày ng có vai trò quan trọng với thực hành kinh tế thông qua các tác động của đức tin đến những đặc điểm hoạt động kinh tế, như: đạo đức làm việc, tính trung thực,v.v những điều này có thể tạo n khuynh hướng khuyến khích năng suất lao động tăng trưởng kinh tế”(Barro, McCleary, 2006, tr.49-72). Nhn định của ông cho chúng ta cách nhìn mới thoáng hơn phù hợp hơn về vai trò tôn giáo trong đời sống hội. Qua đó, có thể tn dụng được tôn giáo như một nguồn lực vừa vật chất vừa tinh thn cho sự phát triển đt nước. Nếu như trước kia nhiều người suy nghĩ kinh tế chỉ có thể có được khi bản năng ham muốn của con người được kích thích đó điều phn lớn các tôn giáo đều chống lại. Ngày nay quan điểm PTBV khiến người ta phải nhìn nhn lại khái niệm phát triển kinh
 

tế đúng nghĩa. Sự đóng góp của Pht giáo cho tăng trưởng kinh tếViệt Nam thể hiện dưới ba hình thức:
      • Một , Phật giáo góp phần đào tạo ra nguồn nhân lực, thm chí nguồn nhân lực phm chất đạo đức nhân văn, ngh lực cao cho đất nước. Theo Báo o tự do tôn giáo quốc tế 2017 của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, tính đến cuối năm 2017 ước tính Việt Nam có khoảng 96 triệu dân, trong đó, 14,91% tín đồ đạo Pht, 7,35% tín đồ Công giáo La Mã, 1,09% tín đồ đạo Tin lành, 1,16% tín đồ đạo Cao Đài, 1,47% tín đồ Pht giáo Hòa Hảo. Rất dễ nhn thấy tín đồ Pht giáo đồng thời cũng công dân Việt Nam, họ đang sinh sống, làm việc để nuôi sống bản thân, đóng góp nguồn nhân lực vào tiến trình phát triển đt nước. nhân lực chính nguồn lực quyết định trong quá trình tăng trưởng phát triển kinh tế - hội, quyết định đến việc khai thác, sử dụng, bảo vệ tái tạo các nguồn lực khác. Khi đt con người vào vị trí trung tâm, Pht giáo luôn nhn mạnh giá trị làm chủ bản thân của con người. N lực để hoàn thiện, tự mình đứng lên, không cầu cạnh hay bất cứ một áp lực nào khi bản thân đang chủ nhân của chính mình. ng Pht giáo đang đào tạo n nguồn nhân lực đầy ý chí, nghị lực, dám vượt khó vươn n. n cạnh đó, Pht giáo n đề cao lao động thông qua việc khuyến khích mọi người phải tự giác lao động Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực có nghĩa một ngày không làm, một ngày không ăn. Như vy, gần 15% dân s Việt Nam theo đạo Pht cùng với hàng triệu đồng bào có cảm tình Pht giáođầy đủ các giới, dưới nhiều vai trò khác nhau đã đang góp phn vào đội n nguồn nhân lực có ý chí, có trách nhiệm để phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại a của đt nước.
      • Hai , Phật giáomt h thống cơ sở th tự với nhiều di sản giá trị tiềm năng lớn có th khai thác nhm cung ứng những dịch vụ tâm linh. Tuy Pht giáo ít trực tiếp tạo ra sản phẩm kinh tế nhưng lại góp phn không nhỏ vào việc phát triển kinh tế, “Du lịch tâm linh” là một đc trưng. Thế kXXI được coi là Thế kỷ của m linh. Có lẽ thế du lịch tâm linh đang có xu hướng phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới (trong đó có Việt Nam). Pht giáo có nhiều sở tiêu biểu cho giá trị n a của một quốc gia, dân tộc n có sức hấp dn tự nhiên đối với du khách từ nước ngoài. Còn đối với người dân trong nước, đó nơi họ thường xuyên lui tới cho những
 

ước vọng về đời sống tinh thn. Khi cuộc sống con người ngày ng đề cao các giá trị tinh thn thì việc đi thăm viếng các công trình tôn giáo, tín ngưỡng để thưởng ngoạn cảnh quan thanh bình, xa rời thế tục; tham gia vào các hoạt động tại đây như tham dự lễ hội, nghe giảng kinh pháp, tọa thiền, ăn chay, cầu nguyện, làm từ thiện, v.v đang tr thành một xu hướng của cuộc sống hiện đại. Theo thống kê, Pht giáo chiếm đến 90% các hình thức du lịch tâm linh gắn với tôn giáo, tín ngưỡngViệt Nam (Nguyễn n Tuấn, 2013). Du lịch tâm linh Pht giáo vừa không chỉ mang lại nguồn thu nhp lớn cho nền kinh tế, tạo việc làm, phát triển các nnh dịch vụ mà còn đẩy mạnh q trình hội nhập quốc tế, quảng hình ảnh đất nước, con người Việt Nam. Và dĩ nhiên du lịch tâm linh đang từng ngày thúc đẩy du lịch Việt Nam tr thành nnh kinh tế mũi nhọn, công nghiệp không khói” để phát triển đt nước.
Ngoài ra, Pht giáo còn thực hiện cung ứng một s dịch vụ tâm linh khác để mang lại nguồn lợi về kinh tế cho đt nước, Giáo hội như: sách báo, n a phẩm Pht giáo, đồ thờ cúng, trang phục Pht giáo, thực phẩm chay, nhà hàng chay, du lịch tâm linh đến các nước, v.v...
- Ba là, Phật giáo nỗ lực giáo dục con người duy trì sự cân bằng trong phát triển đời sống, tự nhiên hội. Mặc nền kinh tế nước ta đã có sự phát triển trong nhiều năm liên tục, song chất lượng tăng trưởng vẫn vấn đề đáng quan tâm. Nn tham ô, làm ăn gian dối, ăn trộm, ăn cắp vật tư, thiết bị làm cho nhiều công trình mau hỏng, xuống cấp, hàng a kém chất lượng, v.v Sự suy đồi đạo đức, những thương tổn tinh thn của con người trong hội hiện đại. T lệ tự tử, phạm tội, suy đồi đạo đức ở tr vị thành niên, v.v đang mặt trái phơi bày việc mất phương hướng phát triển của hội hiện đại, hay hệ quả của việc coi tăng trưởng vật chất tiêu chí duy nht của sự phát triển để ri bị cuốn vào vòng xoáy của những đamvật chất, tiền bạc, những ham muốn dục vọng tầm thường do tiếp xúc với những giá trị mới từ n ngoài. Chuỗi hệ quả cho sự “vô minh” ấy nguy hủy diệt sự sống thiên nhiên huỷ diệt con người từ chính con người.
Pht giáo cho rằng bất cứ sự phát triển nào không đem lại sự tăng trưởng về đời sống đạo đức hnh phúc về tinh thn cho con người thì đó kng thể là sPTBV. Và Pht giáo trõ sự đóng góp
 

của mình cho tiến trình phát triển kinh tế bền vững “Phát triển kinh tế bền vững không phải đưa đt nước chạy theo vật chất hay theo đuổi một sự tăng trưởng không giới hạn, thay vào đó hãy đề cao các giá trị nhân bản, tính công bằng, trách nhiệm trong sản xuất, tiêu dùng th hưởng để bắt đầu đi tìm sự n bằng, an lạc trong tâm hồn(Trần Thúy Ngọc, 2012, tr.30-36).
Phật giáo kh năng cung ứng nguồn lực n hóa, giá tr đạo đức an ninh sinh tồn cho sự phát triển kinh tế bền vững như Schum- acher, nhà kinh tế học người Anh phát biểu: Có hai yếu tính của nền kinh tế Phật giáo tính giản d không bạo động”(Quán Như, 1996, tr. 239 - 243). Sở dĩ hai yếu tính đó như S.R. Bhatt chỉ rõ: “Kinh tế học Phật giáo được dựa trên giáo về trung đạo (…) đảm bảo việc tiêu thụ, nhưng không liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi bản thân của người tiêu dùng. Nó chấp nhận lợi nhuận không chấp nhận việc th lợi” (Bhatt, 2006, tr.784). Phật giáo không cực đoan đòi vứt bỏ mọi thành quả của tiến bộ vật chất những thiếu thốn vật chất bản thì khó thể đòi hỏicon người sự đầy đủ thảnh thơi về mặt tâm linh. Song, không phải cứu nh cuối cùng cho mục đích sống của con người. thế Phật giáo khuyên tri c thường lc, tức cm thy an lc, biết đvi vic gin dvvt cht để tạo n chuẩn mực đạo đức trong sản xuất kinh doanh.
    1. Đóng góp v mặt tiến bộ hội
Trong công cuộc đi mới đt nước, do stác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường quá trình giao lưu, hội nhp quốc tế, đạo đức, lối sống của con người có nhiều biến đổi theo cả chiều hướng tích cực tiêu cực. Chúng ta đang phải đối mặt với tình trng suy thoái nghiêm trọng về đạo đức, lối sống trong một bộ phn người dân. Nào sự xuống cấp về y đức, y thuật của y tá, bác sĩ; sự yếu kém về giáo dục kèm theo sự mấtphạm của các thầy cô giáo; t nn tham nhũng, quan liêu hách dịch của quan chức; hội luôn bất an với trộm cắp, vô cảm, thậm chí tàn nhn trong các mối quan hệ; thực phẩm n ra theo lợi nhuận n hàm lượng a chất cao ngất ngưởng, v.vTrong bi cnh đó, Pht giáo chứa đựng nhng tư tưởng nhân n về đạo đức phù hợp với công cuộc xây dựng hội mới như Đảng ta từng khng định. Biết phát huy những giá trị tích cực trong thế giới quan nhân sinh quan Pht giáo một nhân t quan trọng góp phn cho hội bình an, n minh, tiến bộ.
 

Nhờ đó, mọi người được sống n ổn để phát huy tài năng, trí tuệ trong sản xuất kinh doanh.
Trước hết, giáo lý đo Pht chứa đựng nhng giá trị tích cực trên các khía cạnh: nhân văn, đạo đức, lối sống, tình cảm tính cộng đồng sâu sắc. “Đạo Pht đã khng định chân giá trị đích thực đối với sự nghiệp ng tạo bảo tồn những giá trị truyền thống như: hiền hòa, lễ độ, kiên nhẫn, vị tha, độc lập tự chủ, thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Vớicách một tôn giáo, triết thiết, Pht giáo chứa đựng nhiều nội dung mang tính giáo dục sâu sắc” (Nguyễn Hồi Loan, 2018, tr.211).
D dàng nhn thấy một s giáocó tính gần gũi, dễ hiểu, dễ đi vào lòng người, khiến con người mạnh dn từ bỏ cái sai, cái ác, cái xu để theo cái cn, cái thin, cái m. Trong quá trình nhp thế, Pht giáo đã khéo o đưa các giáoấy vượt khỏi vòngthuyết để tr thành một tôn giáo phi hình thức được gi Pht giáo nhân gian. Điển hình, giáongũ giới có giá trị góp phn hoàn thiện nhân cách, đạo đức xây dựng nền tảng, kỷ cương gia đình, hội. Giáolục hòa có giá trị tăng cường khối đoàn kết tn dân, tn hội, xây dựng cách ứng xử giữa người với người cho a hợp từ lời nói đến việc làm, từ vật chất đến tinh thn. Giáotứ ân có giá trị gìn giữ truyền thống tri ân báo ân đối với ông cha mẹ, thầy cô giáo quốc gia, hội. Gonhân quả, luân hồi, nghiệp báo có giá tr lý giải cái khổ của con người qua các kiếp sống, đồng thời lý giải trách nhiệm mỗi người đối với bản thân hội, giúp con người thực hành nếp sống hiền thiện. Giáotứ diệu đế có giá trị nâng cao niềm tin vào con người, vào kh năng giải thoát của con người, từ đó thực hành lối sống trong sạch (bỏ ác, làm lành, tích đức, tạo phước của mỗi người) không lệ thuộc vào thn linh. Giáovề Tâm thức có giá trị giải quyết sự khủng hoảng trong tâm thức về thế giới con người đang sống, đem lại sự an bình trong tâm thức, viên ngọc quý của Pht giáo đối với hnh phúc nhân gian. Hãy an tâm trong bất kỳ tình huống nào, thế giới này vô thường, vô ngã; các ham muốn chỉ thói quen của cái ta; cái ta thì không có tồn tại đích thực thế luôn giữ tâm an lạc. GiáoT bi, hỷ xả có giá trị giúp con người sống chan hòa, yêu thương, thân thiện đồng cảm nhau hơn. GiáoT nhiếp pháp dạy con người biết đồng cam cộng khổ giữa hội để mang chân lý đi vào cuộc đời, khai thị cho
 

chúng sanh vơi đi nỗi khổ niềm đau. Giáo thường, ngã giúp con người giảm bớt cái i vị kỷ. Tt cả những nội dung đó tạo lập sức mạnh nội tại cho Pht giáo một cách hùng hậu; hình thành n Pht giáo Việt Nam nhp thế sinh động, có sự a quyện, gắnđo đời thượng cầu Phật đạo, h hóa chúng sanh để tu tp giải thoát hộ quốc an dân. Thực tế đã minh chứng, giáoPht giáo ngày ng loan tỏa trong đời sống người dân Việt Nam. Giá trị tốt đẹp của Pht giáo đã góp phn hun đúc n những giá trị tốt đẹp trong các tng lớp nhân dân như một thành t tâmdân tộc.
Ngoài ra, Pht giáo Việt Nam đã đang hội nhp với Pht giáo quốc tế để tiếp nhn nền n minh nhân loại giáo dục, hướng dn cho Tăng ni, tín đồ vừa tu học, vừa đóng góp công sức, trí tuệ làm lợi đạo, ích đời. Nổi bật như tham gia tích cực, có hiệu quả vào công cuộc phát triển chung của hội như: tham dự, t chức các hội thảo quốc tế, quốc gia về n hóa, y tế, giáo dục. Cùng các tôn giáo bạn đối thoại về kh năng góp phn vào các chương trình phát triển hội hoạt động nhân đạo từ thiện. Liên tục t chức các hoạt động nhân đạo như xây dựng nhà tình nghĩa, mở các phòng khám chữa bệnh miễn phí, lớp học tình thương, ủng hộ quỹ đền ơn đáp nghĩa, quỹ người nghèo, cứu tr đồng bào các vùng bị lũ lụt, hn hán, giúp đỡ người già cô đơn, tr em không nơi nương tựa, v.v.... Theo báo o của Hội đồng trị sự GHPGVN, nhiệm kỳ 2012-2017, trong hoạt động hội, từ thiện, mỗi năm Giáo hội đã vận động đóng góp được hơn 2.000 t đồng giúp đỡ người tàn tt, hoàn cảnh khó khăn, bị nh hưởng bởi thiên tai. Tuy nhiên, đây chỉ những thống không bao giờ đầy đủ, bởi không ít Tăng ni, Pht tử khi làm việc thiện nguyện thường dấu danh tính không khai báo sự đóng góp của họ.
n cạnh đó, những năm qua, Giáo hội không ngừng t chức các ka tập huấn, đạo tràng tu học cho Tăng ni, Pht tử dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm đưa Pht giáo nhp thế sinh động, tn diện vào đời sống nhân dân không chỉ trên nhu cầu tâm linh, còn cả nhng nhu cu thiết yếu đời thường khác. Trong đó một số hình thức tiêu biểu thu hút đông đảo người hưởng ứng như: ka tập huấn trụ trì, tập huấn hoằng pháp, ka tu thiền, ka tu an lạc, ka tu dành cho thanh thiếu niên, lớp giáo lý định kỳ, sinh hoạt hè, tiếp sức mùa thi,… hay các nghi lễ về ma chay, cưới hỏi, cầu an,
 

cầu siêu, khai trương, động thổ,… Đồng thời, qua đó Tăng ni, Phật tử luôn được quan tâm giáo dục việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước. Đấu tranh với những âm mưu chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết tn dân tộc của các thế lực thù địch. To môi trường thực hành đức tin đúng đn hướng thiện cho tt cả các thành phn trong cộng đồng hội, không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo. Những hoạt động phù hợp với thời đại như trên vừa thể hiện tinh thn từ bi cứu khổ của đạo Pht, góp phn mang lại sự an lạc cho hội; vừa thể hiện được bản lĩnh, vai trò hội ngày ng u sắc của Pht giáo trong lòng người dân Việt Nam.
    1. Đóng góp v mặt bảo v môi trường
nước ta, cùng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại a đt nước, các hoạt động phát triển kinh tế - hội được báo o đã đang tiếp tục mang lại vấn nn môi trường như: ô nhiễm nước, ô nhiễm tiếng động, ô nhiễm không khí, rừng bị tàn phá, thoái hoá đt, thiếu nước ngọt vào mùa nắng, lạm thác các tài nguyên sinh học, hệ sinh thái bị đe doạ. Theo Lời nói đầu của Báo o hiện trng môi trường quốc gia giai đon 2011 – 2015: Chất lượng môi trường nhiều nơi vẫn đang tiếp tục bị suy giảm. Ô nhiễm bụi vẫn tiếp tục duy trìngưỡng cao tại nhiều đô thị. Ô nhiễm nước không chỉ còn tập trung ở các khu vực h lưu, các đô thị, khu vực sản xuất đã xuất hiện ở một s khu vực thượng nguồn, vùng nông thôn. Các sự c môi trường, đặc biệt các sự c do xả thải chất thải công nghiệp đang có xu hướng gia tăng cả về s lượng mức độ nh hưởng. Nguy ô nhiễm, suy thoái đt cùng với vấn đề chuyển đổi mục đích sử dụng đt không hợp lý đã gây tác động tiêu cực đến môi trường đất. n cạnh đó, diễn biến biến đổi khí hậu các vấn đề môi trường xuyên biên giới ngày càng phức tp và khó lường. Hậu quả của nó sự gia tăng các loại bệnh nan y, phát sinh các đột biến gen, đe dọa trực tiếp mạng sống của người dân Việt Nam.
Nguyên nhân của vấn nn này lẽ ai cũng hiểu, đó chính chế pháp Nhà nước còn lỏng lẻo, sự gia tăng dân số cốt yếu ý thức người dân về môi trường còn kém ( duy vị kỷ, hưởng th). Quả tht, “Muốn giữ gìn môi trường trong sạch cần phải làm thay đổi duy của con người điều kiện tn quyết (Thích Gia Quang, 2016, tr.39). Vy, Phật giáo thể làm thay đổi tuy duy con người như thế nào để góp phần vào sự PTBV môi trườngViệt Nam?
 

Thứ nhất, thế giới quan Phật giáo đề cao cuộc sống i hòa giữa con người với thiên nhiên. Duyên khởi của Pht giáo khng định mối tương quan giữa các hiện tượng tự nhiên, nhân sinh trụ: Cái này có thì cái kia có; cái này sinh thì cái kia sinh; cái này diệt thì cái kia diệt. Theo đó, vạn vật trên thế giới này có sự liên hệ mật thiết với nhau, lệ thuộc vào nhau. Con người có mặt thì giới tự nhiên có mặt, hoặc giới tự nhiên không có mặt thì con người không có mặt. Đó mối quan hệ cộng sinh, cùng sinh tồn phát triển. Con người không thể nào tách mình ra khỏi thiên nhiên có thể tồn tại được.con người có tác động vào tự nhiên thì cũng phải dựa trên tinh thn bảo vệ, yêu mến thiên nhiên, đề cao sự bình đng giữa các loài, ngay cả loài vật c y. Đây giá trị của Pht giáo được đón nhn trong vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay.
Thứ hai, xut phát từ thế giới quan, Phật giáo quy định những hành động cụ th liên h mt thiết đến môi trường. Theo chúng i, cấm t sanh, cấm trộm cắp thực tập ăn chay những phương pháp bảo vệ môi trường thiết thực nht của Pht giáo. Đ ra giới cấm t sinh ngoài nội dung giáo dục mangtưởng nhân đạo, tôn trọng sự sống muôn loài, cũng giúp việc giải quyết vấn đề môi trường việc t sinh nhằm phục vụ các nhu cầu của con người sẽ dn đến việc mất n bằng sinh thái. Tương tự như vy, trộm cắp không chỉ dừng lạiphạm vi chiếm đt tài sản của người khác ngay cả việc khai thác trái pp làm kiệt quệ các nguồn tài nguyên nh hưởng đến nhu cầu các loài, các thế hệ tương lai cũng được xem trộm cắp. V ăn chay, ngoài việc bảo vệ sức khỏe chính bản thân n tạo chuyển biến tích cực trong suy nghĩ mọi người về vấn đề đạo đức môi trường việc giữ gìn, bảo vệ môi trường. Như vy, không t sinh, không trộm cắp, thực tập ăn chay chính hn chế can thiệp vào tự nhiên để thỏa n nhu cầu của mình. Nhờ đó làm giảm sức ép vào môi trường hệ sinh thái tự nhiên. Đây được xem cách thiết thực để bảo vệ môi trường hiện nay.
Ngoài ra, để hiện thực a sự hài a với thiên nhiên, như một truyền thống những ngôi tự viện được kiến tạo với cây ci xanh tươi, rợp bóng t, tỏa không khí trong nh nếp sống an bình, yên tĩnh. Trong quá khứ các Thin sư ngđo đời Lý, đời Trn đã từng thiết lập những môi trường tu tập trong thiên nhiên để cho mọi người hướng tâm tu tập giải thoát (Thích Phước Đạt, 2011).
 

Các chùa Việt Nam ngày nay cũng được xây dựng trong một chuẩn mực như thể để gắn kết con người với môi trường tự nhiên, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường.
Thêm nữa, những năm qua Pht giáo Việt Nam đã có những hành động thiết thực, cụ thể tham gia bảo vệ môi trường như:
  • Tuyên truyền, giáo dục tín đồ nhn thức mối quan hệ mật thiết giữa con người với thế giới tự nhiên, từ đó khuyến khích tín đồ sống đời sống ít dục, biết đủ; ăn chay làm nh; ứng xử thân thiện với tự nhiên, môi trường; xem tự nhiên nguồn sống bất tn trong tiến trình nuôi dưỡng thân tâm, tìm cầu giải thoát. Vào các năm 2011, 2016, nhân lễ Pht đn Hòa thượng Thích Phổ Tuệ - Đức Pháp chủ Giáo hội Pht giáo Việt Nam đã gửi đi thông điệp về vấn nn môi trường, qua đó kêu gi tín đồ bảo vệ môi trường ứng phó với biến đổi khí hậu.
  • Pht giáo Tham gia Chương trình Phối hợp giữa Ban Thường trực y ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Vit Nam, Bộ Tài nguyên Môi trường với các tôn giáo về bảo vệ môi trường ứng phó với biến đổi khí hậu giai đon 2015-2020. Tn tinh thn đó, đến nay Ban trị sự nhiều tỉnh, thành phố đã Chương trình hoặc Kế hoạch phối hợp với Ủy ban Mặt trn T quốc Việt Nam Sở Tài nguyên Môi trường các tỉnh, thành phố về việc bảo vệ môi trường ứng phó với biến đổi khí hậu. Các Chương trình, Kế hoạch này được Ban trị sự các tỉnh, thành phố lồng ghép vào các hoạt động Pht sự, các ka học, ka an cư, ka tu, các lớp Pht học, lớp giáo lý, v.v để triển khai, tun truyền, vận động Tăng ni, tín đồ tham gia đăng thực hiện. Những việc làm tiêu biểu đã được triển khai góp phn khắc phục nn ô nhiễm môi trường trong đời sống sinh hoạt như: thu gom rác thải, xây dựng hố rác gia đình, làm hàng rào, cột cờ, trồng hoa kiểng, không sử dụng thuốc a học trong trồng trọt; không sử dụng thuốc tăng trưởng trong chăn nuôi; không xả rác thải, túi ni lông ra môi trường; tích cực thực hiện nếp sống n minh đô thị; n án những hành vi vi phạm an tn trong sản xuất, kinh doanh; tôn trọng bảo hộ sinh mệnh của muôn loài ặc biệt các loài động, thực vật quý hiếm) nhằm giữ gìn sự n bằng của hệ môi trường sinh thái. Đc bit, 03 mô hình đim ở cp Trung ương đã được xây dựng gồm mô hình Trung tâm hỗ trcng đồng chùa Pháp Bảo (Thành phố H C Minh); mô hình chùa Pháp Vân (
 

Hà Ni); mô hình Trung tâm hỗ trcng đồng Hải Đức (tỉnh Thừa Thiên - Huế).
- Pht giáo thường xuyên t chức ka tu định kỳ cho tng lớp thanh thiếu niên nhằm giáo dục cho giới tr về thế giới quan Pht giáo, biết tôn trọng giữ gìn đạo đức truyền thống, biết ăn chay làm lành, biết sống đời sống ít dục, biết đủ, thực hành nếp sống nh mạnh. Giảng dạy kỹ năng sống, thái độ bảo vệ môi trường để các em biết yêu thương, san sẻ trách nhiệm với cộng đồng hội.
Nhìn chung, bằng nhiều cách thức phương pháp, Pht giáo Việt Nam đang từng ngày vận động, tun truyền Tăng ni, tín đồ ý thức vấn đề về môi trường trong thời hiện đại đang gặp phải, kêu gi mọi người nâng cao ý thức bảo vệ môi trường như bảo vệ chính cuộc sống của mình.
  1. KẾT LUN KIẾN NGHỊ
PTBV đang mối quan tâm trên phạm vi tn cầu, định hướng phát triển chung của tt cả các quốc gia nhằm thực hiện các mục tiêu bảo đảm sự trường tồn cho nhân loại. Tn sở kết hợp chặt chẽ, hài a giữa tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề hội bảo vệ môi trường, PTBV đã được Liên hợp quốc cụ thể a thành các mục tiêu chiến lược mỗi quốc gia trên thế giới n cứ vào đó để hướng tới, trong đó có Việt Nam.
Cũng như nhiều quốc gia khác, Việt Nam nước đang chịu tàn phá nng nề từ việc phát triển thiếu bền vững. t bộ ba nh vực cần phát triển: kinh tế, hội môi trường, thì Việt Nam đều có vn đề và thiếu bn vng. Trong tình hình đó, cn nỗ lực ngoài sphát triển kinh tế, còn cần “phát triển cả nhân cách đạo đức, lý tưởng. vy, để có sự thịnh vượng lâu dài, sự vững mạnh của quốc gia, Chính ph đã đề ra các chương trình PTBV trong từng giai đon kêu gi sự đóng góp của tt cả các bộ, ngành, các t chức,nhân, trong đó có tôn giáo Pht giáo nổi n như một đại diện tiêu biểu.
n tộc Việt Nam có dun đã tiếp nhn đạo Pht xây dựng n Pht giáo Việt Nam, đạo Pht có dun tìm được chỗ đứng trong lòng dân tộc Việt Nam. Hơn thế nữa, đạo Pht không ngừng đóng góp tích cực vào sự PTBVViệt Nam đã một
 

phn máu thịt của tâm hồn Việt Nam, luôn đồng hành cùng dân tộc như Bác Hồ tuyên bố: Phật giáo Việt Nam với dân tộc như bóng với hình, tuy hai một”; Hòa thượng Trí Thủ cũng từng phát biểu: Những chúng tôi m lợi ích cho Đạo pháp tức lợi ích cho Dân tộc; những điều chúng tôi m lợi ích cho Dân tộc tức lợi ích cho Đạo pp. Ngoài tính keo sơn đó thì ni dung giáo lý đo Pht là nn tng cho tt cả mọi người có thể cùng nhau chung tay giải quyết các vấn đề trên phạm vi tn cầu cũng như từng quốc gia.
Ngày nay, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại a đt nước, Pht giáo Việt Nam vẫn tiếp tục thể hiện vai trò quan trọng về việc thúc đẩy kinh tế phát triển, giữ gìn bản sắc n a dân tộc, giữa gìn hồn thiêng sông núi chuẩn mực đạo đức con người. Các tng lớp nhân dân trong hội đã đang tìm thấyPht giáo nhiều giá trị hữu ích cho sự PTBV của đt nước.
Tn sở những đã trình y, chúng i xin đề xuất một s kiến nghị nhằm phát huy hơn nữa những đóng góp tích cực của Pht giáo vào sự PTBVViệt Nam như sau:

* Đối với Nhà nước

  • T chức các hội thảo quốc tế, hội thảo quốc gia, tọa đàm nhằm nghiên cứu sâu sc vtôn giáo và tác động của tôn giáo đến sPTBV, các giải pháp để phát huy vai trò của tôn giáo trong công cuộc đổi mới hiện nay. Đồng thời, quảnlàm giảm thiểu những yếu t tiêu cực, lạc hậu, cản tr sự phát triển.
  • Tiếp tục phối hợp với T chức Pht giáo thế giới, Pht giáo trong nước soạn thảo các chương trình hành động của tôn giáo nói chung, Pht giáo nói riêng về PTBV cho từng giai đoạn, nhằm thúc đẩy các hoạt động triển khai Chương trình Nghị sự 2030 của Liên hợp quốc của Việt Nam.
  • Cn có những chế phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đào tạo Tăng ni, phát triển tự viện, giáo dục tín đồ nhằm phát huy sự tham gia đóng góp của Pht giáo đối với phát triển kinh tế - n a - hội của đt nước.
  • Những giá trị đạo đức, thế giới quan Pht giáo nền tng quý báu, vững chắc cho việc bảo vệ thiên nhiên, xây dựng đt nước n minh, giàu đẹp. thế, Nhà nước cần có chương trình giáo dục trực
 

tiếp, hoặc gián tiếp giao cho Giáo hội Pht giáo thực hiện một cách thường xuyên, có hệ thống rộng khp cho nhiều đối tượng, nht tng lớp thanh thiếu niên hiện nay.

* Đối với Giáo hội Phật giáo

    • Phối hợp với các quan Nhà nước, các tôn giáo bạn t chức các hội thảo, tọa đàm khoa học về việc phát huy nguồn lực tôn giáo trong sự phát triển đt nước.
    • Cn đề ra các kế hoạch hoạt động theo từng giai đon có sự phù hợp, sâu t với thực tiễn đt nước, Mục tiêu PTBV của Liên hợp quốc, Chương trình nghị sự 2030 của quốc gia.
    • Cn đa dạng hóa hoạt động Phật giáo hướng vào các lĩnh vực: phát triển kinh tế, giảm nhẹ biến đổi khí hậu, giải quyết ô nhiễm môi trường, tham gia vào y tế, giáo dục, xây dựng nền đạo đức tn n.
    • Đ góp phn xây dựng nhân cách, lối sống, đạo đức nh mạnh, an lạc cho mọi người, các Tăng ni, Pht tử cần nhp thế hơn nữa, cần nâng cao tinh thn nhân ái, cứu khổ cứu nn của người đệ tử Pht đối với cộng đồng. T những hoạt động đó,tưởng đạo đức Pht giáo mới a vào đời sống hội.
    • Tại các sở thờ tự, n cạnh chức năng lễ nghi, thờ cúng, Giáo hội n khuyến khích Tăng ni sử dụng vào hoạt động giáo dục, y tế, từ thiện nhân đạo. Làm được như vy, chúng ta vừa chuyển tải nội dung triết lý, giáo lý, lễ nghi của Pht giáo vừa hướng đến các mục đích xa hơn, rộng lớn hơn của hội - mục đích phát triển hội bền vững.
    • Tăng ni tại chùa chiền, tự viện, tịnh cần gương mẫu thể hiện bằng nhiều hành động cụ thể, thiết thực trong việc xây dựng hội PTBV để tín đồ, dân chúng noi theo.
    • Khuyến khích tín đồ sống thân thiện với thiên nhiên, bảo vệ thiên nhiên, giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường, tránh khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên bừa bãi để trục lợi làm giàu.
    • Hướng dn tín đồ, người dân phát triển kinh tế, mưu sinh trên nền tng t chánh đạo hướng thiện, hiểu biết, tôn trọng sự sống, sự bình đng giữa các loài, các thế hệ ở hiện tại tương lai.
 



Tài liệu tham khảo
Thái n Anh, 2018, Niềm tin tôn giáo của tín đồ Phật giáo Thành ph H Chí Minh, Nxb Hồng Đức.
Báo o quốc gia “Kết quả 15 năm thực hiện Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Việt Nam hướng tới Mục tiêu phát triển bền vững – một thế giới không ai bị bỏ lại phía sau. Được công bố ngày 21/9/2015, tại Hà Nội.
S.R. Bhatt, 2006, “Kinh tế học Pht giáo, Kyếu hi tho quc tế: Phật giáo thời hiện đại, nhữnghội thách thức, tr.784.
Bộ kế hoạch đầu tư, 2016, Báo o tổng hợp: Nghiên cứu, soát 17 mục tiêu chung 169 mục tiêu cụ thể trong Chương trình nghị sự 2030 sự phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc.
Bộ tài nguyên môi trường, 2016, Báo o hiện trng môi trường quốc gia giai đon 2011 – 2015, Quyết định xuất bản số: 33/ -TMBVN ngày 25/7/2016.
Thích Phước Đạt, 2011, Quan điểm của Pht giáo về thái độ sống bảo vệ môi sinh, Thư viện hoa sen, truy cập 09/11/2018,
<https://thuvienhoasen.org/a13025/quan-diem-cua-phat- giao-ve-thai-do-song-bao-ve-moi-sinh-ts-thich-phuoc-dat>.
Trương Quang Học, 2016, “Một svn đề đt ra cho phát trin bn vng của Vit Nam trong bi cnh biến đi toàn cu, Tp chí Khoa học ĐHQGHN, tập 32, s 1S, tr. 264-274.
Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện chương trình nghị sự 2030 sự phát triển bền vững, Ban hành kèm Quyết định s 622/ -TTg ngày 10/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ.
Nguyn Hi Loan (2018), nh hưởng của giáo lý Pht giáo đến thực hành công tác hội vận động nguồn lực trong công tác xã hi, Kyếu Hi tho khoa học quốc gia: Tâm lý học và sPTBV, Nxb Hng Đức, tr.211-218.
Trần Thúy Ngọc, 2012, “Phát triển bền vững dưới góc nhìn Pht giáo, Tp chí Khoa hc xã hi, số tháng 3/2012, tr.30-36.
Quán Như, 1996, “Kinh tế Pht giáo, trong cuốn Pht giáo trong


thế kỷ mới, tập I, Giao điểm, Hoa Kỳ, tr. 239 - 243.
Thích Gia Quang, 2016, “Pht giáo tham gia bảo vệ môi trường ng pvới biến đi khu, Tp chí Nghiên cứu Pht hc, stháng 1/2016, tr.39-42.
Quyết định của Thủ tướng Chính ph về việc Ban hành định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam, S 153/2004/QĐ- TTg (Chương trình Nghị sự 21 của Vit Nam)
Thích Nht Từ, 2006, “Kinh tế từ cái nhìn Pht giáo, Kyếu Hi thảo: Phật giáo trong thời đại mới – Cơ hội Thách thức, Viện nghiên cứu Pht học Việt Nam.
Nguyễn n Tuấn, 2013, Du lịch Tâm linhViệt Nam-Thực trạng và định hướng phát triển, Tham lun tại Hội Nghị quốc tế về du lịch tâm linh sự phát triển bền vững.
Barro, R.J & McCleary, R.M, 2006, “Religion and Economy, Jour- nal of Econocic Perspectives, Volume 20, Number 2, P.49-72.
IUCN, 1980, World conservation strategy: Living resource conservation for sustainable development. IUCN, Gland, Switzeland.
Laszlo Zsolnai (ed.), 2008, Sustainability and Sufficiency: Economic Development in a Buddhist Perspective, Society and Economy, Budapest.
United Nations, 1987, “World Commission on Environment and Development, Our common future, Oxford University Press, Oxford and New York.
United Nations, 2015, Transforming our world: the 2030 Agenda for Sustainable Development, A/70/L.1, New York.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây