14 TINH THẦN KHOAN DUNG PHẬT GIÁO VỚI VIỆC KIẾN TẠO BẢN SẮC VĂN HÓA TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA

Thứ tư - 08/05/2019 22:52
Nguyễn Văn Hiệu
227






 
TINH THẦN KHOAN DUNG PHT GIÁO VỚI VIC KIẾN TO BN SC VĂN HÓA TRONG BỐI CNH TOÀN CU HÓA

 
Nguyn Văn Hiệu*



TÓM TẮT

Bn sc luôn là vn đề trng tâm trong nghiên cứu văn hóa. Đây là vn đề vừa có ý nghĩa lý lun vừa có ý nghĩa thực tin, trong đó, kiến to bản sc là vn đề có ý nghĩa thực tin cao đối với văn hóa cá nhân ln văn hóa cng đồng, văn hóa dân tộc ln văn hóa quốc tế, nht là trong bối cnh tn cu hóa và hội nhp văn hóa hin nay. Chỉ khi con người và cng đồng có được bản sc vng chc đt trên nn tảng của chnghĩa nhân văn chúng ta mới thực scó được một thế giới hòa bình, thông hiu và phát trin bn vng.

Trong hệ giá trị của Pht giáo, biu hin qua thực tin sinh động hàng ngàn năm, tinh thn khoan dung luôn là nn tảng của s gn kết và hòa nhp. Trong bối cnh tn cu hóa hin nay, bài viết muốn đt vn đề về tiếp cn văn hóa Pht giáo trong kiến to bản sc cá nhân và bản sc cng đồng, trường hợp tinh thn khoan dung văn hóa. Bài viết skết hợp cách hiu vbản sc” của học giVit Nam (thiên vnghĩa đc trưng, đc đim) với cách hiu videnti- ty” của học giphương Tây (thiên về bình din chủ quan, ý thức về căn tính) để làm rõ vn đề nghiên cứu.








*Tiến sĩ, Trưởng Bộ môn Lý lun Văn hoá học, Khoa Văn hóa học, Trường ĐH KHXH- NV, ĐHQG TP.HCM, Vit Nam
 
 
  1. DẪN NHẬP

Tn cu hóa (globalization) và bản sc văn hóa (cultural iden- tity) là hai trong số nhng khái nim trung tâm trong khoa học xã hội và nhân văn nhng thp niên gn đây. Đây cũng là hai khái nim tương thuộc và quy chiếu ln nhau: nói đến tn cu hóa là nói đến tm vĩ mô, đến tính toàn cu (globality); còn nói đến bản sc văn hóa, dù hiu theo góc độ nào, cũng là nói đến tm vi mô, đến tính đa phương (locality).

Trong mối quan hệ tương thuộc ngày càng mnh mẽ giữa toàn cu hóa và đa phương hóa (glocalization interaction), liu đa dạng văn hóa và khác bit vbản sc có tt yếu dn đến xung đột giữa các nn văn minh như quan đim của nhà quan hệ quốc tế học nổi tiếng
  1. Huntington1? Và liu bản sc văn hóa có phải là một cu trúc quy chiếu ngược với tiến trình tn cu hóa, theo hướng càng tn cu hóa bản sc văn hóa càng co cụm, thu mình để gìn giữ các sc thái đa phương và các truyn thống văn hóa thay vì bản sc cn được kiến to để làm nn tảng cho phát trin và hội nhập?

Thực tế, từ góc độ nghiên cứu văn hóa, đúng như D. P. Schafer xác định: “Người ta kng thể đi rt xa trên con đường tính nhiu vmà kng gp nhu cu vbn sc (identité), đó là nn tảng của toàn bộ stồn tại của con người.2 Chúng ta cũng có thể nói thêm, cũng bởi bn sc là bn cht, là nhu cu, là nn tảng của toàn bộ stồn tại của con người, cá nhân và cng đồng, nên người ta kng thể đi rt xa trên con đường nhiu v, nht là trong bi cnh hi nhp toàn cu, nếu kng có một bn sc mạnh và luôn được kiến to theo hướng là nn tảng của một thế giới hòa bình, thông hiu và phát trin. Đây cũng chính là quan đim của chúng tôi.

Trong bài viết này, chúng tôi tiếp cn theo hướng xem bản sc là nhu cu tự thân của mỗi người và là một dạng thức giá tr, một cu trúc có thể kiến to được. Chúng tôi cũng xem tn cu hóa là tiến trình có nhng tác động tích cực đến ý thức vbản sc và là một trong nhng động lực để cá nhân và cng đồng kiến to bản

 
    1. Samuel  Huntington (2001), The Clash of Civillization and the Remaking of World Order, Simon & Schuster, Canada.
    2. D. P. Schafer (2002), Bàn vbản sc n hóa, Người đưa tin UNESCO. Dn theo Mai Văn Hai – Mai Kim (2003) , Xã hội học n hóa, Nxb. ĐHQG Hà Ni, trang 208.
 


sc theo hướng phù hợp với tiến trình có tính tt yếu của tn cu hóa, góp phn to nên tính thống nht trong đa dạng của văn hóa tn cu. Bài viết cũng muốn góp một cái nhìn, một hướng tiếp cn trong nghiên cứu vbản sc trong quy chiếu về tình hình nghiên cứu bản sc văn hóa ở Vit Nam.

Bn sc văn hóa là một vn đề được quan tâm đc bit ở Vit Nam, từ góc độ lý lun ln thực tin. Tuy nhiên, hu hết các nghiên cứu vbản sc văn hóa ở Vit Nam đu tp trung vào quan nim xem bản sc là nhng đc trưng, đc đim, nhng tính cách nổi bt của một cng đồng, một dân tộc mà ít chú ý đến bản sc văn hóa với tư cách là một cu trúc tâm lý – xã hội từ bình din chủ quan, cm thức sở thuộc và ý thức về căn tính của cá nhân và cng đồng. Chính vì vy, Vit Nam nói nhiu đến xây dựng một nn văn hóa tiên tiến, đm đà bản sc dân tộc nhưng vn chưa tht sự chú ý đến vic kiến to bản sc như là nhng nhu cu tự thân và động lực của phát trin như nhng đóng góp trong nghiên cứu vbản sc trong truyn thống học thut phương Tây.

Từ quan đim trên, trong khuôn khổ một bài viết ngn, chúng tôi tp trung vào vai trò của tinh thn khoan dung của Pht giáo trong kiến to bản sc văn hóa trong bối cnh tn cu hóa. Tuy vy, Pht giáo nói chung, tinh thn khoan dung Pht giáo nói riêng, đã được nghiên cứu khá nhiu và được phổ biến khá rng rãi cả trên bình din lý thuyết ln thực hành, nên chúng tôi chỉ tp trung vào một số đim chính yếu trong quy chiếu với yêu cu vkiến to bản sc trong bối cnh tn cu hóa – một chủ đề nghiên cứu còn tương đối mới mẻ ở Vit Nam.
  1. HỆ QUY CHIẾU TOÀN CẦU HÓA

Năm 2011, Harold James, Giáo sư Sử học và Quan hệ quốc tế tại Đại học Princeton và Matteo Albanese, nghiên cứu viên về lịch stại Vin Đại học châu Âu, cùng viết và công bố một bài viết ngn Tm biệt khái niệm toàn cu hóa(Googbye to Globalization”)3. Theo hai tác gi, “tn cu hóa” (globalization) là một trong hai khái nim quan trng nht của thế kXX, xut hin vào nhng năm 1990, đt đến sphổ biến rng khp vào đu nhng năm 2000 và
 
  1. http://www.project-syndicate.org/commentary/james49/English
 


đến năm 2011 đã đến lúc sphải tm bit. Tuy nhiên, cũng theo hai ông, tm bit khái nim “tn cu hóakng có nghĩa là khái nim này bị chi bỏ mà chỉ bởi nó sẽ bước ra khỏi các cuộc bút chiến trin miên và sẽ được định nghĩa li, theo đó, toàn cu hóa không phi mt tiến trình mang tính đu tranh, mà là mt đặc điểm cơ bn của lch sử loài người, trong đó c khu vực địa lý và c xã hi loài người đa dạng sẽ quện cht vào nhau ngày mt cht chhơn4. Đáng chú ý là hai tác giHarold James và Matteo Albanese đt toàn cu hóa trong quan hệ đối sánh với chnghĩa toàn trị (totalitarianism), khái nim được sn sinh từ nước Ý để mô tả hin trạng thế giới vào giữa thế kXX, được hai ông coi là một trong hai khái nim quan trng bc nht của thế kXX cùng với khái nim toàn cu hóa. Har- old James và Matteo Albanese nói đến khái nim chnghĩa toàn trị, vốn được sử dụng để mô tkhuynh hướng chính trmuốn kim soát tn bộ các khía cnh của đời sng xã hội của chnghĩa Phát xít, cũng là cách hai ông nhn mnh đến toàn cu hóa với tư cách là một tiến trình xóa bỏ chnghĩa tn tr, phân cách và xung đột để tiến tới một thế giới đối thoi, dân chvà liên kết –một cách thức tốt để giải quyết các vn đề tn cu như biến đổi khu, khng hoảng kinh tế, và nghèo đói.5

Điu Harold James và Matteo Albanese nêu có tính tng kết và dự báo là hn tn đúng, bởi tn cu hóa đã dn đi vào chiu sâu, đã thành một hin thực, một thời đi, một bối cnh và đã thành hệ quy chiếu cho các hot động và các quan hệ tương tác, trong đó có quan hệ quy chiếu tn cu hóa – bản sc văn hóa.

Thực tế, từ trước bài viết của Harold James và Matteo Albanese gn mười năm, để tnh tình trạng có nhiu cách hiu gây tranh i, Mantred B. Steger, Giáo sư và là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu tn cu hóa của một trường đại học nổi tiếng, đề xut dùng thut ngtính toàn cu (globality) để chỉ một tình trng xã hi tiêu biu bởi nhng mối hỗ tương liên kết tn cu cht chẽ vkinh tế, chính tr, văn hóa, môi trường và các luồng luân lưu đã khiến cho nhiu biên giới và ranh giới đang hin hữu thành kng còn thích hợp na6. Đáng chú ý là trong các công trình, bài viết của mình,
  1. http://www.project-syndicate.org/commentary/james49/English
  2. http://www.project-syndicate.org/commentary/james49/English
6 Mantred B. Steger (2003; 2011), Tn cu hóa (Nguyn Hải Bằng dịch), Nxb. Tri thức,
 


Mantred B. Steger luôn nhn mnh đến khía cnh ý hệ của tn cu hóa và bình din nhn thức vtn cu hóa trong quan hệ với ý thức vbản sc và căn tính. Ông viết:

Chúng tôi luôn nhn mạnh trong lúc tho luận vhình tượng toàn cầu, các tiến trình toàn cu hóa kng chỉ xy ra trên bình diện khách thể, vt cht mà còn bao hàm bình diện chthể, tức là ý thức con người. Sự nén ép thế giới thành mt nơi chn đơn nht ny càng làm cho cái toàn cầu trthành khung quy chiếu cho tư tưởng và hành đng con người. Do đó, toàn cầu hóa can dvào vào cả cơ cu vĩ mô của cng đồng lẫn cơ cu vi mô của con người. Nó thấm sâu vào cốt lõi của tự ngã và các ng hướng của nó, to điu kin cho vic to nên nhng n tính cá nhân và tập thể vốn được nuôi dưỡng nhờ nhng tương quan đang gia ng mạnh mẽ giữa cá nn và toàn cu.”7

Mantred B. Steger ng là một trong số kng nhiu nhng học ging hvà nói đến tn cầu hóa văn hóa ng như đt vấn đliu có hay kng có văn hóa tn cầu. Theo ông, nói đến toàn cu hóa sẽ kng đy đnếu kng bao m một kho sát về kích thước n hóa của toàn cu hóa và ông gi đó là toàn cu hóa n hóa – quá trình quy chiếu ti stăng trưởng và bành trướng của các luồng lưu chuynn hóa ra khắp đa cu8. Mantred B. Steger hiu n hóa trong mi quan hso nh vi kinh tế, chính trị, theo đó, nói đến n hóa là nói đến vic xây dựng biu tượng, phát biu và phbiến ý ng- hĩa n hóa nên toàn cu hóa n hóa chính là su chuyn, sphổ biến và quan htương tác giữa các giá trị, các biu tượng giữa các nn n hóa. Trên cơ sđó, Mantred B. Steger phê pn quan đim xem toàn cu hóa tt yếu dn đến thun nht hóa n hóa, dn đến phnhận tính đa dạng của nn n hóa toàn cu. Ông ng hquan đim của Roland Robertion vvic các luồng u chuyn n hóa toàn cu thường m sng li nhng đc sc của n hóa đa phương, dn đến một stương tác phức hợp giữa toàn cu và đa phương (glocal- ization) mà tiêu biu là svay mượn n hóa. Ông viết:

Kinh nghiệm đương đại về sống và hành đng xuyên qua biên giới văn hóa có nga là, mt mt mt đi các ý nga cổ truyn, song mt


2011, trang 33.
  1. Mantred B. Steger (sđd), trang 43.
  2. Mantred B. Steger (sđd), trang 119.
 


khác to nên nhng cách diễn tả biểu tượng mới. Nhng cm thức được tái to vsthuc-vào (belonging) chung sống trong mi căng thng không thoi mái với cm thức không-nơi-nào-c(placelessness). Nhng khái niệm xưa vcộng đng quc giatra đang được bổ túc bởi s vươn lên ca hình tượng toàn cầu.”9

Đã có nhiu quan đim trái chiu vstác động của tn cu hóa đối với văn hóa nói chung, đối với bản sc văn hóa nói riêng, trong đó nổi bt lên sự lo ngại vkhng hoảng của bản sc văn hóa (crisis of cultural identity) trong bối cnh tn cu hóa, nht là nhng xung đột chính trvà xung đột vbản sc văn hóa quốc gia. Tuy nhiên, từ các quan đim nêu trên vtn cu hóa, tn cu hóa văn hóa và từ cách tiếp cn hợp lý khái nim bản sc văn hóa, theo chúng tôi, hn tn có thể nói đến kiến to bản sc văn hóa trong bối cnh tn cu hóa.

3. BẢN SẮC VĂN HÓA: ĐẶC TRƯNG VÀ Ý THỨC CĂN TÍNH

Trong nghiên cứu khoa học, sự thống nht vkhái nim có ý nghĩa quan trng, nht là với nhng khái nim trung tâm và phức tp như toàn cu hóa, bn sc văn hóa. Tuy vy, nhìn từ học thut Vit Nam, có thể thy khái nim bản sc văn hóa” ở Vit Nam có độ chênh nht định đối với khái nim cultural identity” trong học thut phương Tây, dù khi chuyn sang tiếng Anh, trong hu hết các trường hợp, chính các nhà nghiên cứu Vit Nam dịch khái nim bản sc văn hóa” thành cultural identity”; và trong chiu hướng khác, khi dịch sách từ tiếng Anh hoc tiếng Pháp, phn lớn các học gi, các nhà dịch thut đu dịch khái nim cultural identity” thành bản sc văn hóa.

Nhìn chung, quan nim và tiếp cn bản sc văn hóa ở Vit Nam thiên về xem bản sc văn hóa là nhng đc đim, đc trưng có thể nhn biết của một chủ thể văn hóa. Chẳng hn, học giTrần Quốc Vượng nói đến “Một nét bản sc của văn hóa Vit Nam: khnăng ứng biến10, hoc nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm tìm vbản sc văn hóa Vit Nam và xác định người Vit Nam có nhng đc trưng có tính bản sc như tính cng đồng, tính linh hot, trng tình, mm
 



33.
  1. Mantred B. Steger (sđd), trang 126 – 127.
10 Trần Quốc Vượng (2003), Văn hóa Vit Nam tìm tòi và suy ngm, Nxb. Văn học, trang
 


do, hiếu hòa11

Trong khi đó, lý lun và thực tin nghiên cứu văn hóa trong học thut phương Tây cho thy cultural identity được nghiên cứu, tiếp cn từ một góc độ khác, đó là nghiên cứu cm thức sở thuộc(be- longing) hay sự tự nhn thức vmình của một cá nhân hay của một cng đồng trong quan hệ đối sánh với kẻ khác. Nói cách khác, nếu identity được dịch là bn sc, thì bn sc đối với các học giphương Tây, như Zdzislaw Mach xác định: Ở cp độ bản sc cá nhân là câu trả lời cho câu hỏi Tôi là ai trong quan hệ với nhng người khác?. Ở cp độ xã hội đó là câu trả lời cho câu hỏi: Chúng tôi là ai trong quan hệ với nhng nhóm người khác?12 Theo Stuart Hall, bản sc văn hóa (cultural identity) là một dạng của tính đồng nht tp th, ở đó, các thành viên của một cng đồng tự nhn thức về mình và sẻ chia các ký ức lịch svà các mã văn hóa chung với tư cách là một dân tộc13.

Như vy, cách tiếp cn bn sc văn hóa của học giVit Nam thiên về bình din khách quan của chủ th, gn với cách nghiên cứu đc trưng (characteristics), tính cách (character) của học thut phương Tây, còn cách tiếp cn bn sc văn hóa (cultural identity) của học giphương Tây lại thiên về bình din chủ quan của chủ th. Đây là cách tiếp cn bt nguồn từ tâm lý học văn hóa, dn được tiếp nhn và vn dụng trong hu khp các ngành / chuyên ngành nghiên cứu văn hóa khác.

Theo chúng tôi, cả hai hướng tiếp cn đu có có thể được gọi là nghiên cứu bản sc văn hóa và có thể kết hợp để nghiên cứu bản sc của một chủ thể văn hóa được tn din hơn. Thực tế, tuy kng là chđo, nhng cũng đã có nhng quan nim, quan đim cho rằng hai cách tiếp cn, về cá tính khách quan và về căn tính chủ quan cn bổ sung cho nhau, bởi như học gingười Pháp Philippe Claret trong Cá tính tp thcủa c n tc cho rằng cá tính và căn tính tp thể giao nhau: cá tính khách quan của nhóm, thể hin một cách

 
    1. Trần Ngọc Thêm (2001), Tìm vbản sc n hóa Vit Nam, Nxb.Thành phố HC Minh.
    2. Zdzislaw Mach (1993), Symbols, Conflict, and Identity, Essays in Political Anthropol- ogy, State University of New York Press, 1993, trang 5.
13. Stuart Hall (1994), Cultural Identity and Diaspora. http://ls-tlss.ucl.ac.uk/course-ma- terials/ELCS6088_74357.pdf   (20/2/2019).
 


vô thức ở nhng ứng xcó thể quan sát được của nhng thành viên của nó, được mỗi người trong nhóm trải qua; ngược li, n tính ch quan có nhng quy chiếu của nó trong nhng chuẨn mực thái độ và ứng xử của nhóm.14 Zdzislaw Mach, một nhà nghiên cứu nổi tiếng người Ba Lan, cũng xác định: “Nói đến con người, chúng ta có thể nói đến bản sc của cá nhân hoc của một tp th. Chúng ta cũng có thể phân bit giữa sxác định khách quan (bên ngoài) với chủ quan (bên trong), và sđan kết của chủ quan và khách quan là trung tâm đối với quá trình cu trúc của bản sc.15

Chúng ta có thể xem hai quan nim và hai hướng tiếp cn kể trên, một là v đc trưng, hai là về ý thức căn tính hoc ý thức vbản sc. Hai quan nim và hai hướng tiếp cn đu có vai trò và ý nghĩa rt lớn trong vic nghiên cứu, khám phá cũng như góp phn xây dựng và kiến to bản sc của một cá nhân, một cng đồng. Quy chiếu về bình din ý thức, nhn thức, có thể thy quan nim bản sc là đc trưng, đc đim nổi bt của một chủ thể có thể góp phn khơi gợi ý thức, trách nhim của công dân đối với cng đồng, với đt nước trong vic xây dựng một dân tộc đm đà bản scvà có ý thức cao trong vic bo tồn và phát huy các truyn thống, các di sn văn hóa; trong khi đó, quan nim bản sc là ý thức về căn tính và nguồn cội của mình lại có ý nghĩa đc bit trong vic kiến tạo bn sc, nht là bản sc cá nhân. Cách hiu thhai vbản sc cho thy vai trò đc bit của giáo dục, của môi trường văn hóa trong vic kiến to bản sc văn hóa cá nhân trong mối quan hệ sâu sc với bản sc văn hóa cng đồng. Trong bối cnh tn cu hóa, kiến to bản sc văn hóa theo cách hiu thhai vbản sc này, một mt chú ý đến vic giáo dục, rèn luyn sao cho một cá nhân có tâm thức văn hóa và có bn sc cm sâu vào tâm thức và bản sc cng đồng, có như vy, một cá nhân mới có nhng nim tin, nim tự hào vbản thân, vcng đồng và có khnăng đương đu với nhiu thử thách trong cuộc sng; mt khác, giáo dục cho cho cá nhân tinh thn khoan dung văn hóa, chp nhn skhác bit làm cơ sở cho ý thức vbản sc của một công dân tn cu.


 
      1. Philippe Claret (2006), Cá tính tp thể của các dân tộc (Lê Diên dịch), Nxb. Phương Đông, trang 40.
      2. Zdzislaw Mach (1993) (sđd), trang 5.
 
 
  1. TINH THẦN KHOAN DUNG VÀ KIẾN TẠO BẢN SẮC

Khoan dung (tolerance), hiu theo nghĩa chung nht, là s bao dung, độ lượng, kng chp nê, tha thứ; khoan dung là một trong nhng phẨm cht, nhng đức tính con người cn có. Chính vì vy, trong các nn văn hóa, nht là trong các học thuyết tư tưởng vđo đức như Nho giáo và trong các giáo lý của các tôn giáo lớn như Pht giáo, Thiên chúa giáo…, khoan dung là một trong nhng nội dung trng tâm của đo học làm người, rèn luyn bản thân, là phẨm cht cn phải có trong ứng xvới người và cả với chính mình. Trong thời kỳ hin đi, khoan dung còn là vn đề có tính thời skhoa học và là ý thức trách nhim của thế giới, của các tổ chức, các quốc gia dân tộc, thể hin qua Tuyên bvc nguyên tắc của khoan dung (The Decla- ration of Principles on Tolerance) của tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hip Quốc (UNESCO) năm 199516.

Theo chúng tôi, chính quá trình tn cu hóa với nhng xung đột có tính tt yếu din ra mnh mẽ từ đu thp niên 1990 đã góp phn thúc đẨy UNESCO có tuyên ngôn vkhoan dung kể trên. Ngay trong Lời nói đu, bản Tuyên ngôn viết:

y nhớ rng Hiến chương Liên Hợp Quốc tuyên bố: ‹Chúng tôi, các dân tộc Liên Hợp Quốc, quyết tâm bo vcác thế hệ tương lai khi tai ha chiến tranh, ... để khng đnh niềm tin vào các quyền cơ bn ca con người, vphm giá và giá trị ca con người , ... và để đt nhng mục tiêu này cn phải thực hành lòng khoan dung và chung sống hòa bình với nhau như nhng người hàng xóm tốt.”

Trong bản tuyên b, ý nghĩa của khoan dung được UNESCO nêu và giải thích khá cn k, chi tiết và sâu sc: Khoan dung là s tôn trng, chp nhn và đánh giá cao sphong phú, đa dạng của các nn văn hóa trên thế giới của chúng ta, là các hình thức biu hin các cách làm người của chúng ta. Khoan dung được bồi dưỡng bởi kiến thức, scởi mở, giao tiếp và tự do tư tưởng, lương tâm và nim tin. Khoan dung là shài hòa trong skhác bit. Đó kng chỉ là một nghĩa vđo đức, nó còn là một yêu cu chính trvà pháp lý.

 
    1. UNESCO (1995), Declaration of Principles on Tolerance. http://portal.unesco.org/ en/ev  (20/2/2019)
 


Khoan dung, đó là đức tính có thể đem lại hòa bình, góp phn thay thế văn hóa chiến tranh bằng một nn văn hóa hòa bình...

Bn tuyên bố cũng nhn mnh đến khoan dung là trách nhim duy trì quyn con người, là đa nguyên (gồm cả đa nguyên văn hóa), dân chvà pháp quyn, là kng áp đt quan đim của mình đối với người khác. Bn tuyên ngôn cũng nêu yêu cu và đc đim của khoan dung ở các cp độ và chiu kích như cp độ nhà nước, chiu kích xã hội, vai trò của giáo dục

Có thể thy, quan nim vkhoan dung của các học thuyết tư tưởng vđo đức xã hội và của các tôn giáo lớn kng khác gì nhiu so với quan nim của UNESCO, chỉ là quan nim của UNESCO tn din hơn, hệ thống hơn và được đt trên ý thức trách nhim tm quốc tế, tm thời đại và mang tính tng hòa của các quan hệ chính trị – văn hóa – xã hội và của cả quyn lực, trách nhim. Các học thuyết, các tôn giáo, các thiết chế văn hóa – xã hội, trong tính đc thù của mình, cả khía cnh đc thù trong quan nim, trong giáo dục và thực hành khoan dung, đu có thể góp phn tích cực trong vic làm lan ta tinh thn khoan dung, đem lại ý thức chung sng hòa bình.

Thực tế, con người là động vt đa chiu kích; một con người có thể thuộc về nhiu nhóm cng đồng khác nhau và tiếp cn từ góc độ căn tính và ý thức vbản sc, có thể thy một con người có thể có nhiu bản sc (multi-identity). Do đó, tiếp cn theo kiu chnghĩa đơn th, như Amartya Sen xác định, có thể là một cách hữu hiu để dn đến hiểu sai gn như mọi con người trên thế giới này17. Theo Amartya Sen, “Nim hy vng vsự hòa hợp trong thế giới đương đại chyếu nm ở vic chúng ta cn phải hiu rõ ràng hơn về tính đa nguyên trong căn tính con người.18 Như vy, giáo dục tinh thn khoan dung là một trong nhng yêu cu có tính tt yếu để giúp con người nhn thức được tính đa nguyên vbản sc và có cách thức sng phù hợp trên tinh thn tôn trng skhác bit.




 
    1. Amartya Sen (2012), Căn tính và bạo lực (Lê Tun Huy và Trn Tin Cao Đăng dịch), Nxb. Tri thức, 15
    2. Amartya Sen (2012) (sđd), trang 17.
 
 
  1. KHOAN DUNG PHẬT GIÁO TRONG KIẾN TẠO BẢN SẮC

Nghiên cứu về tinh thn khoan dung trong quy chiếu vkiến to bản sc trong thế giới tn cu hóa, chúng tìm thy tinh thn khoan dung của Pht giáo có ý nghĩa đc bit.

Thc tế, như đã nói trên, không một học thuyết tư tưởng vđo đức xã hi hay một tôn giáo lớn nào li không coi trng tinh thn kho- an dung, dù mc đcó thkhác nhau. Trong đó, Pht giáo ni tiếng là tôn giáo ca skhoan dung (tolerant religion), ni bt ở tin thn khoan dung tôn giáo, chp nhn khác bit tín ngưỡng, tôn giáo. Đây là đã được nghiên cu nhiu vi nhiu minh chng thuyết phc.

Điu chúng tôi đc bit chú ý và tâm đc ở tinh thn khoan dung Pht giáo trong quy chiếu vkiến to bản sc chính là tính trit để trong nhn thức lun của Pht giáo dn đến tinh thn khoan dung đc sc và mang tính bản sc của tôn giáo này.

Lẽ thường, nói đến bản sc là nói đến cái ngã (self), cái i, cái nơi chn thuc v(belonging place). Trong khi đó, một trong nhng trcột tư tưởng của Pht giáo lại là tư tưởng vvô ngã (non-self, anatman). Tư tưởng này lại có cơ sở nhn thức lun Pht giáo v tính không (emptiness, sunyata), vvô thường (impermanent, An- icca). Thế giới vn động liên tục nên vn vt vô thường, kng có thuộc tính đích thực; chp vào cái ngã, cái tôi bt biến là rơi vào gi tưởng, rơi vào đau khổ (Dukkha) trầm luân kng li thoát. Đây ng chính là cơ sở để Pht go nói đến tính bình đẳng và tính khoan dung, không chấp trước. Đthấu đạt được nhn thức và gc ngộ v tính không và vô ngã, con người phải trit để trong nhn thức vbản cht vô thường thân như đin nh hữu hn vô(Thị đệ tử - Thin sư Vn Hnh), của vn vt, tức phải có căn cơ về tuệ trí và phải tu tp, thực hành bằng nhiu hình thức để hướng đến sbuông b(letting go). Đó là cách sng từ bi, bác ái, vị tha, bố thí… Đó ng là nhng tiêu chuẨn đo đức người tu hành theo Pht giáo phải có, phải thường xuyên thực thi để được giải thoát, để đt quả A La Hán (Pht giáo nguyên thủy - Theravada) hay đt hnh Bồ Tát (Pht giáo Đại thừa – Mahayana)… Bố thí là giúp người, nhưng sâu sa từ gốc độ tu tp, bố thí là một thực hành hiu quả để hướng đến rèn luyn vsự buông b, để đt được trạng thái an lc, kng si hn. Bố thí, từ bi, bác ái, vị tha là lý tưởng sng, là thực hành tâm linh và
 


ng là nn tảng của tinh thn khoan dung đc thù của Pht giáo.

Nho giáo là một học thuyết chính trị - đo đức với mu hình người quân tử đt đo, đt đức” để phục vụ lý tưởng tu, t, tr, bình nên khoan dung trong Nho giáo chyếu hướng đến nguyên tc ứng xgiữa ta và người, ít nhiu mang tính vị tha, kng chp, thể hin cái đức, cái hnh của người quân tử. Khoan dung trong Nho giáo kng gì khác là một biu hin của “Đo trung th, cơ bản là sự thể hin đức khoan hòa của người có học.

Thiên chúa giáo xây dựng nn tảng luân lý tôn giáo từ ý nim v “tội ttông(original sin), vì vy trong quan hệ ứng xta – người, Thiên chúa giáo nói nhiu đến sxá ti, sự tha th(fogiveness). Tha thlà biu hin của khoan dung, nhưng tha thvn ít nhiu biu hin một sphân bit cao - thp, đúng – sai

Thực tế, từ góc độ từ nguyên học, khoan dung là từ ít nhiu vn thể hin tính kng bình đẳng, vn đâu đó vn còn dáng dp của quan hệ lớn – nh, cao – thp, đúng – sai, kng chp

Trong khi đó, khác với nghĩa từ nguyên, khác với cả khoan dung và tha thứ trong Nho giáo và Thiên chúa giáo, khoan dung trong Pht giáo nổi bt ở tính bình đẳng, tính buông b, tính hướng nội xut phát từ nhn thức lun trit để của Pht giáo vtính không, sự vô thường và tính vô ngã. Đây slà cơ sở để khoan dung Pht giáo hòa vào chủ trương khoan dung văn hóa của UNESCO với cách hiu cơ bản khoan dung là chp nhn và tôn trng skhác bit. Khi con người biết khoan dung và biết tìm bình yên từ bên trong (“Peace comes from within” - Siddhārtha Gautama), con người đã góp một cách thức làm cho thế giới hòa bình, hòa hợp, qua đó góp phn kiến to một thế giới đa bản sc.

THAY LỜI KẾT

Pht giáo là một trong năm tôn giáo lớn nht trên thế giới. Triết học và Đạo đức học Pht giáo cũng như con đường tu tp, thực hành tâm linh Pht giáo được biết đến rng rãi trên phm vi tn cu, trong đó nổi bt ở tinh thn khoan dung tôn giáo, tinh thn tôn trng skhác bit với nhiu sc thái riêng xut phát từ tính trit để của nhn thức lun Pht giáo.
Mặc dù Pht giáo phủ nhn cái ngã, cái tôi, qua đó dễ bỏ qua ý
 


nim vbản sc (bản sc cá nhân, bản sc cng đồng), nhưng từ thực tin Pht giáo, có thể thy tinh thn khoan dung Pht giáo, chủ quan hay khách quan, lại có ý nghĩa rt lớn trong bối cnh tn cu hóa với yêu cu nghiêm ngặt vtôn trng skhác bit văn hóa, tôn trng sđa dạng vbản sc, và nht là với yêu cu kiến to một bản sc vng vàng trên cơ sở nhn thức sâu sc vbản thân, về trách nhim xã hội.






TÀI LIỆU THAM KHẢO

Lê Ngọc Trà (tập hợp và giới thiu), Văn hóa Việt Nam: đặc trưng và cách tiếp cn, Nxb. Giáo dục, 2001.

Trn Quốc Vượng, Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngm, Nxb. Văn học, 2003.

Trần Ngọc Thêm, m vbn sc văn hóa Việt Nam, Nxb. Tnh phố HCMinh, 2001.

Philippe Claret, Cá tính tp thcủa cảc n tc (Lê Diên dịch), Nxb. Phương Đông, 2006.

Zdzislaw Mach, Symbols, Conflict, and Identity, Essays in Political Anthropology, State University of New York Press, 1993.

Samuel Huntington, The Clash of Civillization and the Remaking of World Order, Simon & Schuster, Canada, 2001.

Mantred B. Steger, Toàn cầu hóa (Nguyn Hải Bng dịch), Nxb. Tri thức, 2011.

Benedict Anderson, Imagined Communities: Reflections on the Origin and Spread of Nationalism, Verso, 1983.

Chris Barker, Nghiên cứu văn hóa: Lý thuyết và thực hành, (Đng Tuyết Anh dịch), Nxb. Văn hóa thông tin, 2011.

Mai Văn Hai – Bùi Kim, hi hc văn hóa, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Ni, 2005.

Satyananda Sraman, Buddhist Attitude towards Culture and Other religions, Archi-Cultural Translations through the Silk  Road 2nd International Conference, Mukogawa Womens Univ., Nishi- nomiya, Japan, July 14-16, 2012.

Stuart Hall (1994), Cultural Identity and Diaspora. http://ls-tlss. ucl.ac.uk/course-materials/ELCS6088_74357.pdf   (20/2/2019).

UNESCO (1995), Declaration of Principles on Tolerance. http:// portal.unesco.org/en/ev    (20/2/2019).

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây