14 PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN PHẬT GIÁO VỀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG

Thứ tư - 08/05/2019 12:52
Nguyễn Ngọc Duy Khanh(*) (TK. Giác Minh Tường)




 
PHƯƠNG PP TIẾP CN PHT GIÁO VỀ VN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG
 
Nguyn Ngc Duy Khanh(*) (TK. Giác Minh Tường)

 

TÓM TT


Sn xut và tiêu thlà hai hot động kinh tế quyết định. Tuy nhiên, thực trng sản xut vi nguồn lực và i nguyên hữu hn không thđáp ng được những mong muốn tiêu ng vô hn của con người đã đy hthống kinh tế đương thời rơi vào tình trng mt n bằng. Đgiải quyết mâu thuẫn này, nền kinh tế đương đại cgắng đt được năng sut và sản lượng đu ra cao nht có thtừ hn mức nht định của nguồn lực và nguyên liệu sản xut. Điều này có nghĩa rằng vic quản lý sdụng hiệu qucác nguồn lực nguyên liệu sản xut là một vấn đquan trng, nhưng đồng thời điều này ng hàm nghĩa rằng các nhà kinh tế phải thừa nhn nhu cu của con người không có điểm giới hn. Vmt hiện tượng, những cgắng u trên chcó thduy trì sn bằng giữa sản xut và tiêu thtrong một thời gian ngắn, còn vbản cht thì nó ng chng m thay đổi được điều gì. Thêm vào đó, vô svấn đđã
 
  • Candidate of Postgraduate Institute of Pāli and Buddhist Studies (PGIPBS) of the Uni- versity of Kelaniya, Sri Lanka, Người dịch: Giác Minh Trường
 


ny sinh do hu qucủa stập trung kinh tế một chiều, thiên lch như smt n đối giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội, lợi ích của sng trưởng kinh tế không tác động được đến đại đa số người dân; ng schênh lch vthu nhp và tiêu chuẩn sống của các tầng lớp xã hội; i trường bhủy hoi nghiêm trng do vic khai thác khoáng sản và i nguyên thiên nhiên quá mức; đe da đến n bằng đời sống của các thế hmai sau.

Bài tham luận này bằng đu bằng một nghiên cứu vham muốn tiêu ng vô tận của con người dưới ng kinh Pht học. Nhn thức tường tận vvấn đnày theo quan điểm nhà Pht, có thđược xem là tính độc đáo của triết lý kinh tế Pht giáo, và có thể áp dụng đối với vic đưa ra các quyết định kinh tế, tiêu thụ có trách nhiệm, trgiúp vic n bằng giữa sản xut và tiêu thtrong xã hội và mở ra cơ hội duy trì nền kinh tế bền vng. Kế đến, khái niệm phát triển sđược phân tích trên quan điểm Pht học, ng như lời Pht dy có liên quan đến việc xây dựng kinh tế sđược n luận đchứng trằng phát triển kinh tế bền vng là sphát triển mà ở đó chai phương diện vt cht và m linh đều phải được chú trng như nhau. Cui ng, những phương pháp tiếp cận Pht giáo đối vi các hot động kinh tế sđược trình bày như những lời gi ý nhm góp phn xây dựng một nền kinh tế phát triển bền vng

GIỚI THIỆU


Hơn ba thập kỷ qua, từ khi o cáo của y ban i trường và Phát triển Thế giới1 (UN, 1987) được đtrình nhm đóng góp cho Mc tiêu phát triển bn vững của Liên Hiệp Quc (UNDP, n.d.), phát triển bền vng đã trthành một thut ngthông dụng được đcập trên nhiều phương diện như chính sách xã hội, i trường, kinh tế, v.vCho đến nay, cvcấp đquốc gia và quốc tế, nhiều nlực trên nhiều phương diện khác nhau đã được thực hiện nhằm
    1. o cáo Brundtland (còn gọi là o cáo Our Common Future)
 


đt được những mục tiêu mà ki niệm phát triển bền vng bao hàm. Trên thực tế, những mục tiêu phát triển bền vng không thể đt được nếu không có sphát triển vmt kinh tế. Song, kinh tế thường chtập trung chyếu vào những ng trưởng có stương tác qua lại giữa thu nhp và tiêu thụ. Đng thời, những chính sách phát triển kinh tế ng chm riết vào việc tập trung cho hai phương diện ktrên, bmt nhng vấn đcấp bách mà thế giới ngày nay đang phải đối mt. Ngày nay, chúng ta dường như bdẫn lối bởi một thn hóa mang tên chnghĩa tiêu thụ, trào lưu này khuyến khích con người mua sắm hàng hóa với một khối lượng khổng ln bao gihết. Những thói quen tiêu thnày dẫn đến sự hủy hoại môi trường nghiêm trng do vic khai thác các nguồn i nguyên thiên nhiên quá mức, đe da trc tiếp đến đời sống ổn định bền vng của những thế htương lai. Khng hong kinh tế toàn cu hiện tại, cng vi những nghiên cứu khoa học vbiến đổi khí hu toàn cu mới đây, đt ra những câu hỏi đánh vào trng tâm của những thói quen tiêu thmà xã hội ngày nay đang chìm đắm trong đó.

Dưới ng kính Pht giáo, bài nghiên cứu này bt đu vic đánh giá, phê bình vphương diện tiêu thcủa kinh tế học, i mà ng tham đóng một vai trò quan trng. Những kho cứu vng tham scung cấp một hướng tiếp cận mới đối vi nền kinh tế đương đại, chính điều này to nên sự khác biệt giữa triết lý kinh tế của Pht giáo (kinh tế Pht giáo) và kinh tế chính thống (mainstream economics). Kho sát này ng smang đến những góc nhìn thú vđối vi những phương án đúng đắn trong vic điều tiết và kiểm soát lĩnh vc tiêu thtrong xã hội. Kế đến, dựa trên quan điểm Pht giáo, khái niệm phát triển sđược phân tích ở chai phương diện vt cht và đo đức đchứng trng những quan niệm phổ biến xoay quanh khái niệm phát triển của kinh tế chính thống, vn chtập trung vào sphát triển vt cht, cần được suy t lại. Kinh tế Pht giáo chtrương thành tựu mục tiêu phát triển kinh tế bền vng, mà ở đó cvt cht và đo đức là hai khía cạnh đều cần
 


được u m như nhau. Cui ng, vi cảm hứng bt nguồn tlời dy ca đức Pht dành cho thiện nam tDīghajānu người Koliya vvic m sao một người cư sĩ tại gia có thcó được đời sống an lc và hnh phúc (đời này lẫn đời sau) được ghi lại trong kinh Dīghajānu (AN 8. 54) thuộc Tăng Chi BKinh kèm theo một số bài kinh khác, ba hot động quản lý và sdụng i sản cơ bản, gm: to ra i sản, gìn gii sản và tiêu thi sản sđược bình luận và phân tích đlời Pht dy có tháp dụng cho nền kinh tế đương đại nghu đt được mục tiêu hnh phúc và an lc trong đời sống đồng thời đáp ng được yêu cu của hai chđthen chốt thuộc ki niệm phát triển bền vng được đcập trong o cáo của Ủy ban i trường và Phát triển Thế giới.
      1. TÍNH ĐC ĐÁO CA TRIT LÝ KINH TPHT GIÁO

Nhìn chung, mục tiêu chính của kinh tế, là mang lại hnh phúc và an lc cho con người ctrên phương diện cá nhân và xã hội. Tuy nhiên, theo ý kiến của Clair Brown, mục tiêu ktrên của kinh tế chính thống được dựa trên ý niệm hnh phúc thuộc chủ nghĩa hưởng lc hay niềm vui vkvi sxa lánh khđau. Đối với mỗi cá nhân, ít nht trong thời điểm hiện thời, niềm vui và cảm giác hnh phúc này được to ra thông qua vic tập trung kiếm tìm tiền bc rồi ng nó muan tiêu thụ. Thhnh phúc ngn ngủi này hết sc phù hợp vi chnghĩa vt cht, vn là định hướng mục tiêu của kinh tế chính thống (Brown, C. 2017). Tphương diện tiếp cận này, m lý người tiêu ng dường như bdẫn dt theo chiều hướng phải to ra tiền nhiều hơn, đrồi mua sắm, tiêu thụ nhiều n và shữu nhiều hơn. Tnn tảng kinh tế này, ng tham hay ham muốn của giới tiêu ng bthúc đy ngày một nhiều; ham muốn nhm đến vic shữu những đối tượng vt cht mới ng vi những hot động mới nhm tha mãn ham muốn được khuyến khích ng trưởng. Phải thừa nhn rằng, ham muốn hay ng tham là yếu tđóng vai trò quan trng trong các hot động tiêu thụ. Tuy nhiên, do xut phát tnhn thức méo mó vnhu cu thiết yếu thực
 


scủa con người ng vi shình thành và ng trưởng mỗi ngày của những ham muốn sai lc, sthống tr của chnghĩa tiêu thụ dần hình thành như là một hu qutt yếu. Bđiều khiển bởi ng tham, xã hội tiêu ng hiện tại đang bmc kt trong một vòng tròn bt tận của ham muốn và tiếp tục blèo i đđưa đến những ham muốn nhiều hơn trong khi không hề đối hoài đến vic bằng ng hay biết đủ. Theo m lý học, cơ chế mà thông quá đó người ta m cách đtha mãn những ham muốn gọi là tự đng phóng c”. Đó là một chiến lược m lý mơ h, tphát mà dù người ta có đt được mong muốn của hhay không nó vẫn xut hiện. Khi họ không thđt được những mục tiêu mà hhình dung, hquy kết những bt mãn tiếp theo cho stht bi trong vic m ra những biện pháp hiệu chỉnh, khc phục. Còn khi hthành công trong vic đt được mục đích ri, thường thì những điều này ng lại không đáp ng được những mong cu và những cảm giác khó chịu, bực bội này cũng không hề có chiều hướng thuyên giảm. Vy nên, nỗ lực đtha mãn những ham muốn không bao gimang đến cho con người stoại nguyện mà họ mong mỏi (Grof, S. 1998). Có thể kết luận rằng, hình thức kinh tế bđiều khiển bởi ham muốn này, không mang đến hnh phúc mà còn to n những hu qubt ổn cho loài người và muôn loài.

TDiệu Đế là giáo lý quan trng nền tảng nht của Pht giáo, được chính Ngài tuyên thuyết trong bài pháp đu tiên sau khi giác ng. Đó là tuyên bố về: (1) khổ (dukkha), (2) nguyên nhân của kh, (3) Niết n (Nibna) – trng ti diệt tận khthông qua striệt tiêu hoàn toàn tham, sân, si vvvà (4) phương pháp triệt tiêu hoàn toàn nguyên nhân của khsđưa đến kết qutham, sân, si vvhoàn toàn được diệt tận. Trong phm vi hai chi phn đu của TDiệu Đế được trình bày, Diệu Đế thnht tuyên brằng đời là kh. Như đức Pht đã liệt kê, hiện hữu trong kiếp sống nhân sinh là đau đớn, su bi, khưu não, gn liền vi các skin sinh, lão, bệnh, tử, n ghét mà gp g, thương yêu phải chia a, mong muốn không đt được và ngũ m hot động bt thường. Diệu Đế
 


thhai xác định rằng, nguyên nn của khlà ng tham hay ham muốn. Chúng ta đau khvì cgắng một cách vô nghĩa nhằm tha n những ham muốn cá nhân. Nibbānaṃ paramaṃ sukhaṃ
Niết-bàn lạc ti thượng (Dhp. 203) là một định nghĩa khác của Diệu Đế thứ ba được tìm thy trong Pháp Cú Kinh, còn nội dung của Diệu Đế thtư là là con đường đưa đến an lc tối thượng này. Như vy, mục tiêu tối thượng của Pht giáo là đt được hạnh phúc (được gọi là sukha trong tiếng Pāli). Theo Pht giáo, đđt được hạnh phúc thì khđau và nguyên nhân của nó phi được thu suốt rồi sau đó đon gim và diệt tận1. Cn phi u ý rng, trong Pht giáo có nhiều cấp đhạnh phúc khác nhau. Và dù có bao nhiêu cấp bậc hạnh phúc được liệt kê đi nữa, thì các thbậc này ng đều bt đu tcấp đthp nht là dục lạc (kāmasukha) hạnh phúc có được do tha n những khoái lc giác quan, và đỉnh điểm lạc diệt thtưởng (nirodha samāpattisukha) vi svắng mt hoàn toàn khđau (Kittiprapas, S. 2015). Ở đây, khái niệm dục lạc” của Pht giáo đồng nghĩa với hạnh phúc theo chnghĩa hưởng lạc” (hedonic happiness) được đcập ở trên; và mc dù được xếp là một loi hạnh phúc tuy nhiên trên thực tế nó vẫn là nguyên nhân động cơ m ng trưởng khđau. Thế nên, nó không được coi hạnh phúc thực thụ. n cạnh đó, đối với Pht giáo, dục lc cũng liên quan đến những nhu cu vt cht thiết yếu đối vi đời sống con người nhm gim thiểu những nỗi đau tgóc đvt cht mà con người phi đối diện. Sau khi những nhu cu cơ bn thiết yếu này của con người được đảm bảo, Pht giáo khuyến khích n tiếp tục đào luyn đcó thđt được những hạnh phúc cao thượng

1. Trong Pht giáo, có nhiều cấp đhạnh phúc khác nhau đối vi quá trình phát triển của con người mà ở đó mỗi cá nhân có thđược đào luyn đđt được những hạnh phúc cao thượng và thù thng hơn. Do đó, không nên xem hạnh phúc là thực thtĩnh mà phải nhìn nhn đúng đắn rằng đây là mà tiến trình sinh động xy ra trong quá trình phát triển con người. Tiến trình phát triển hạnh phúc tcấp đcơ bản n đến những cấp đcao n có thđược xem là một quá trình gim thiểu dần những khđau cho đến khi khđau hoàn toàn vắng mt và đồng thời đt được hạnh phúc và an lc tối thượng, điều được gọi là an lc hay hạnh phúc Niết-bàn (nibbānasukha).
 


hơn. Tích y i sản vt cht quá mức không đưa đến ng trưởng hnh phúc ng như chng bao giđảm bo hnh phúc này một cách vng bền. Thay vào đó, chúng m ng trưởng những phiền toái, mang đến những khđau và đánh mt dần những hnh phúc trong cuộc sống.

Có ththy rằng, ctrong giáo lý nhà Pht và nguyên lý kinh tế, ham muốn hay ng tham đóng vai trò quan trng đu mối, mà tđó nền ng cho cu trúc phân tích và giải quyết vấn đđược thiết lập. Thêm vào đó, những vấn nn liên quan đến kinh tế như khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên, mt n bằng giữa sản xut và tiêu thhay sđộc tôn của chnghĩa tiêu thngày ng xut hiện rõt, v.vs không thgiải thích một cách tận tường nếu không suy t nghiêm c đến phm trù ham muốn hnh phúc. Ở góc đnền tảng, cPht giáo và kinh tế ng thừa nhn vấn đct i liên quan đến bản cht con người và xác định tác nhân cơ bản nht đều xut phát tmỗi cá nhân, điểm khác biệt cơ bản nht đối vi kinh tế chính thống, vn chtập trung vào vic tối đa hóa lợi nhun hay lợi ích nhm tha n ham muốnnhư một triết lý ct i; thì triết lý kinh tế Pht giáo chtrương giảm thiểu hay thm chí phn đối ham muốnnhm đt được hnh phúc và an lc. Đây chính là tính độc đáo của triết lý kinh tế Pht giáo.

Kinh tế Pht giáo đxut quan điểm không m ng trưởng mà thay vào đó là gim thiểu ham muốn. Mt trong những điểm đáng chú ý của giáo lý Pht giáo đó là nhn thức ng như thực hành tri túc. Theo quan điểm của Pht giáo, hot động kinh tế cần phải được kim soát và điều tiết nhm định hướng đđt được mục tiêu thành tựu an lc hnh phúc n là có được stha mãn ti đa. mô hình kinh tế chính thống, ham muốn bt tận được kim soát bởi sthiếu thốn kinh tế, nhưng đối vi mô hình Pht giáo, ham muốn bt tận được kim soát bằng nhn thức sâu sc v stri c hay tiết chế và điều đng vi mục tiêu hnh phúc và an lc. Mt đxut cho vic tiêu thcó kim soát được m thy trong
 


bài Kinh Tri Túc (AN 4.27) thuộc Tăng Chi BKinh. Bài kinh này đcập đến vic đy đbốn n gồm: thức ăn, quần áo, chỗ ở thuốc men, có thđược xem là đáp ng đy đcho những nhu yếu cơ bản của con người. Đề xut này có thgiúp chúng ta ng suy gm vđiều gì chúng ta thực scần và điều gì đối vi chúng ta chlà mong muốn, và đôi khi, những điều chúng ta mong muốn vượt xa quá mức đối vi những thứ chúng ta thực scần. Tư duy nghiền ngm theo cách này có thđược xem là một phương pháp nhn định và điều chỉnh, kiểm soát ng ham muốn của con người. Ví d, bt ckhi nào chúng ta tiêu ththức ăn, nước uống hay điện, v.vchúng ta n dành thời gian đsuy ngm vmục đích thực scủa vic sdụng chúng, chkhông n sdụng một cách thoi mái mà không hu m hay lo lắng gì đến stn hi các nguồn i nguyên thiên nhiên. Bng cách này, chúng ta có thtránh được vic tiêu ththiếu n nhắc đồng thời hiểu được khối lượng tu thụ chính xácmà chúng ta cần. Mt cách tự nhiên, gim bớt ham muốn stkhắc loi trnhững hậu quxấu xut phát tnhững hot động kinh tế không kiểm soát ng như mang đến những lợi ích lâu bền n cho ccá nhân, cộng đồng và i trường sống.

CPht giáo và kinh tế chính thống đều thừa nhn rằng tiêu thlà một hot động thiết yếu. Tuy nhiên, đối vi kinh tế chính thống, tiêu thlà một hot động nhm tha mãn những ham muốn giác quan và mục đích của nó cũng chỉ dừng lại đó. Trong khi đó, kinh tế Pht giáo khng định rằng tiêu thchlà một phương tiện đđt đến mục đích chkhông phải là tt cả; mục đích chính của tiêu ththeo quan điểm Pht giáo là mang đến an n hnh phúc đồng thời nó chđược xem là một nc thang đđưa đến những mục tiêu cao hơn. Đối vi Pht giáo, bt khot động tiêu thnào không chđơn gin là đđt được niềm vui mà nó mang đến mà nhm có được năng lượng cvphương diện vt cht và tinh thần đphát triển trí tuvà năng lực m linh hướng đến đời sống cao thượng hơn. Đối vi Pht giáo, những hot động kinh tế cần được
 


kim soát và định hướng nhm đt được an lc hnh phúc n có được stha mãn tối đa.

Đóng góp quan trng của tugiác Pht giáo đối vi kinh tế có thđược ghi nhn thông qua nghiên cứu trên phương diện m học vng tham. Theo Pht giáo, có hai loi ng tham, hay ham muốn: (1) loi đu tiên có tên gi là taṇhā trong tiếng Pāli – là ham muốn đối vi những niềm vui, hnh phúc giác quan, những điều vn không thnào tha mãn được; (2) loi thhai có tên gi là chanda
ham muốn san lc và hnh phúc thuộc vphương diện nội tâm. Taṇhā hình thành trên n bản là vô minh và không được tđộng điều hướng nhắm ti an lc hnh phúc. Trong khi chanda dựa trên n bản là ttu. Ví d, người bdẫn dt bởi động cơ taṇhā sliên tục m kiếm cách này cách khác, hay đối tượng này đối tượng khác nhm tha mãn những ham muốn mù quáng của mình mà cthể trong trường hợp này là tha mãn những khoái lc giác quan. Tuy nhiên, nếu được định hướng bởi chanda, ng tham sđược định hướng và nhắm ti sthành tựu an lc và hnh phúc nội tâm. Trong bối cảnh kinh tế học, theo như mô tcủa Ngài Payutto, mt khi ham muốn (taṇhā) dn dt nhng quyết định kinh tế, hành vi và thái độ kinh doanh cũng có xu hướng trn thiếu hoc phi đạo đức; nhưng khi ham muốn y hướng đến an lạc và hnh phúc (chanda) dn lối cho hot đng kinh doanh, nhng hành vi kinh tế tkhc trn có đạo đức” (Payutto, A. 1998). Tu thdựa trên nền tảng chanda là quá trình sdụng của cải hàng hóa và dịch vđcó được an lc hnh phúc, trong khi tiêu thdựa trên nền tảng m lý taṇhā chnhm tha mãn những giác quan hay dục lc cá nhân mà thôi. Giá trị sản phẩm được sản xut trên nền tảngm lý chanda được xác định bởi kh năng đáp ng được nhu cu hnh phúc con người, trong khi những sản phẩm xut phát tm lý taṇhā chđóng vai trò tha mãn khoái lc, ham muốn giác quan. Có thkết luận rằng, theo quan điểm kinh tế Pht giáo, hot động tiêu thđược dẫn dt vi m lý chanda được xem là tiêu thđúng và hợp lý. Ngược lại, hot động tiêu thđược dẫn dt vi m lý taṇhā là tiêu thbt hợp lý và sai.
 


Như đã đcập, khđau xut phát tnhững trng ti m của chúng ta, vi cảm giác bt mãn bt nguồn tham muốn mỗi c một nhiều. Trên thực tế, cảm giác thiếu thốn và ham muốn ngày ng nhiều n không xut phát tng tham chữu đối với những đối tượng ngoi giới mà chúng ta vẫn luôn luôn m kiếm mà nó xut phát tsvô minh nm sâu thm trong nội m của mỗi chúng ta. Vi hai loi m lý ham muốn va u trên, đloại bkhđau xut phát tng tham liên quan đến phương diện tiêu thụ, nguyên nhân của đau khổ - taṇhā là trng ti m lý cần được chuyển hóa, thay đổi. Thay vì m lý ham muốn tha mãn ng tham (taṇhā) dẫn dt hành vi kinh tế của một cá nhân, nó nên được chuyn hóa thành m lý mong muốn hướng đến snhận thức và thực hành nhm có được hnh phúc và an lc (chanda) cho chính vy và mọi người xung quanh.

Phương pháp tiếp cận Pht giáo khuyến khích người tiêu dùng chuyn hóa ham muốn của hđthông qua vic tiêu thụ và sdụng hàng hóa dịch vngười tiêu ng có được niềm vui hnh phúc. Mt khi người tiêu ng ngày ng ít btác động bởi m lý ham muốn taṇhā, cấp đhnh phúc và niềm vui trong cuộc sống của người đó sgia ng. Điều này sdẫn đến sđánh giá đúng ng như gim bớt những nhu cu không cần thiết đối với vic tiêu thhàng hóa. Nhn thức v hai dạng m lý ham muốn theo tinh thn Pht giáo cung cấp ý tưởng cho những nhà doanh nhân trong vic gim bớt stập trung đu , cung cấp những sản phm xa xhoc không thiết yếu và chú trng n trong vic sản xut và giới thiệu ra thtrường tiêu thnhững sản phm và dịch vthiết yếu nhm thúc đy đà ng trưởng kinh tế quốc gia, giới thiệu những công nghmới nhm i to và phục hồi những thiệt hại môi trường, hỗ trngười nghèo và những mnh đời khó khăn cần sgiúp đỡ. Kết qulà kinh doanh nói chung, sẽ trở nên ít khai thác ng như hủy hoi i trường n đồng thời trn phục v nhân loi hữu ích và hiệu quhơn.
 


Nói tóm lại, ckinh tế chính thống và kinh tế Pht giáo đều chp nhn rằng ng tham không đáy là bản cht của con người. Tuy nhiên, nhn thức Pht giáo vhai loi ham muốn taṇhā chanda, smang đến khnăng tphn tỉnh, điều có thm ng tvà chm dứt trng ti nhn thức một cách mơ hhay nhầm lẫn giữa điều gì thực slợi ích và thgì tht scó hại trong ý thức và hành vi tiêu ng. Và dù cho ham muốn là bản cht chữu của con người, chúng vẫn có thể được chuyển hóa và kiểm soát bởi trí tu. Xác quyết tác nhân chính của mọi hành động đều xut phát từ mỗi cá nhân, triết lý kinh tế Pht giáo khuyến khích kh năng tự quản lý, kim soát ng như phát triển năng lực bản thân. Đây một định hướng vô cùng tích cực đối với bản năng con người ng hu m chvận mệnh của chính mình.

2. KHÁI NIM PHÁT TRIỂN THEO QUAN ĐIM PHÂN TÍCH PHT GIÁO


Thường thì quan điểm phbiến vki niệm phát triển là đt được thịnh vượng kinh tế. Dựa trên quan điểm phbiến này, s phát triển của thế giới đã và đang được dẫn dt bởi đu tàu kinh tế ng các chiến lược kinh tế vn chchú trng vào ng trưởng và gặt i thành quvt cht. Vào thời điểm hiện tại, những thành tựu vmt khoa học k thut đã dẫn đến một niềm tin không có cơ svquyn lực vô song của những thành tựu này, đồng thời hình thành n một n ng niềm tin mnh mẽ rằng chỉ có những thành tựu này là phương tiện duy nht đđt được mục tiêu phát triển xã hội. Vào thời điểm hin tại, dường như định chuẩn duy nht ng đđánh giá sphát triển là slượng hàng hóa vt cht được sản xut và tiêu thụ, và kết qusliệu Tổng sn phẩm nội địa (GDP) được xem là thước đo đ đánh giá s phát triển. Mặc dù, những thành tựu kinh tế đã to n cuộc cách mạng hóa điều kiện vt cht đối của đời sống hiện đại là điều không thphnhận, nhưng điều này tht bi trong vic đương đu vi thách thức mang tên phát triển bền vng một cách đúng đắn và ý nghĩa. Theo như
 


phát biểu của giáo sư Clair Brown, đây là thời điểm đchúng ta ng nhìn nhn lại rằng kinh tế đã dẫn dt nhn thức của chúng ta tập trung vnhững giá trvà thước đo sai lch. GDP cung cấp cho chúng ta một hình ảnh phát tho đại khái, sơ lược vtng sản phm quốc gia mà không có bt ksliên hgì đến vic chúng được phân bvà sdụng như thế nào, hoc chúng sđưa chúng ta đi đâu, vđâu trong tương lai (Brown, C. 2015). Theo nhà kinh tế Richard Welford, trong hai thp ktrlại đây, kinh tế chính thống ng vi mô hình chú trng phát triển vt cht đã được áp dụng một cách sai lch và bừa bãi đã to n nghèo đói, khđau, dẫn đến ssuy thoái giá trxã hội trong khi không có bt kỳ động thái đáng knào đxoay chuyn tình trng hủy hoi i trường vẫn đang diễn ra (Welford, R. 2013). Cn u ý rằng, trong tiến trình thành tựu phát triển, hthống kinh tế hiện tại chng my quan m đến những phương thức đúng hay sai trong quá trình sản xut, ng như những hn mức đúng – sai đối vi những sản phm được sản xut và tiêu thụ. Sxa ri khía cạnh luân lý đo đức trong quá trình phát triển dường như đã nhanh chóng dẫn dt nhân loi đối mt vi hu qutphá hủy và diệt vong ng như gây tn hại cho xã hội và môi trường.

Nhìn nhận từ một góc độ khác đối với vấn đề này, Pht giáo phân tích ki niệm phát triển vi quan điểm bao gm hai loại hình phát triển gm: vt cht và đo đức hay thế tục và m linh. Theo tinh thn Pht giáo, s phát triển chtập trung vào vt cht sẽ nguy hại đến stồn vong của xã hội, bởi nó một chiều, mt n bằng và đy hiểm ha (Abeynayake, O. 2016). Vmt kinh tế, phương pháp tiếp cận Pht giáo chtrương tập trung cho s phát triển một cách bền vng n thông qua một tiến trình phát triển gm hai phương diện: một mt phát triển những điều kiện vt cht đời sống, còn mt còn lại là nâng cao phm cht đo đức nhân sinh. Mt giải thích quan trng của Pht giáo liên hđến vấn đề này được tìm thy trong Kinh Mù a (AN 3. 29). Trong bài kinh này, đức Pht đcập đến người hai mt (dvicakkhu) xut hiện
 


đời, hạng người này ng con mt thnht của mình đto ra của cải i sản, và con mt còn lại đphát triển luân lý đo đức. Còn người không hướng m đến vic tto ra của cải i sản đồng thời không đối hoài đến phát triển đời sống đo đức được đức Pht so sánh vi khoàn toàn mù lòa. Đức Pht chra rằng, người có hai mt ti thng n người có một trong hai con mt va u trên. Nói cách khác, s phát triển không ththành tựu nếu chtập trung đề cao phát trin đo đức hay chthúc đy phát triển vt cht mà chai phương diện này đều phải được phát triển một cách song hành đcó được một cuộc sống hnh phúc, ý nghĩa.

n cạnh đó, tương tvi kinh tế chính thống vn xem vic giảm thiểu và đy i đói nghèo là một trong những mục tiêu quan trng của tiến trình phát triển kinh tế. Trong Kinh Ngo Kh(AN 6.45), đức Pht cũng tuyên bố rằng nghèo đói là đau khổ (dāliddiyaṃ bhikkhave dukkhaṃ lokasmiṃ) và chúng sanh cần phải vượt qua. Trong Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư THng (DN 26), đức Pht đã chra rằng nghèo khchính là nguyên nhân trm trng nht đưa đến bt n xã hội, và sphân biệt giàu nghèo mlối cho những sụp đvnền tảng đo đức trong xã hội. Theo bài kinh này, trm cắp, i dối và tà m xut hiện như một hquả tt yếu của nguyên nn đói nghèo. Điều này đã phô bày một cách rõ ràng chân tht những hu qunghiêm trng do đói nghèo gây trên chai phương diện cá nn và xã hội. Mong ước vmột đời sống đo đức phát triển nhằm mang lại san bình và hòa hợp sẽ mãi là vô vng đối vi một xã hội đói nghèo như bài kinh u trên đã trình bày. Như vy, theo Pht giáo, chphát triển phương diện đo đức hoặc vt cht một cách đơn l, không đđđưa đến một đời sống hnh phúc an lc, đồng thời sphát triển vmt đo đức chcó thđược thực hiện khi và chkhi xã hội đt được sphát triển vmt vt cht.
 


o cáo Tương Lai Chung của Chúng Ta1 được công bbởi Ủy ban i trường và Phát triển Thế giới vào năm 1987, đã giới thiệu một định nghĩa vphát triển bền vng, cho đến ngày nay đây một trong những định nghĩa vphát triển bền vng được công nhn rng rãi nht trên toàn thế giới.

“Phát triển bền vững là sphát triển có thđáp ng được nhng nhu cầu hiện ti mà không ảnh hưởng, tn hi đến nhng khnăng đáp ng nhu cầu của các thế htương lai. Nó bao gm hai định nghĩa ct yếu:

Khái niệm nhu cầu, đặc biệt là nhng nhu cầu thiết yếu đối với đói nghèo, đây chính là đối tượng n được ưu tn trước nht;

Ý tưởng vvic chính phban hành nhng chế tài đối với công nghcũng như tchc xã hội nhm đm bo ngun tài nguyên thiên nhiên có thđáp ng được nhng nhu cầu của xã hội hiện ti và tương lai. (UN, 1987)

Như vy, Pht giáo xem vấn đđói nghèo được đcập trên đây liên quan hết sc mt thiết đối vi ưu tiên trước nhtđược đề cập trong định nghĩa cốt yếu đu tn của khái niệm phát triển bền vng. Cùng đcập nghèo đói và khđau là những vấn đcần phải vượt qua, Pht giáo đã nhn thức tầm quan trng của của cải i sản ng như khuyến khích nhân loi to ra của cải i sản thông qua những phương thức và nghnghiệp chân chánh. Pht giáo quan niệm rng, lợi dụng ai đó vmt kinh tế, dù bng bt cứ hình thức nào đều bxem là to ra i sản phi đo đức. Mt lời khuyên được nhn mạnh trong Pht giáo đó : dù to ra của cải i sản bng bt kphương thức nào thì n bản đo đức đều phi được tuân thủ và áp dụng. “Dhammikehi dhammaladdhehi(nghkiếm sống chân chánh/ kế sinh nhai vô hại) là thành ngPāli luôn được đức Pht ng đtuyên thuyết vcách to ra của cải i sản chân chánh,

1.   o cáo Brundtland (hay còn gọi là o cáo của y ban Môi trường và Phát triển Thế giới)
 


đúng pháp. Phương kế sinh nhai đúng pháp này được đức Pht chỉ rõ trong bài kinh Dīghajānu (AN 8.54) như: thiện xo, siêng năng, cẩn trng, tư duy ng to và thành to quản lý. Theo Pht go, người Pht tn m giàu nhưng tuân thvà không phm bt k một trong năm giới pháp dành cho hàng cư sĩ tại gia, gm: cấm sát sanh, cấm trm cắp, cấm tà dâm, cấm i dối và cấm uống rượu và sdụng các cht gây nghiện. Thêm vào đó, người cư sĩ ng bnghiêm cấm hành nghliên quan đến năm lĩnh vc buôn n sau đây: vũ khí, thú và người, thịt, rượu, cht độc. Tuân thnăm điều cấm kliên quan đến năm vic kinh doanh buôn n u trên được xem là thực hành chánh mạng (sammājīva) chi phn thứ năm của Bát Thánh Đạo. Vphương diện xã hội, Pht giáo ng u m đến tầm quan trng của vic phân bi sản hợp lý trong xã hội nhm đảm bo nghèo đói không xut hiện. Pht giáo quan niệm rằng, chính phchịu trách nhiệm vvic m ra những chính sách thích hợp nghu to ra những cơ hội đồng đều cho công n của mình có thcó được sn định kinh tế đồng thời sắp xếp và phân bi sản một cách hợp lý đđảm bo khoảng cách giàu nghèo không còn nới rng thêm. Liên quan đến vấn đnày, bthí ba-la-mt (dāna ramī) được xem là một trong những phương án hữu hiệu bởi đây thực slà phương pháp tối ưu nht trong phân b, san scủa cải i sản. Trong Pht giáo, bthí (dāna) là một hành động xut phát tđộng cơ mong muốn gim thiểu đau khổ của cuộc đời được nhn thức và thực hành bởi những người có điều kin và sẵn ng chia svà cho đi. Hc giPeter Harvey nhấn mnh rằng: Hành vi đạo đức n bn mà mt Pht tcần hc tp và trau dồi đó là bt, điều này stạo n mt nền tảng vững vàng cho sphát triển vđạo đức và m linh cao thượng hơn. Lòng tbi, sđộ lượng không chđược thc hành đối với Tăng đoàn, mà nó là mt giá trlan ta rng khắp trong cng đng Pht tử.(Harvey, P. 2013). Theo đó, pháp hành này có thđược áp dụng ctrên phương diện cá nhân và xã hội; không chbởi giới vua chúa, giai cấp lãnh đo nhà nước, thương nhân, địa chnhư đã được liệt kê trong nhiều
 


bài vào thời đức Pht mà còn có được áp dụng bởi từng thành viên trong xã hội hiện tại bao gm giới đại gia, công ty, tập đoàn thương mi, chính phủ, v.v.

Đcập trong tác phm của mình, Giáo sư Oliver Abeynayake cho rằng, cgim bớt đói nghèo ng phát triển kinh tế đều phụ thuộc vào ý nguyn sống i hòa vi thiên nhiên (Abeynayake, O. 2016). n dưới i lốt phát triển vt cht đtha mãn những ham muốn vô đcủa giới tiêu thụ, nền kinh tế hiện tại cgắng thu được hiệu sut sản xut tối đa tnhng nguồn i nguyên thiên nhiên. Khốn nỗi, trên thực tế, ham muốn vô độ thì không bao giờ có thể tha mãn trong khi các nguồn i nguyên thiên nhiên thì đang đối diện vi hiểm ha ngày một khan hiếm dần. Đri, những sách lược kinh tế này đang phải gánh chịu hu qulà schìm dần trong vòng xoáy thảm ha môi trường, một vòng xoáy thại mà ở đó s thoái hóa i trường đang ng trưởng trên đà phát triển chóng mt (Kovács, G. 2014). Nếu những xu hướng này tiếp tục ng trưởng thì nghèo đói ng không thgim thiểu mà phát triển kinh tế ng không thành thành tựu. Pht giáo phn đối mnh mẽ vic khai thác các nguồn khoáng sản tnhiên một cách quá mức mà không màn ti hu quxy đến là những tn hại nghiêm trng đối vi i trường tnhiên, scạn kit những nguồn i nguyên không thi to, vn đang bkhai thác theo những chính sách của nền kinh tế chính thống đương thời. Pht giáo quan niệm rằng mọi svt hiện tượng trên thế giới này đều có sliên hcht chẽ vi nhau và con người ng không phải là những thực thtn tại độc lập. Pht giáo nhn mnh mối liên kết mt thiết của ba phạm trù trong kiếp sống nhân sinh (cá nhân, xã hội và i trường sống xung quanh) dựa trên nền tảng Giáo lý Duyên khởi. Theo đó, Pht giáo nhn mnh tầm quan trng của ý thức và tư duy thu đáo v ý thức sản xut, tiêu thng như những hot động kinh tế khác của nhân loi ngày nay ng vi hlụy lâu i của nó ảnh hưởng đến hiện tại và cthế htương lai. Bởi vì mỗi hành động đều có sức ảnh hưởng đến toàn cu và mỗi cá nhân trên thực tế ng chnm
 


trong mối liên kết mt thiết vi mọi svt hiện tượng trong đời sống (chkhông htn tại độc lập); thế n nh động khai thác quá mức các nguồn i nguyên thiên nhiên và i trường ng chính là đang tự hủy hoại chính mình. Nguyên lý đồng nht và hỗ tương của vũ trụ khơi gợi sự lưu tâm nhiều hơn đối với môi trường ng nhưng m ra những phương án hữu hiệu nht trong vic khai thác và sdụng các nguồn i nguyên thiên nhiên. Bởi vì bt k những nh động này đều scó thnhn ly những hu qubt lợi, xy đến như một phn lực mà đlớn của nó tương đương với chính những tác động mà chúng ta gây ảnh hưởng đến i trường. Ý thức bảo vi trường ng vi ng lực và n bng duy trì những giá trbền vng vn đã thm đẫm trong lời Pht dy như một hqutt yếu xy đến trong lối sống tỉnh thức theo tinh thần nhà Pht. Nhà Pht hướng đến một đời sống hòa hợp ng với những chuyn hóa đo đức nhm hướng đến một đời sống hài hòa vi i trường, an vui và ý nghĩa ngay trong kiếp sống này đồng thời bảo tn được những vn quý của thiên nhiên và i nguyên khoáng sản cho những thế htiếp nối1. Những nguyên lý đo đức thuộc Ngũ Giới (pañcasīla) ng có liên hđến vấn đbảo vmôi trường và có thkhng định như những phương pháp gìn gitrọn vn những nguồn i nguyên tnhiên cho tương lai nhân loại. Ngũ giới được xem là n bn đo đức i trường Pht giáo (Harris, I. 1994; Harvey, P. 2000).

1.     Theo Kinh Khởi Thế Nhân Bổn (DN 27), ssuy đồi những tiêu chuẩn đo đức được cho là có những tác động i hại đến trt ttnhiên và thm chí ảnh hưởng đến quy trình vận nh của mt trời, mt trăng và các tinh tú, quy lut thời tiết, khí hu và nắng a. Những u m của đức Pht vi vấn đi trường, cây ci, vườn rng được u rõ trong Kinh Trng Rng (SN 1.47); i kinh này khởi đu bằng những lời n thán nh động chăm c vườn tược, gieo trng cây rng. Theo Lut Tạng, các vT-kheo bị nghiêm cấm đốn phá cây cối vì cây cối ng được xem là những chúng sinh hữu tình. Trong Kinh Chuyn Luân Thánh Vương Sư THng (DN 26), đức Pht chtrương rằng các chính sách cng đồng cần kèm theo những quy định bo vệ môi trường. Kinh Kūadanta (DN
5) cho rằng những kế hoch quốc gia cần phải có những điều khoản vbo vcây cối ng như các loài động vt. Môi trường sống hay trú xthích hợp được xem là một trong bốn yếu tđưa đến slớn mạnh và ng thịnh i sản được nhc đến trong i kinh Bánh Xe (AN 4. 31).
 


Nhiều thp ktrước, trong tác phm Small is Beautiful, Schumacher đã đưa ra một tiên đoán mà cho đến nay nó ngày ng trn chính xác. Đó : sống vi ti đvà suy nghĩ luôn muốn lấp đy ham muốn của chính mình thông qua mục tiêu duy nht kiếm tiền hay to ra i sản, hay i ngn gọi là chnghĩa vt cht; điều này không phù hợp vi quy lut đời sống, bởi vì bản thân lối sống này mang trong mình những yếu tkhông có giới hn đáp ng, trong khi i trường thiên nhiên i lối sống đó đang hiện hữu thì lại hoàn toàn hữu hn. Đã đến lúc, i trường n tiếng báo động vi chúng ta rằng những áp lực mà nó đang gánh chịu dần trn quá sc chịu đựng (Schumacher, E.F. 1973). Theo Pht giáo, một đức tính nữa cần được gn liền vi đời sống kinh tế của một người đó là ý thức và khnăng n bằng trong cách thức tiêu ng của người đó. Hin nay, toàn cu hóa ng vi kinh tế thtrường tdo có xu hương đy mnh những ham muốn, thu t người tiêu ng vào vic mua n và shữu những sản phẩm xa xvà chmang tính cht trào u. Như phân tích của giáo sư Premasiri thì truyn thông vi những phương tiện truyn bá của mình đã đóng vai trò chđo trong vic tiêm nhiễm những giá tr vt cht vào thế htr. Và ngày ng trn khó khăn hơn, đc biệt là đối vi tầng lớp thanh thiếu niên và giới tri chung, đcó thể cưỡng lại những cám dỗ và khát khao shữu những mt hàng đang hot. Bởi dhiểu rằng, vic shữu những n đthời thượng này smang đến niềm vui và sphn khích lớn đối vi chúng. Sđam mê và ham muốn bt tận rồi sđi đến kết qulà stht vng chán nn khi chúng nhn ra rằng mình không có đđiều kin tài chính đshữu những thmà chúng ước ao (Premaseri, P. 2011). Liên hđến vấn đnày, nhn thức Pht giáo đối vi tham muốn sbình dđược phân tích ở phn trên được xem như là yếu tthen chốt đgii quyết vấn đ, bởi đây chính là đối trng tiêu biểu nht đối vi hthống kinh tế chính thống. Tâm lý học Pht giáo xác nhn rằng, không hcó đỉnh điểm của stha mãn tham muốn các khoái lc giác quan, do đó Pht giáo chtrương rằng “biết đlà i sn (gu) tối
 


thượng” (santuṭṭhi paramaṃ dhanaṃ)1. Pht giáo khuyến khích con người n bằng ng vi những nhu cu tối thiểu của mình và tránh tham nhiễm vi những đối tượng giác quan xung quanh, điều này có th đóng góp xây dựng một xã hội an lc hnh phúc thông qua vic tránh thực hiện những hành vto ra của cải i sản ng như tiêu thquá mức vn xut phát tđộng cơ ham muốn. n cạnh đó, như phát biểu của Welford, ý niệm tri c mang đến cơ hội cho những doanh nhân và kinh tế gia ý thức tập trung vào vic cung cấp những hàng hóa và dịch vthiết yếu cho thtrường đồng thời gim bớt sản xut các mt hàng không thiết yếu; thực hiện được điều này slà hành động cứu ly i trường đang trên đà thương tn và giúp đngười nghèo và những mnh đời cơ cực (Welford, R. 2006).

Nói chung, Pht giáo chtrương hai loi hình phát triển. Hay i cách khác, phát triển là một tiến trình mà ở đó cđo đức và vt cht đều phải được phát triển song hành như một quy lut bt biến. Mc tiêu an lc hnh phúc cho cá nhân, an bình và ổn định xã hội là mục tiêu mà kinh tế nhm đến. Nhưng trên thực tế, kinh tế hiện nay đang kit sc trên con đường hướng đến mục đích nêu trên. Hin tại, mt n bằng sinh ti xut phát tvic chtập trung to ra của cải vt cht mà vắng mt skim soát vmt đo đức dần trthành mối hiểm ha lớn n bao gihết đối vi thế giới. Đây là một minh chứng ng hồn cho những hlụy vvic quên ng tầm quan trng của đo đức đối vi thước đo phát triển kinh tế. Theo Pht giáo, trong thời gian phn đu nhm đt được thành tựu phát triển kinh tế bền vng nhm phục vlợi ích toàn xã hội ng như bo vthiên nhiên và bo tn sđa dạng sinh học, để có ththoát khỏi những hiểm ha cận kmà nhân loi đang phải đối diện, thì đo đức là phương diện không thvắng mt trong tiến trình này.

1.     Pháp cú 204.
 
 

3. NHỮNG PHƯƠNG ÁN GI Ý CA PHT GIÁO ĐI VI PHÁT TRIỂN KINH TBN VỮNG


Như đã đcập, mục tiêu chính của kinh tế, là mang lại hnh phúc và an lc cho con người ctrên phương diện cá nhân và xã hội. Kết hợp vi định nghĩa vphát triển bền vng được n đến n trên, tđó suy ra, mục tiêu phát triển kinh tế không chlà để đt được hnh phúc an lc mà còn đáp ng hai yêu cu ct i của định nghĩa phát triển bền vng. Tương tnhư thế, quan điểm kinh tế Pht giáo cho rằng, bt khot động kinh tế nào ng đều phải là cách thức nhm gim thiểu khđau và thành tựu an lc hnh phúc. Pht giáo ng chrõ rằng sđon trkhđau và thành tựu hnh phúc an lc không ththực hiện nếu vắng mt các hot động kinh tế liên quan đến của cải vt cht. Trong nhiều bài kinh khác nhau, đức Pht đã đưa ra nhiều lời khuyên và gợi ý khác nhau liên quan đến ba hot động quản lý của cải i sản cơ bản gm: to ra của cải, gìn giữ tài sản và tiêu thi sản. Đng thời đức Pht ng dy thông qua ba hot động cơ bản đảm bo ssung c v mt kinh tế ng như sn bằng các mối liên hhtương và phụ thuộc lẫn nhau giữa cá nhân, xã hội và i trường k trên, bằng cách nào một người có thđt được an lc hnh phúc ngay trong đời này. Li Pht dy liên hvi ba vấn đu trên có thđược xem là phương án gi ý của Pht giáo đối vi mục tiêu phát triển kinh tế bền vng.

To ra của cải:

Quá trình to ra của cải i sản bao gm tt cmọi hot động kinh tế của một cá nhân nhm to ra của cải i sản nuôi sống bản thân. Hay i cách khác, đây là đây là quá trình lao động sản xut to ra sản phẩm, dịch vvà thu được lợi tức hay của cải tđó. Pht giáo chú trng đến vic tuân thđo đức đối vi quá trình sản xut và thu được cải cải i sản bằng phương pháp chân chánh. Trong kinh Dīghajānu (AN 8.54) thuộc Tăng Chi BKinh, đức Pht đcập đến bốn yếu tđưa đến hnh phúc và an lc trong đời này. Trong
 


sđó, yếu tđu tiên là đy đstháo vác(uṭṭhānasampadā) chú trng đến cách m ra của cải. Theo đó, thiện xo và biết suy tư hiểu phương tiện va đđtmình m vic và điều khiển người khác m vic là những điều kin đưa đến thành tựu vcủa cải tài sản. Bài kinh ng đcập đến kiên nhn là một trong những yếu t cần thiết đcó thng m vic nhóm, và kiến thức đ nhận biết khối lượng công vic tồn đọng; đồng thời đây cũng được hiểu là khnăng tư duy, trình bày, tổ chức và điều hành công vic một cách hthống và hiệu qu. Knăng có thđược trau dồi thông qua vic giáo dục, đào to và đúc kết kinh nghiệm. Trong kinh Người Bn Bán (AN 3. 20), đức Pht đcập đến ba yếu tđưa đến thành công trong kinh doanh. Đó : (1) thông hiểu rõ sản phm ng như công vic của mình đcó thđưa ra giá cvà ước tính lợi nhuận thu được một cách hợp lý, (2) có khnăng điều hành công vic kinh doanh, hiểu rõ thtrường mua – n, có kh năng buôn n, tiếp thvà hiểu rõ m lý khách hàng và (3) thiết lập xếp hạng n dụng tt và to được uy n đối vi các nguồn hoc nhà đu tư i chính.

Tm vào đó, đức Pht nhn mạnh khi đcập đến yếu t đy đstháo vácrng, sthịnh vượng và sung n vtài chính phi được thành tựu thông qua nlực, siêng năng và bt hi một cách hợp pháp và đạo đức. Kng tn hi (cá nhân, các loài hữu tình và i trường sống), trung thực và đạo đức là điều luôn phi m niệm trong khi thực hành bt khình thức kinh doanh nào. Pht giáo cho rng, không có sản phm nào được tạo mà bn cht của nó là sai, thực ra, vấn đề nm ở ý niệm của người tạo ra nó, theo như Peter Harvey đcập rng (Harvey, P. 2013) … sự ctrọng tích lũy của ci có khi tnó n cha nhng hly, tuy nhn của ci tài sn tự thân nó vốn không mang ti lỗi; điều quan trọng nhất là bng cách nào nó được to ra và ri sđược sử dng như thế nào(Bhar, S. 2018). Liên hđến vấn đề này, tư duy vkhái niệm tu chun tự thânđược đcập trong kinh Nhng Người Ở Veludavā (SN 55.7), ly tthân m định chuẩn
 


đquyết định đúng hay sai được xem là gii thích cthliên quan đến phương thức tạo ra của cải i sản. Ở đây, đức Pht giải thích rng, m thế nào một người ttư duy như sau: như một người kinh si chết và khao khát được sống; ghét khmuốn vui; hong snếu bị người khác hãm hi; ng tương tvy, chán ghét ghê snhững bt hạnh tinh thn và khđau thxác. Thu rng ai ng mong muốn tthân được an n và phúc lc, người y stbỏ bt kỳ hành vi có hi nào tác động đến người khác mà tthân ng không muốn mình btác động ảnh hưởng bởi hành vi như vy. Dựa trên tu chun tự thân, một người stìm ra phương kế m giàu mà không tham gia các bt kỳ nghề nghiệp xấu xa nào gây tn hi trc tiếp hoặc gián tiếp cho người khác.

n cạnh vic m thế nào đto ra của cải i sản chân chánh, phương diện sản xut, Pht giáo đxut ba gi ý htrcho vic quyết định những gì n được áp dụng trong bối cảnh hiện tại dựa trên nhn thức sâu sc vsliên đới cht chgiữa chúng ta và các thế htương lai, Trái đt và hsinh thái. Đó : (1) sdụng các nguồn i nguyên ng như tiết kim năng lượng một cách hữu hiệu nht, (2) bằng tt c kh năng, cgắng gim thiểu cht thải xuống mức thp nht, (3) tập trung trước nht cho vic cung cấp các nhu yếu phm thiết yếu đến mọi người n trong xã hội. Ba gợi ý u trên, như được phân tích bởi Priyanut, hạng mức chi phí tối thiểu có thđto ra slượng cần thiết cho đời sống cơ bản của con người trong xã hội, tùy thuộc vào shp thụ cht thải cũng như khnăng i to của các nguồn i nguyên trong sinh quyn. Đó là khnăng lựa chọn những phương pháp hoc công nghsản xut tiêu tn chi phí thp nht trong tt cnhững slựa chọn; vic sản xut hàng hóa n được vận hành vi slượng thành phn đu vào thp nht trong stt ccác lựa chọn khthi. Xã hội n tập trung nhm đến vic sản xut những sản phm cần thiết đđáp ng nhu cu cơ bản của người n – hay còn được gọi là mức độ cần thiết cơ bản (Priyanut, P. 1997).
 


Cất givà bảo vi sản:

Sau khi nlực, siêng năng, cần mn to ra của cải, vic tiếp theo là m thế nào một người bo vcủa cải mà mình kiếm được đcó thduy và và kéo i niềm vui ng như những lời ích mà của cải i sản mang lại. Pht giáo quan niệm rằng, các pháp (mọi svt hiện tượng) đều vô thường, do đó sống trong đời sống được cu thành bởi những yếu tđiều kin liên tục thay đổi, có nhiều lý do đchuẩn bcho những hoàn cảnh bt ngkhông thlường trước. Cũng đcập đến trong kinh Dīghajānu (AN 8.54), đức Pht liệt kê những yếu tngoi tại có thảnh hưởng đến i sản cá nhân. Đó : thiên tai, lửa cháy, trm cướp, những người thừa tkhông khả ý stn hại i sản, tịch biên và cưỡng đot phi pháp bởi nhà nước. Kế đến, trong Kinh Không Con (SN 3.19) đức Pht nhấn mnh rằng sdụng i sản một cách hợp lý ng được xem là một phương pháp bo v, gìn gii sản1.

Kinh Lợi Ích Cho Gia Đình (AN 4.258) ng chra bốn phương pháp gìn gii sản thông qua vic không thực hành những lối sống không phù hợp đưa đến tiêun i sản như sau: (1)m lại những gì đã mt, (2) sa lại những i đã hư cũ, (3) ăn và uống có tiết đ, (4) đt nnhân và nam nhân có đo đức ở vtrí tối thng. Bốn điều này có ý nghĩa nền tảng đối vi cá nhân, gia đình, xã hội và quốc gia trong vic duy trì sn định vmt kinh tế. Trên thực tế, bốn phương pháp này phù hợp vi quản lý và gìn gii sản một cách n định, bền vng. Đặc biệt, hai phương pháp đu khuyên chúng ta n có trách nhiệm gìn givà bo tn đkhdụng của thiên nhiên ng như các nguồn i nguyên vcslượng và cht lượng vi skim soát bằng công nghvà kiến thức khoa học, để có thbo vthiên nhiên và các nguồn i nguyên không rơi vào
  1. Khi các i sn của mt người được thdụng cn cnh, thi vua chúa không cướp đoạt, hay trm cp không cướp đoạt, hay không blửa đt, hay không bnước cun trôi, hay không bị con cu thừa tự thù nghch cướp đoạt. Sự vic là như vậy, thưa Ði vương, các i sn nếu thdụng cn cnh, sđưa đến thhưởng, không đưa đến tổn giảm.(Tương Ưng Bộ Kinh, Chương 3: Tương Ưng Kosala, Phẩm th2, Kinh Không Con)
 


tình trng cạn kit và biến mt. Thực tế mà nói, cần nghiên cứu tìm tòi ra những phương pháp i to những nguồn i nguyên có thể i to mà chúng ta đã sdụng; đồng thời, đối vi những nguồn tài nguyên không thi to cần khám phá những m, quặng mới khai thác cũng như sử dụng chúng một cách hợp lý. Cgắng tìm ra những nguồn i nguyên đã cạn kit, i chế những sản phm đã qua sdụng ng như sa sang, bo trì những sản phm đang s dụng đkéo i tuổi thcủa nó. Nói tóm lại, sdụng tt cnhững công cvà phương thức có thđgìn gicủa cải i sản một cách hợp lý đcó thsdụng chúng lâu dài. Phương pháp thba định hình ý thức sdụng i sản một cách n định, bền vng dựa trên tính cht cần thiết mà không phải vì ng tham. Phương pháp cuối ng thực srt quan trng, bởi nó liên hđến vic giao i sản đúng người đchịu trách nhiệm cho vic chi ng i sản đó. Có một điểm thú vị ở đây đó là vai trò của người phntrong vic ct givà bo vi sản ng được Pht giáo nhn mnh1. Ở các nước Đông phương, lời dy này vô ng quan trng đối vi kinh tế gia đình bởi người vthường là người ct givà quản lý i sản trong khi người chồng là trct to ra kinh tế cho cgia đình. Nếu người vkhông khéo léo trong vic ct givà quản lý i sản, thì tải sản sdng mt mát bởi không được sdụng đúng cách, thiếu hợp lý và phung phí, v.v... Hơn nữa, gìn givà bo vi sản là một trong ba khía cạnh quản lý i sản được đức Pht nhn mnh trong Kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt (DN 31): Tài sn cần chia bốn/ Một phn mình an hưởng,/ Hai phn dành công vic,/ Phn , phn để dành,/ Phòng khó khăn hon nn. Đây là những nguyên lý vẫn còn được áp dụng trong vic quản lý i sản cho ti ngày nay. Ở đây, phn i sản cuối ng cần được chú ý u tâm. Trên thực tế, có rt nhiều khnăng xy đến những ri ro, thua l, phá sản, v.vtrong công vic m ăn, kinh tế. Thế nên, một phn i sản được gìn giữ
    1. Theo Kinh Ở Đời Này 1 (AN 8.49) đức Pht dy rng: đây, tiền bc, a go, bc và vàng người chng đem về, nnn y bo vệ, phòng hchúng, gigìn đkhi bn ăn trm, ăn cp, kung rượu, kphá hoại. Như vy, là nnn biết gigìn i sn thâu hoạch được.”
 


phòng khi bt trc cần sdụng đến là điều quan trng. Trong một i trường hợp, nó có thđược sdụng như là vn ng đi đu . Ví dmột người bt thình lình gp tai nn hay bệnh đau, không có tiền hoc của cải sẵn dành, svô ng khó khăn cho người đó đcó thchửa trbệnh tình hay vượt qua khó khăn đang phải đối din.

Theo Pht giáo, các yếu tđiều kin liên quan trc tiếp đến vic gìn givà bo vi sản là công lý. Hơn nữa, các hot động kinh tế liên quan đến phát triển kinh tế bền vng được nối kết trực tiếp với khung sườn của hệ thống công lý xã hội. Bởi vì công có tính cht quyết định không chỉ với vic gìn giữ bo vệ tài sản mà còn vun đắp cho nền tảng chính trc và công bằng xã hội, yếu t then chốt trong vic hoch định và phân bcác nguồn tài nguyên trong xã hội. Mục tiêu chính của công lý trong kinh tế Pht giáo là kim soát, gim thiểu và ngăn nga tội ác, phm pháp bt khiểm ha nào xut hiện và gia ng bởi động cơ ng tham có mt trong bt chot động kinh tế nào. Liên quan đến vấn đề này, trong Kinh Khi Thế Nhân Bn (DN 27), đức Pht chỉ ra một trong những nguyên nhân dẫn đến bt n xã hội, vn vẫn là vấn đề nan giải ngay cđến ngày nay; đó là khi bdẫn dt bởi ng tham, chúng sanh tư hữu hóa i sản công ng như tích trvà chiếm hữu một cách tiêu cực, trái đo đức, bt hợp pháp, i sản cá nhân. Hu qulà nghèo đói, tội phạm, bt n xã hội ng như mt n bằng phân phối i nguyên xy ra. Chịu trách nhiệm trước và trên hết đối vi những vấn nn xã hội này đó là nhà nước. Thế nên, ngoài vic ban hành các chính sách phù hợp đxóa đói gim nghèo ng như phát triển công nghiệp, ng nghiệp và thương mại đng trưởng kinh tế quốc gia; Pht giáo còn quan niệm rằng, nhà nước phải có nhiệm vgìn givà duy trì sn định, trt txã hội bằng những biện pháp bo đảm an ninh xã hội, ng như không cho phép những hành vi sai trái, phm tội lan tràn trong xã hội. Vai trò và chức năng của nhà nước phải được đt trên n bản công lý.
 
 

Sdụng tài sản:


Tiêu ng là hoc động quản lý i sản cuối ng sau khi to ra của ci sản đúng pháp và ct gibo vchúng một cách hợp lý. Hình mu vvic sdụng i sản do đức Pht truyn đt cho thanh niên Thi-ca-la-việt (Sila) trong Kinh Giáo thọ Thi-ca-la- việt (DN 31) được đcập ở trên dường như phù hợp vi mỗi nhân, gia đình, xã hội và quốc gia bt kthời gian và không gian địa lý. Có ba khía cạnh của vic sdụng i sản được nhn mnh, gm: tiêung, đu , và gìn giữ. Đặc biệt, ch một phn tư tài sản thu nhp được sdụng đtiêu ng, trong khi hai phn tư còn lại được ng đi đu tư và phn cuối ng, như được đcập trên, được đdành phòng khi bt trc. Ở đây, theo quan điểm Pht giáo, một người có toàn quyn tận hưởng cuộc sống hoc làm cho cuộc sống trn sung c và thoi i n nhvào sthịnh vượng vi sản, thông qua cần cù lao động, phát huy được lợi ích của i sản, được định hướng đlàm những vic phước thiện nhằm giúp đtthân, ng như gia đình, bè bạn, hhàng thân quyến, xã hội và chúng sanh (Harvey, P. 2013). Mt khác, người đó ng có thsdụng i sản cá nhân của mình đi đu tư trong một hn mức i chính nht định, nhm to thêm nhiều của cải i sản mới1. Vic tiêu ng của cải i sản phù hợp vi lời Pht dy được gọi là sng thăng bng điều hòa(samajīvita) được nhn mnh trong

1.     Trong Kinh Trở Thành Giàu (AN 5. 41) thuộc Tăng Chi Bộ Kinh, đức Pht đcập rng, ngân sách gia đình n được chia m năm phần, gm: (1) tự m mình an lạc, hoan hvà chơn cnh duy trì san lạc; làm cho mcha an lạc, hoan hvà chơn cnh duy trì san lạc; làm cho vcon, người phục vụ, các người làm công được an lạc, hoan hvà chơn cnh duy trì s an lạc, (2) làm cho bạn bè thân hu an lạc, hoan hvà chơn cnh duy trì san lạc, (3) các tai ha từ lửa, từ nước, từ vua, từ ăn trm, từ kẻ thù hay từ các người thừa tự được chặn đứng, và vị y gii sn được an toàn cho vị y, (4) thực hiện m loi hiến cúng, gm: hiến cúng cho bà con, hiến cúng cho khách, hiến cúng cho hương linh đã chết (peta), hiến cúng cho vua, hiến cúng cho chư Thn, (5) tchức scúng dường tối thượng đối với các Sa-môn, Bà-la- môn nào ly kiêu mạn, ly phóng dật, an trú nhẫn nhục, nhu hòa, nhiếp phục tmình, an tịnh tmình, làm lng dịu tmình nhằm đưa đến cnh giới chư Thn, được qudthc, đưa đến i trời. Ngài không i rng mỗi phn n chiếm tl20% i sản kiếm được mà Ngài dy rng n u p đdthảo ngân sách chi ng cho những mục đích sdụng i sản u trên.
 


kinh Dīghajānu (AN 8.54) là sthiện xo trong vic sdụng tài sản. Theo đó, ý thức vthu nhp và chi tiêu được chrõ là điều kiện tiên quyết dẫn đến một đời sống n bằng. Mt người tiêu ng tưởng là người không quá phung phí và ng không quá keo kiệt. Pht giáo khuyến nghị rằng, chi tiêu và đu tư của một người phải ít n hoc ngang bằng vi thu nhp trong một khoảng thời gian cụ thể nht định. Tiêu dùng theo triết lý kinh tế Pht giáo cũng góp phn xây dựng một ti đđo đức đối vi vic shữu i sản, đó là sbằng ng vi i sản mà mình đã dốc hết sc lao động để có được và ct gi