12. PHẬT GIÁO VÀ TRÁCH NHIỆM CHIA SẺ VÌ MỘT XÃ HỘI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Thứ sáu - 03/05/2019 05:42
Đỗ Thị Minh Thúy
- PGS. TS., Nguyên Viện Trưởng Viện Văn Hóa, Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội,.
171



 
PHT GIÁO VÀ TRÁCH NHIM CHIA S MT XÃ HỘI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Đỗ Thị Minh Thúy*





Tiếp tục truyền thống nhp thế, sự tham gia của Phật go trong đời trong hội đã thể hiện trách nhiệm chia sẻ một hội phát triển bền vững. Tuy nhiên, đời sống hội một thực thể sống động phức tạp, trong khi Phật go một tôn go những giới luật riêng, việc tìm kiếm sự tương c giữa c giá trị về một hội phát triển bền vững c giá trị Phật go tức phm vi tham gia nh c trách nhiệm chia sẻ một hội phát triển bền vững của Phật go từ góc độ n a học một vấn đề cần được nghiên cứu.
Trên sở các quan niệm về một hội phát triển bền vững đối chiếu so sánh các quan niệm nhập thế của Phật giáo, bài viết tham vọng từ góc độ nghiên cứu văn hóa học chỉ ra phạm vi tham gia gánh vác trách nhiệm chia sẻ một hội phát triển bền vững của Phật giáoViệt Nam hiện nay.
  1. QUAN ĐIỂM VỀ MỘT HỘI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Kể từ cách mạng công nghiệp đầu tiên đến nay thế giới đã trải qua hơn 300 năm phát triển với những thành tựu vượt bậc. Tuy nhiên, sự phát triển cũng để lại những hậu quả như những bất bình đẳng trong từng hội, giữa các nước trên thế giới nguy đe dọa sự tồn vong của chính loài người. Do vậy, từ những năm 70 của thế kỷ XX đã xuất hiện quan điểm phát triển bền vững. Quan điểm về phát triển bền vững đã được hoàn thiện dn theo thời gian, năm 1987, trong o cáo “Tương lai chung của chúng ta, y ban Quốc tế



*. PGS. TS., Nguyên Viện Trưởng Viện Văn Hóa, Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội,.
 


về Môi trường Phát triển lần đầu tiên đã đưa ra một định nghĩa tương đối đầy đủ về PTBV là: S phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không m tổn thương kh năng của c thế hệ tương lai trong vic tha n các nhu cu của chính h. Năm 1992, Hội nghị Liên hiệp quốc về Môi trường Phát triển (UNCED), Rio de Janeiro, Brazil đã đưa ra Tuyên bố về phát triển bền vững dựa trên các nguyên tắc bản trong đó đáng chú ý các nguyên tắc đề cao con người trong phát triển: Con người trung m của những mối quan m về sự phát triển lâu dài. Con người quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích nh mnh mnh hài hoà với thiên nhiên (Nguyên tc 1). Đặc biệt khẳng định vai trò của các chủ thể tham gia phát triển bền vững gắn liền với môi trường sống của họ bao gồm môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa - hội giải pháp cho phát triển bền vững được chỉ ra từ n hóa: “Nhân dân bn xứ những cộng đồng của họ c cộng đồng khácđịa phương vai trò quan trọng trong quản phát triển môi trường sự hiểu biết tập tục truyền thống của họ. Các quốc gia nên công nhận ủng hộ thích đáng bn sắc n a những mối quan m của họ, khiến họ tham gia hiệu quả vào việc thực hiện một sự phát triển lâu bền” (Nguyên tc 22). Cho đến Hội nghị Johannesburg năm 2002, quan điểm của Ln hiệp quốc về phát triển bền vững được bổ sung, hoàn chỉnh: “Phát triển bền vững quá trình phát triển sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển. Đó là: phát trin kinh tế, công bng xã hi và bảo vệ môi trường. C thể, phát triển bền vững về kinh tế nhm tạo ra sự thịnh vượng cho toàn hội bảo đảm quyền bản của con người như: Bình đẳng trong tiếp cận các nguồn tài nguyên, mức sống, dịch vụ y tế giáo dục; Xóa đói, giảm nghèo...; Phát triển bền vững về hội bao gồm một số nội dung chính: Phát triển nông thôn để giảm sức ép di dân vào đô thị; Nâng cao học vấn, xóa chữ; Bảo vệ đa dạng văn hóa; Bình đẳng giới, quan tâm tới nhu cầu lợi ích giới; Tăng cường sự tham gia của công chúng o c quá trình ra quyết định; Phát triển bền vững về môi trường.
Theo GS.TSKH. Trương Quang Học (2011) trong Phát triển bền vững - chiến lược phát triển tn cu thế kỷ XXI từ phát triển đến phát triển bền vững những khác biệt lớn về tiêu chí: Nếu phát triển trước kia lấy Kinh tế (xã hội) làm trụ cột; Mục đích (trung
 


tâm) hướng tới Của cải vật chất/hàng hóa; Điều kiện bản để phát triển Tài nguyên thiên nhiên; Chủ thể quản lý đơn nhất: Một chủ thể (nhà nước); Quan hệ với tự nhiên: Khai thác/cải tạo tự nhiên; Tính chất: Kinh tế truyền thống; Giới: Nam quyền thì đến phát triển bền vững lấy Hài a kinh tế-xã hội-i trường m trụ cột; Mục đích (trung tâm) hướng tới Con người; Điều kiện bản để phát triển Tài nguyên con người; Chủ thể quản lý do nhiều chủ thể cùng tham gia; Quan hệ với tự nhiên chuyển hướng tới Bảo tồn/sử dụng hợp lý tự nhiên; Tính chất: Kinh tế tri thức; Giới: Bình đẳng nam, nữ.
  1. SỰ TƯƠNG TÁC GIỮA CÁC GIÁ TRỊ VỀ MỘT HI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC GIÁ TRỊ PHT GIÁO
    1. Sự tương tác theo quan điểm của Đức Đạt Lai Lạt MaMột cái nhìn tham chiếu
S tương c giữa c giá trị về một hội phát triển bền vững các giá trị Phật giáo đã được Đức Đạt Lai Lạt Ma trong i diễn văn ti Hi ngh Liên hiệp quc về Môi trường và Phát triển (UNCED), Rio de Janeiro, Brazil, ngày 5 tháng 6 năm 1992 chỉ ra một cách giản dị súc tích: “Niềm tin bản của tôi mục đích của cuộc đời chúng ta hạnh phúc, hạnh phúc phụ thuộc vào nền tảng của chính nó. Tôi tin rng nn tảng đu tiên, hay nguyên nhân của hnh phúc cũng như sự mãn nguyện, chính sự phát triển vật chất lẫn tinh thần. Mt năm sau, năm 1993, Đức Đt Lai Lt Ma trong bài diễn văn ti lễ thần nhập tượng Đức Pht và Hi ngh Quc tế về Trách nhiệm sinh thái - Cuộc đi thoi với Pht giáo đã cho rng: Tôi nhận ra sự cấp thiết phải bảo vệ cân bằng môi trường, tin rằng nếu chúng ta hờ hững với môi trường, thế giới nói chung sẽ đau kh. c khái nim hnh phúc, đau khlà các khái nim cơ bn liên quan tới con người trong triết thuyết Phật giáo, quan điểm của Đức Đạt Lai Lạt Ma về hạnh phúc của nhân loại chỉ được dựa trên nền tảng của sự phát triển cả về vật chất lẫn tinh thần con người sẽ sống trong đau khổ nếu thiếu đi nền tảng đó trong phát triển, đã khẳng định trong quá khứ cũng như hiện tại về bản chất Phật go đồng hành với tiến trình phát triển bền vững do Ln hợp quốc phát động. Các giá trị Phật go luôn hướng tới con người, Phật go Thin tông chủ trương: “Nhân tính tự nó chính là Pht tính, Pht
 


giáo Tịnh độ chủ trương: “Việc thiện dù nhỏ đến đâu không làm cũng không được, việc ác dù nhỏ đến đâu làm cũng không được” (195) “giữ lòng từ bi bố thí (185) giúp đỡ tất cả mọi người bằng tấm lòng thuần khiết, Phật giáo tự thân đã mối liên thông tương tác mạnh mẽ với các giá trị định tính về một hội phát triển bền vững đã dntrên.
    1. Văn hóa Phật giáo trong mối tương tác các giá trị văn hóa dân tc nhìn từ lịch sViệt Nam
Một câu hỏi đặt ra Phật giáo giữ vai trò, vị trí như thế nào trong kiến tạo nền tảng vật chất tinh thần của đời sống hội Việt Nam trong lịch sử. Câu trả lời cần tìm trong cấu trúc văn hóa Phật giáo một thành tố.
Trước hết, Pht giáo là một tnh tố của nn văn hóa dân tộc Việt Nam, Phật giáo ảnh hưởng tới hội qua hệ thống giáo lý – hệ tưởng, nghi lễ của mình. Thứ hai, Phật giáo một tố chức giáo hội tồn tại vớich một thực thể hội, nh hưởng tới hội qua các hành xử của tín đồ (bao gồm cả các chức sắc) qua các thiết chế văn hóa sở thờ tự của mình. Như vậy, một mặt Phật giáo một chủ thể hội, giữ vai trò chủ động trong lựa chọn cách thức tham gia vào quá trình phát triển bền vững thiết lập nền tảng vật chất. Mặt khác Phật giáo một bộ phận của văn hóa dân tộc góp phần thiết lập nền tảng tinh thần của hội. Đây hai sở chỉ ra phm vi tham gia nh c trách nhiệm chia sẻ một hội phát triển bền vững của Phật goViệt Nam trong lịch sử hiện tại.
Văn hóa được hình thành cùng với lịch sử hình thành quốc gia, dân tộc, theo thời gian được lưu giữ trao truyền kết thành truyền thống văn hóa cốt lõi bản sắc văn hóa cùng hệ giá trị của . Thông qua hệ giá trị của mình, n a đưa ra chuẩn mực chung giúp hội duy trì trạng thái cân bằng. GS. N Đức Thịnh (2013:15-
16) cho rằng: G trị, giá trị văn hóa một hình thái của đời sống tinh thần,phản ánh kết tinh đời sống văn hóa vật chất tinh thần của con người. G trị trước nhất hệ thống những đánh giá mang tính chủ quan của con người về tự nhiên, hội, giá trị văn hóa do vậy gắnmật thiết với hoạt động sống của con người, sự tồn tại phát triển của mỗi hội. G trị văn hóa của mỗi cộng đồng (tộc người, quốc gia…) luôn một hệ thống, với ý nghĩa
 


các giá trị ấy nảy sinh, tồn tại trong mối liên hệ, tác động hữu với nhau. Trong đời sng văn hóa dân tộc các giá trvăn hóa Pht giáo đã được định hình vận hành theo quy luật như vậy.
Phật tử tự hào: “Danh giáo ba, đạo Phật một” (Bia chùa Càn An) tức trong ba Đạo thịnh hànhnước ta trong lịch sử Phật, Đạo, Nho thì đạo Phật đứng đầu. Đạo Phật thời tự chủ được xem như quốc giáo trước hết từ sự dấn thân của các vị cao tăng đạo đời, tạo ra tiến trình gắn hoạt động tôn giáo với hoạt động chính trị hội, gắn ý thức dân tộc với ý thức Phật giáo. Đó chính tinh thn nhp thế, gắn đo với đời với quan niệm “Phật pháp bất ly thế gian.
Quan niệm nhập thế nằm ngay trong giáo lý của Phật giáo. Phật giáo quan niệm “đất phúc tám” (Tuyển tập văn bia Hà Nội (1978:29) tám miền đất nơi nhân gian người tu hành cùng thiện nam, tín nữ cần dốc lòng, dốc sức để làm những việc tốt lành của cả đo đời:
Thứ nhất: Cung kính Tam bảo (kính thờ Tam bảo) Th hai: Quảng nghĩa lộ khai (mở rộng đường nghĩa)
Th ba: Đạt đo kiều lương (bc cầu cống cho thông đường) Th tư: Bình trị hiểm ách (san bng hiểm nghèo)
Th năm: Hiếu dưỡng phụ mẫu (phụng dưỡng cha mẹ) Th u: Cấp sự bệnh nhân (giúp người đau ốm)
Th bảy: Cứu tế vạn nhân (cứu giúp vạn người) Thứ tám: Thiết già hội (mở hội đàn chay).
Với quan niệm như vậy, việc dấn thân hành đạo của các tăng lữ Phật giáo trong nhân gian mạnh mẽ không thua kém với quan niệm người quân thành đo ca Nho giáo: Tgia, trquốc bình thiên h.
Văn hóa của một tộc người hay của một dân tộc bất kỳ, nhìn một cách tổng quát bao gồm văn hóa vật chất văn hóa tinh thần. Truyn bá, phát trin ở Vit Nam hơn 2000 m, Pht giáo có vai trò hết sức to lớn đóng góp vào hai nền tảng trên. Đã nhiều công trình nghiên cứu trong ngoài nước đề cập đến vấn đề này. Với khuôn khổ của bài viết chúng tôi chỉ đề cập đến một nội dung của
 


văn hóa Phật giáo trong mối tương tác các giá trị văn hóa dân tộc nhìn từ lịch sử đó Ngôi chùa. Chùa một thiết chế văn hóa sở phổ biến của văn hóa truyền thống Việt, hàm chứa các giá trị văn hóa vật thể (kiến trúc, điêu khắc, mỹ thuật…) phi vật thể (các sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo…). Mỗi làng quê đất Việt từ Bắc vào Nam thông thường đều một ngôi chùa để trở thành chùa làng. Ngôi chùa đã đi vào trong tâm thức người dân Việt: Chùa bùa làng; Đất Vua, chùa làng, phong cảnh Bụt/Phật; Mái chùa che chở hồn dân tộc/nếp sống bao đời của tổ tiên
Chùa sở thờ tự của đạo Phật, đồng thời còn trung tâm sinh hoạt của tín ngưỡng dân gian, nơi ng mở hội trao truyền, khai phóng những giá trị văn hóa cộng đồng. Tính dân gian của Phật giáo thể hiện qua đối tượng thờ trong các ngôi chùa, chùa không chỉ thờ Pht. Mô hình tin Pht, hu Tnh, tin Pht, hu Thần phổ biến nhiều ngôi chùa Bắc tông/ Bắc truyền. Các vị thánh, thần được thờ ở chùa thể nhiên thần, nhân thần, hầu hết các chùa miền Bắc đều lập ban thờ Mẫu. Ngoài ra chùa nào cũng ban thờ T. Thờ cúng tưởng nhớ các vị tiền bối ở chùa, một biểu hiện của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên truyền thống của người Việt. Đặc biệt thờ Hậu, đưa vong lên chùa khiến một số lượng lớn người bình dân được thờ cúng trong chùa đưa ngôi chùa xích lại gần hơn đời sống thường nhật của cộng đồng.
Tính dân gian của Phật giáo còn bộc lộ trong nghi lễ thờ cúng thực hành trong các ngôi chùa, sự dung hợp giữa giáoPhật go tín ngưỡng thờ cúng t tiên - một loại hình trong tín ngưỡng dân gian qua ngày lễ Vu lan. L Vu lan một nghi lễ Phật giáo nhằm phổ độ chúng sinh, cứu vớt các linh hồn lầm lỗi, lấy từ bi để phá ngc. Trong tín ngưỡng dân gian, lễ Vu Lan được gi là tết Trung nguyên, dân gian lưu truyền đây ngày duy nhất trong năm âm phủ mở ngục tội vong nhân, ngày nhà nhà đốt vàng cúng tổ tiên, đồng thời làm phúc cúng các vong hồn quả. Cách hiểu mộc mc của tín ngưỡng dân gian về ngày lễ Vu lan đã góp phn đưa nghi lễ của Phật go ăn sâu trong đời sống m linh của người dân trên mọi vùng miền, tạo n lối sống hiếu nghĩa trong n a Việt.
Tính dân gian của Phật giáo còn thể hiện qua việc thực hiện các nghi lễ của tín ngưỡng dân gian như trong lễ cầu an, cầu siêu trong c ngôi chùa.
 


Lễ cầu an: Vào dịp đầu năm trước rằm tháng giêng, hầu hết các ngôi chùa Hà Nội đều tổ chức lễ cầu an. L cầu an thực hành nghi lễ tụng kinh niệm Phật, dâng sớ (ghi tên tuổi các thành viên trong gia đình) cầu bình an cho mỗi gia đình trong một năm.
Lcầusiêu: Nếu như nghi lễ cầu an dành cho người sống thì nghi lễ cầu siêu dành cho người qua đời. Cầu siêu cầu nguyện cho thn thức người m chung hay người thân quá cố được ng suốt, nghe kinh, niệm Phật, cảm thông pháp thoại với lời tụng niệm của chư tăng, đo hữu người thân người ra đi mà tái tạo phước dun, thành khẩn nguyện cầu chư Phật phóng quang tiếp dẫn về An lạc quốc của Đức Phật A Di Đà Tây phương thánh chúng. Đi vào dân gian, nghi thức cầu siêu còn được các Tăng, Ni cử hành tại gia đình riêng khi đám giỗ, đặt bát hương khi về nhà mới, hoặc nhân một sự kiện nào đó người dân nhu cầu. Đó bởi quan niệm Phật giáo cũng như quan niệm dân gian cùng cho rằng con người chết chưa phải hết. Con người chuyển sang một thế giới khác hoc thể thoát kiếp luân hồi, hay tiếp tục luân hồi, hay bị đày trong c tầng địa ngục.
Trong nhiu thế k, trước khi làng xã có ngôi đình, hu như tn bộ đời sống tâm linh của làng thuộc về chùa làng. Mỗi khi dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn các nhà kiêm pháp cầu đảo giải trừ tai ách, mong cho mưa thuận gió hòa, phong đăng hòa cốc. Dưới thời Trn, các vua Trn vn cho mời các nhà sư đo hạnh về triu thực hành cầu đảo. Do sự biến động của hội, nhà Lê thay thế nhà Trn, Nho giáo trở tnh hệ tư tưởng chính thống của vương triu, ngôi đình xuất hiện đảm nhận vai trò của ngôi chùa, nghi lễ cầu đảo được chuyển về đình làng. Mặcvậy, trong dân gian vẫn lưu truyn chùa là bùa làng. Đó là bởi Pht giáo Vit Nam kng chỉ Thiền tông, Tịnh độ tông ngay từ thời gian đầu truyền nhập vào Việt Nam, Phật giáo Việt Nam đã đã tiếp nhận yếu tố Mật tông.
Mật tông/Mật giáo bắt nguồn từ tưởng thâm sâu của Bát Nhã, cũng bắt nguồn từ những tín ngưỡng nhân gian Ấn Đ. Mật giáo chp nhn sự mặt của những thn linh được phụng thờ trong dân gian. Và như thế khiến cho Phật giáo phát triển rất rộng trong sinh hoạt quần chúng với sinh hoạt tín ngưỡng phong tục Việt Nam (Nguyễn Lang, 2012:63).
Vai trò của ngôi chùa tăng lên khi hội Việt sự chuyển mình
 


o đầu thế kỷ XX, đc biệt trước quá trình đô thị a ng trở thành phố, dân ng gốc bị xáo trộn dn đến việc nhiều ngôi đình bị giải hạ, bị chuyển đổi chức năng thờ cúng tại Hà Nội. Ngôi chùa trước thách thức của lịch sử luôn thiết chế n am linh bền vững, giữ một vai trò đc biệt trong đời sống n a của người Việt.
Ngoài cầu an, cầu siêu, cầu đảo, cùng với thời gian, các sinh hoạt văn hóa diễn ra trong ngôi chùa Phật giáo gắn với tín ngưỡng dân gian còn phải kể đến các nghi lễ như: Cúng sao giải hạn, L bán khoán đội bát nhang/hương, lễ cắt giải/cắt kết tiền duyên, lễ tạ mộ. Đó những nghi lễ gắn chặt với nhân quần, đáp ứng từng nhu cầu cụ thể trong đời sống sinh hoạt của con người.
Hội chùa gắn với hội làng, góp phần tạo nên văn hóa làng: L hội chùa Thầy (Hà Nội) sản sinh ra múa rối nước. L hội chùa Đại Bi (Nam Định) sản sinh ra trò múa rối cạn. Mỗi trò múa rối lại đều được gắn với các làn điệu chèo, một loại hình dân ca vùng đồng bằng Bắc bộ. L hội Phật giáocác chùa Nam tông Khmer gắn với các lễ hội của tộc người Khmer miền Tây Nam bộ như lễ hội Chol chhnăm thmây (vào năm mới). L hội Ok om bok (lễ cúng trăng) gắn liền với hội Đua ghe Ngo.
Phật giáo không chỉ tạo nên lễ hội làng còn tạo nên lễ hội vùng (liên làng) lễ hội mang tính quốc gia như lễ hội Chùa Hương (Hà Nội), L hội Yên T (Quảng Ninh).
Như vậy, lễ hội chùa một thành phần của lễ hội làng/ lễ hội truyền thng.đó những giá trị văn a mà lễ hội chùa đem lại tương c với những giá trị văn a của lễ hội dân gian truyền thống. Những giá trị đó cộng hưởng, cộng sinh, khế hợp với nhau, không ít giá trị thật k bóc ch, thật k truy nguyên đâu Phật giáo đâu dân gian.
    1. Bảo tn, phát huy phát triển văn hóa Mối tương tác giá trị văn hóa Phật giáo với văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới
Văn hóa là động lực phát trin của xã hội. Trong bi cnh toàn cầu hóa, hiện đại hóa, giữa một thế giới biến động, như trên đã dẫn Ln hợp quốc đã đưa ra một trong c ngun tắc định hướng phát triển bền vững: Nn dân bản xứ và những cộng đồng của họ và các cộng đồng khác địa phươngvai trò quan trng trong qun và phát triển i trườngsự hiểu biết và tập tục truyền thống của họ. c
 


quc gia nên công nhận và ủng hộ thích đáng bản sắc văn hoá và những mi quan tâm của họ, khiến họ tham gia có hiệu qu vào việc thực hiện mt sự pt triển lâu bền”. Văn hóa mang tính lịch sử giữ vai trò quan trọng trong điều tiết hội. H giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam bao hàm những giá trị văn hóa được hình thành trong hội tiền công nghiệp đã thích ứng, biến đổi như thế nào trước tác động của toàn cầu hóa. G trị của văn hóa Phật giáo thuộc về bản sắc dân tộc, nằm trong giá trị Phương Đông tương phản giá trị Phương Tây. Văn hóa Phật giáo với các giá trị của mình bất biến trong một hội được định hướng phát triển hiện đại a?
Vn đề bảo tồn, hội nhập phát triển văn hóa trong thực tiễn luôn một bài toán phải lời giải. Nếu chỉ sống quá khứ thì một tộc người, một quốc gia sẽ trở nên lạc hậu, nguy thoái hóa. Nhưng lịch sử cũng như hiện tại cũng cho thấy những tộc người, quốc gia bị đồng hóa trong tiếp xúc, cưỡng bức văn hóa khi đánh mất bản sắc văn hóa của mình. Vì vậy, trong phát triển hiện nay, hình thành nên quan điểm hội nhập tôn trọng đa văn hóa. Nói đến văn hóa nói đến phát triển. Ở đây cần được nhận diện hai chiều cạnh: 1) Văn hóa động lực phát triển hội; 2) Phát triển nhu cầu tự thân của văn hóa. Như vậy, bảo tồn, phát huy phát triển quan hệ hữu cơ, mật thiết với nhau trong hội hiện đại, giữ gìn bản sắc trong mỗi nền văn hóa để hòa nhập không a tan, bo lưu mà không bo thủ, lạc hậu để phát triển.
Nguyễn Anh Tuấn, Annuska Derks (2013: 20) dẫn: “Nhiều thuyết gia từ nửa cuối thế kỷ XX (Riesman, Lasch, Sennett, Putnam Furedi) đã đưa ra nhữngtả tương tự nhau về sự ảm đạm của tính chất/sự hiện đại, cảnh báo chúng ta về những hậu quả tâm thảm khốc của việc mất đi các truyền thống những điều chắc chắn xưa cũ; chuyển chúng ta theo một định hướng khác, tức thành những con người bị phân mảnh, dụng, bị ám ảnhnhân, điều này dẫn đến một cộng đồng, cố kết hội lòng tin bị xói n. May (2011: 364, 365) cho rng quá khứ được đc trưng bởi sự ổn định, với cấu trúc hội được nhận biết một cách ràng. Ngược lại, hiện tại được cho liên tục bị thay đổi, liên tục bị đảo lộn, thiếu an ninh sự chc chn.
S phát triển văn hóa tại mỗi quốc gia hiện đang diễn ra đồng thời hai xu hướng đề cao bản sắc văn hóa hội nhập văn hóa: 1)
 


Trước thực tin nhiu quốc gia, dân tộc, bước vào thế giới hin đi, thoát được nghèo nàn lạc hậu nhờ tiếp thu văn minh phương Tây. Nhưng cùng với sự hiện đại hóa, công nghiệp hóa theo mẫu mực phương Tây nh hưởng của lối sống phương Tây, dn đến những đảo lộn trong hội nhiều khi cái giá phải trả cho phát triển quá đắt. Việc cắt đứt mối liên hệ với quá khứ, quay lưng lại với văn hóa dân tộc gây nên sốc văn hóa điều này biểu hiện rất qua việc một cá nhân nào đó chuyển đến sống ở vùng địakhác biệt với đất nước của họ cũng hiện tượng diễn ra đối với cả một cộng đồng hội hay dân tộc. Nhiều vấn đề nan giải đang đặt ra trong hội của các nước đang phát triển cho thấy sự áp đặt mô hình hội phương Tây đã không phát huy được tác dụng thúc đẩy phát triển hội. Hơn nữa, ngay tại c nước phát triển khi sự thỏa mãn về nhu cầu vật chất đạt tới giới hạn, đã nảy sinh nhu cầu tìm kiếm ý nghĩa bên trong - những thỏa mãn về tinh thần đòi hỏi giải thích ở mức độ cao hơn về mục đích sống của con người. Đ giải quyết những vấn đề của hội hiện đại một trong những lối thoát từ văn hóa. Nhn mnh vị trí, vai trò của n a trong phát triển, ông Federico Mayor Zaragoza Tng giám đốc UNESCO (1992:23) khẳng định: “H nước nào tự đặt cho mình mục tiêu tăng trưởng kinh tế tách rời môi trường văn hóa thì nhất định sẽ xảy ra những mất cân đối nghiêm trọng về cả mặt kinh tế lẫn văn hóa, tiềm năng sáng tạo của nước ấy sẽ bị suy yếu đi rất nhiều Vì vậy, phân tích đến cùng, c trọng m, c động cơ mục đích của sự phát triển phải được tìm trong văn hóa”; 2) Hội nhập văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa đã đem đến sự phát triển các giá trị văn hóa mới cho văn hóa mỗi dân tộc. Các giá trị văn hóa toàn cầu được tất cả các dân tộc trên thế giới chia sẻ, mặcvậy, sự tiếp nhận, tiếp biến thúc đẩy phát triển không giống nhaucác nền văn hóa khác nhau. Lý giải sự khác biệt này, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng khuynh hướng phát triển mỗi dân tộc đã được mc định bởi truyền thống n a dân tộc đó. Thực chất của vấn đề phát triển bền vững tại mỗi quốc gia chính phải dựa trên nền tảng n a truyền thống. E. Picard (1994) cho rằng: “Mối quan tâm lớn của những hội đương thời việc giữ gìn những nét độc đáo trong bản sắc văn hóa của dân tộc mình ngăn chặn sự xói mòn những giá trị văn hóa do sự biến đổi của thị hiếu và li sng nh hưởng của người nước ngoài , mà ở đó bn sắc n a với hệ giá trị đóng vai trò hệ điều chỉnh nội sinh:
 


thể hiện chủ yếu ở tính khuynh hướng, ch thức tiếp nhn ng tạo các giá trị văn hóa mới trong quá trình giao lưu quốc tế; 3) Văn hóa gắn với các điều kiện kinh tế hội nhất định, sự biến đổi của sở kinh tế kéo theo sự biến đổi của văn hóa, trong khi bản sắc n a dường như vượt n mọi thời đại, được duy trì lưu giữ trong ng dân tc. Trong các nghiên cứu của văn hóa học đang tồn tại hai quan điểm về bản sắc văn hóa: quan điểm thứ nhất coi bản sắc văn hóa các giá trị văn hóa truyền thống của một chủ thể dân tộc đạt được trong lịch sử phát triển của mình; quan điểm thứ hai coi bản sắc văn hóa kiểu quan hệ, bản sắc văn hóa dân tộc tổng hòa các khuynh hướng cơ bn trong ng tạo n a của dân tộc, vốn được hình thành trong mối liên hệ thường xuyên với điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên, c thể chế. Bn sắc n a còn mối liên hệ thường xuyên, định hướng của cái riêng (văn hóa khu vực, văn hóa nhân loại)... Hai quan điểm trên bổ sung cho nhau trong một cái nhìn toàn diện về bản sắc văn hóa, trong khi quan niệm bản sắc n a mối liên hệ quan hệ thường xun định hướng của cái riêng đã thừa nhn giá trị” n a truyền thống được thể hiện cái riêng. Vgiá trvăn hóa cn phải thy rng có nhng giá tr n a nhất thời do điều kiện kinh tế đưa lại, n cạnh đó những giá trị n a bền vững gắn với bn chất con người mà một s điểm n bn của bn chất con người không thay đổi trên cơ sở tộc người. Như vậy, bản sắc văn hóa một hệ điều chỉnh nội sinh chỉ khi gắn trực tiếp với chủ thể ng tạo1. Trên phương diện chủ thể n hóa,


1. Khái niệm bản sắc (Nguyễn Anh Tuấn, Annuska Derks, 2013: 18): Trong hội học nhân học hội, khái niệm bản sắc được dùng để chỉ sự tương đồng/ giống nhau của cá nhân với những người khác, đó ý thức về việc chia sẻ những đc điểm nào đó (chẳng hn một ngôn ngữ, một nền văn hóa, một tổ tiên chung, một không gian chung…) trong một nhóm người. Ý thức này tạo nên bản sắc nhóm (Sokefeld, 1999: 417). Điều này dựa trên quan niệm [của những người theo khuynh hướng bản chất luận] về bản sắc tập thể, nhìn một điều/ sự vật cụ thể trong trạng thái cố định dựa trên c tiêu chuẩn khách quan. Vì vậy, khi được dùng để chỉ sự đồng nhất về bản chất nhân hay sự tương đồng/giống nhau với người khác, bản sắc - về bản - được coi đơn nhất ổn định (Sokefeld, 1999: 417).
“Quan niệm như vậy về bản sắc đã bị thay đổi bởi những người theo quan điểm hậu giải cấu trúc hậu cấu trúc (poststructuralism deconstruction). Các nhà khoa học hội hiện nay không coi bản sắc mang tính đơn nhất coi bản sắc mang tính đa chiều. H không tập trung đc biệt o sự tương đồng được chia sẻ (shared sameness) mà tập trung o sự khác biệt, hoc những chiều cạnh tương phản của bản sắc; đó những ranh giới tạo nên ý thức thuộc về một nhóm/ một tập thể (belonging), ý thức về bản sắc - thông qua những dấu hiệu giống nhau khác biệt đối với người khác (Cohen, 1985: 53). Quan trọng là, bản sắc không được coi
 


bn sắc n a thể hiện thành hệ giá trị n hóa, như một động lực n trong quá trình sống tự gc của hai mối quan hệ cơ bn quan hệ giữa con người với tự nhiên giữa con người với con người.
Văn hóa Việt bắt nguồn từ nền văn minh nông nghiệp lúa nước, người nông dân Việt trú trong c ng quê từ thế hệ này đến thế hệ khác nối tiếp nhau, bằng lao động cầnđã sáng tạo nên văn a làng, xây đp nền n a dân tộc. Làng nơi lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đô thị hóa việc chuyển đổi từ hội nông nghiệp - nông thôn - nông dân truyền thống sang kiểu hội nông nghiệp - nông thôn - nông dân hiện nay, dưới sự tác động của phân hóa - phân tầng hội theo chế thị trường, đã xuất hiện khong ch giữa n a cổ truyền n a đương đại.
Trong điu kin như vy, Pht giáo với tư cách là một tôn giáo dân tộc đã đang góp phần hết sức quan trọng vào việc bảo tồn, nền tảng để n a dân tộc hội nhp phát triển. V phương diện thuyết đó tinh thn ng suốt “Khế , khế cơ” trong go lý Đức Pht. Đó còn là Tùy duyên phương tin, Tùy duyên bt biến. Diễn văn khai mạc Đại hội của Hòa thượng Chủ tịch Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam kỳ II tại Hà Nội phần nội dung làm sáng tỏ giáo lý “Khế , khế cơ” của Phật giáo Việt Nam: “Tinh thần “Khế , khế cơ” của Giáo lý Đức Phật cũng một trong những yếu tố quan trọng hướng dẫn chúng ta trong sự thành lập điều hành của Giáo hội. Tinh thần “Khế lý” dạy chúng ta phải nắm vững chân , quy luật của muôn đời của trụ nhân sinh. Tinh thần “Khế cơ” dạy chúng ta phải biết vận dụng chânấy cho thích hợp với tâm , căn cơ, hoàn cảnh thời đại đang sống. Nhờ giáoy, ngày xưa, đo Phật đã nhp o châu Á một ch a bình, không va chm với c tín ngưỡng bn địa, nhiều nơi, đã phát triển mnh mẽ trở thành quốc giáo” (Giáo hội Phật giáo Việt Nam, 2012: 85). Nếu như giáo“khế , khế cơ” của đạo Phật tạo cho Phật giáo Việt Nam biết khế hợp với hội thời cuộc thì tinh thần Tùy dun bất biến (phù hợp, thuận theo hoàn cảnh nhưng vẫn giữ gia


thứ cố định, tính kiến tạo về mặt hội - như những thứ được khuôn đúc ra, được (tái) thêu dệt nên được vận động trong các quan hệ hội hiện tồn, các hệ thống văn hóa, các trung m quyền lực (Cerulo, 1997: 387).”
 


pháp của đạo Phật) đã soi đẫn Phật giáo Việt Nam phải biết giữ gìn, bảo lưu căn tính của Phật giáo. Với cách nhìn như vậy, thể lý giải trong thời kỳ mới Việt Nam mở cửa, hội nhập với Quốc tế hiện nay đang bước o thời kỳ ch mng công nghiệp 4.0 n a Phật giáo Việt Nam hoàn toàn thể thích ứng để phát triển.
Tr lại với ngôi chùa - sở thờ tự của Phật giáo, trong hội đương đại ngôi chùa được đánh giá tương đồng với một thiết chế văn hóa của cộng đồng (được định tính bởi các yếu tố xác định gồm: sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí). Ngôi chùa cổ truyền một thiết chế văn hóa đặc biệt: Có sở vật chất kiến trúc cổ tự bao chứa các di vật, cổ vật, bo vật; Được quản lý bởi một vị trụ trì, trực thuộc Go hội Phật giáo; Các hoạt động tuân thủ hiến chương Giáo hội pháp luật của Nhà nước, dựa trên nguồn kinh phí đóng góp của các tín đồ, khách thập phương. Là một thiết chế văn hóa của cộng đồng đang nhiều biến động trước tác động của Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa, Đô thị hóa trong bối cảnh Hội nhập thế giới, ngôi chùa đang phải đối mặt với các vấn đề của hội hiện đại: vấn đề giữa bảo tồn phát triển, phát triển bền vững, một mặt duy trì các giá trị văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể truyền thống, mặt khác cần sáng tạo các giá trị văn hóa mới đáp ứng những nhu cầu mới của hội. Việc biến ngôi chùa trở thành biểu tượng của sự đổi mới, sự thích ứng của Phật giáo trong tiến trình chuyển mình của đất nước, hội nhập thế giới một nỗ lực của các vị tăng ni trụ trì. Chưa điều kiện để thống đầy đủ, nhưng từ Đổi mới đến nay đã hàng vạn ngôi chùa được trùng tu, tôn tạo, mở rộng hay xây mới. Đã xuất hiện những lề hội chùa với quy mô vùng, miền thậm chí cả nước như lễ hi chùa Bái Đính (Ninh Bình), Thin vin Trúc Lâm, Tây Thiên (Vĩnh P), lễ hội chùa Đại Tuệ (Nghệ An)… Nhiều ngôi chùa tổ chức c ka tu, đo tràng truyền giáo dục tưởng Phật giáo, thực hành Th n, tụng kinh, niệm Phật… Việc thu hút một lượng lớn tín đồ những người cảm tình với đo Phật, trong điều kiện của một nền kinh tế thị trường đymayri, spntngxã hội màkhong cách giàu nghèo ngày một lớn trong hội đã khẳng định vị trí, vai trò thiết yếu của ngôi chùa trong đời sống m linh của đông đo người dân Việt.
Tuy nhiên, Phật giáo Việt Nam trách nhiệm chia sẻ một hội phát triển bền vững trên tinh thn của Ln hợp quốc: “S phát
 


triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không m tổn thương khả năng của các thế hệ tương lai trong việc thỏa mãn các nhu cầu của chính họ” nhìn từ quan điểm bảo tồn di sản - bảo tồn di sản để con cháu được chiêm ngưỡng di sản của cha ông, bảo tồn để thể giới thiệu với thế giới các di tích được hình thành trong quá khứ, kết tinh của từng thời kỳ lịch sử phát triển của dân tộc cũng bảo tồn bản sắc văn hóa từ các giá tri văn hóa vật thể, phi vật thể ngôi chùa đại diện. Cần biện pháp liên thông giữa quan quản Nhà nước về Di sản văn hóa Giáo hội Phật giáo tránh để xảy ra các trường hợp đáng tiếc dẫn đến xâm hại di tích như việc giải hạ chùa Trăm Gian (Chương M, Hà Nội), chùa Bồ Đà (Việt Yên, Bắc Giang). Nhìn tổng thể, việc trùng tu, tôn tạo di sản văn hóa của Phật giáo các ngôi chùa đã đã được xếp hạng di tích, cần quán triệt sâu sắc quan điểm của UNESCO (VTV1:23/11/2018 ngày Di sản văn hóa): “Bảo tồn không nghĩa đóng kín di sản trong lồng kính, cần làm lan tỏa phát huy giá trị trong đời sống hiện tại, chính cộng đồng được hưởng từ chính di sản trong sự phát trin bn vng. Giá trvăn hóa được bảo đm bng lịch slà cơ sở đưa các ngôi chùa – di sản văn hóa trở thành nguồn lực kinh tế trong phát triển du lịch m linh, để ri quay trở lại hỗ trợ c nhiệm vụ từ thiện, giáo dục của Giáo hội Phật giáo.
***
Trở tnh một tôn giáo của dân tc, “Phục vdân tộc và T quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa” (Hiến chương 1981), Phật giáo Việt Nam luôn “hòa mình trong dân tộc” tham gia nh c trách nhiệm chia sẻ một hội Việt Nam phát triển bền vững trong thời kỳ mới của đt nước. Trong suốt quá trình đồng hành cùng dân tộc, Phật giáo Việt Nam chủ thể sáng tạo của các giá trị văn hóa Phật giáo trở thành nền tảng cho văn hóa dân tộc (thể hiện nhất thời kỳ Đại Việt: Đinh, Lê, Lý, Trn) không ít giá trị văn hóa Việt ở đó chứa đựng hàm lượng văn hóa Phật giáo. Giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa qua các giá trị văn hóa độc đáo của các ngôi chùa một khía cạnh cần quan tâm trong bảo vệ di sản văn hóa Phật giáo, đồng thời di sản văn hóa của dân tộc, một trách nhiệm lớn lao Phật giáo Việt Nam chia sẻ một hội phát triển bền vững. Văn a Phật go đã đang đóng góp o quá trình phát triển bền vững của đất nước.
 

 

Tài liệu tham khảo

Báo cáo Tương lai chung của chúng ta” (1987), y ban Quốc tế về i trường Phát triển.
Đức Đạt Lai Lạt Ma (ngày 5 tháng 6, 1992), Bài diễn văn tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường Phát triển (UNCED), Rio de Janeiro, Brazil.
Đức Đạt Lai Lạt Ma (1993), Bài diễn văn trong Lthần nhập tượng Tượng Đức Pht và Hi nghị Quốc tế vTch nhim sinh thái - Cuộc đối thoại với Phật giáo, Bản báo cáo tạm thời: Ngôi nhà Tây Tng, New Delhi.
  1. Picard (1994), Sự thức tỉnh của các cng đồng, Tp chí Người đưa tin UNESCO, tháng 6.
Nguyễn Lang (2012) Việt Nam Pht giáo sử lun. Nxb Phương Đông.
  1. Mayor (1992), Thp kỷ thế giới pt triển văn hóa, y ban Quốc gia về Thp kỷ Quốc tế phát triển n hóa, tháng 8/1992.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Văn phòng Hội đồng trị sự (2012: 85), Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ đại hội đến Đại hội (1981- 2012). Nxb Tôn giáo, Hà Nội.
Trương Quang Học (2011), “Phát trin bn vng – chiến lược phát triển toàn cầu thế kỷ XXI” http://sis.vnu.edu.vn.
Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường Phát triển (tháng 6/1992), Chương trình Nghị sự 21 vPhát trin bn vng, tại Rio de Janeiro (Brazil).
Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về về Phát triển bền vững (Tháng 9/2002), Tng kết, đánh giá lại 10 m thực hin Chương trình Nghị sự 21 về V Phát triển bền vững toàn cầu” tại Johan- nesburg (Nam Phi).
Kang Sung-Ryun (2016:185,195,244), Lịch sử triết học Phương Đông viết cho thanh thiếu niên, Nxb. Thế giới & Nhà sách Nhã Nam.
Vanessa May (2011), Self, Belonging and Social Change, Sociology



45, trong: Mai Văn Hai, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Đức Chiện, N Thị Thanh Quý (2013), Bản sắc làng Việt trong tiến trình tn cu hóa hiện nay, Nxb. Khoa học hội, Hà Nội.
N Đức Thịnh (2013), “Một số quan niệm về hệ giá trị văn hóa Việt Nam”, trong: Hệ giá trị văn hóa Việt Nam trong đổi mới, hội nhập, Nxb. Văn hóa - Thông tin Tp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội.
Nguyễn Anh Tuấn, Annuska Derks (2013), Cơ sởluận trong nghiên cứu toàn cầu hóa bản sắc Việt Nam” trong: Mai Văn Hai, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Đức Chiện, N Thị Thanh Quý (2013), Bản sắc làng Việt trong tiến trình tn cu hóa hiện nay, Nxb. Khoa học hội, Hà Nội.
Đ Thị Minh Thúy (2010), Tín ngưỡng dân gian Hà Ni trong đời sống văn hóa đô th hiện nay, Nvb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
Đ Thị Minh Thúy (2013) (nhiều tác giả) Hệ giá trị văn a Việt Nam trong đổi mới, hội nhp, Nxb Văn hóa Thông tin, Tp chí Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội.
Đ Thị Minh Thúy (2013), Đ Ngọc Anh (đồng chủ biên), Vn đề pt triển văn hóa, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
Đ Thị Minh Thúy (2015) (nhiều tác giả) Những vn đề lun và thực tiễn về đời sống văn a, môi trường văn hóa, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.
Đ Thị Minh Thúy (2017), Du lịch tâm linh: Mt cái nhìn tham chiếu qua Thiền viện Bongeunsa - Hàn Quc, T/c Phật học T Quang, T19.
Tuyển tập văn bia Hà Nội (1978:29), Quyển II. Nxb KHXH. VTV1 (23/11/2018), ngày Di sản văn hóa.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây