11. TƯ TƯỞNG KINH TẾ PHẬT GIÁO VÀ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG THẾ GIỚI NGÀY NAY

Thứ sáu - 03/05/2019 05:36
Nguyễn Ngọc Dung
- PGS. TS., Trường ĐH KHXHNV TP.HCM, Việt Nam.
157
 
TƯ TƯỞNG KINH TẾ PHT GIÁO VÀ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG THẾ GIỚI NGÀY NAY
 

Nguyn Ngc Dung*





M TẮT
Tư tưởng kinh tế Phật giáo được xem như một hình thức kinh tế học khai trên lập trường của tôn giáo này. Bài viết bàn về mối quan hệ tương tác giữa tư tưởng kinh tế Phật giáo đối với sự phát triển bền vững hiện nay.
Trên sở khái quát những tưởng kinh tế Phật giáo đối chiếu với yêu cầu mục đích của phát triển hội bền vững, bài viết tập trung làm sáng tỏ ba luận điểm chính; bao gồm: thuyết Trung đo được xem như là nn tảng của toàn bộ tư tưởng kinh tế Phật giáo; nông nghiệp, kinh doanh, đạo đức kinh doanh, lối sống tiết kiệm, hài hòa giữa hưởng thụ vật chất thăng tiến tinh thần.. những lĩnh vực quan tâm của kinh tế học Phật giáo; tác động của tưởng kinh tế Phật go đối với sự phát triển bền vững của hội, hiện tại tương lai.
Bài viết cho rằngtưởng kinh tế học Phật go rất phù hợp với những yêu cầu hiện nay về một nền phát triển bền vững, coi đó phương án tối ưu trong sự lựa chọn cách thức phát triển hiện nay của nhân loại.
ĐT VẤN Đ
Trải qua nhiều thế kỷ theo đuổi chủ nghĩa vật chất, con người



*. PGS. TS., Trường ĐH KHXHNV TP.HCM, Việt Nam.
 


vẫn không thỏa mãn được những nhu cầu của mình trong khi liên tục làm thoái hóa toàn bộ môi trường sống; như hủy hoại làm cạn kiệt nguồn nước, ô nhiễm không khí, phá hủy tầng ozon, khai thác bừa bãi tài nguyên khoáng sản vốn không phải tận, chế tạo số lượng khí hạt nhân thể hủy diệt nhiều lần trái đất v.v...
Trước nguy cơ đe da sự sinh tồn của nn văn minh nn loi, những hoạt động quốc tế ý thức cảnh báo toàn cầu sớm nhất, lẽ phải kể đến Câu lạc bộ Rome, khi nó đưa ra bản báo cáo Giới hạn của sự tăng trưởng cho thấy thảm họa toàn cầu sẽ diễn ra nếu con người đẩy đến giới hạn các vấn đề gia tăng dân số, khai thác tài nguyên, tàn phá môi sinh. Rõ ràng nhân loại không thể chỉ chú trọng phát triển kinh tế, còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của hội môi trường sinh thái. T đó, thuật ngữ Phát triển bền vững đã xuất hiện được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1980, trong “Chiến lược bảo tồn thế giới” của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Tài nguyên Quốc tế - IUCN.
Một định nghĩa khá nổi tiếng về Phát triển bền vững được Báo cáo Brundtland (Báo cáo Our Common Future) do y ban Môi trường Phát triển Thế giới (WCED) đưa ra năm 1987 - sự phát triển có th đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những kh năng đáp ứng nhu cầu của các thế h tương lai. Hin nay, phần lớn các chính phvà nhiu tổ chức xã hội đã hiểu rằng: để phát triển bền vững, cần sự hòa hợp kinh tế với phát triển hội bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, việc giải quyết những vấn đề trên những thách thức lớn, đối với hầu hết c chính phủ trên thế giới. Vì thế, nhiều nghịchvẫn lặp lại còn sâu sắc thêm như nghèo khổ, đói khát, bất công, bệnh tật, ô nhiễm, xung đột, nhân mãntrong khi của cải vật chất con người làm ra ngày ng nhiều, khoa học kỹ thuật ngày ng phát triển.
Trước vn nn vphát trin bn vng, vy Pht giáo nói chung, tưởng kinh tế Phật giáo nói riêng, hay không, tác động tác động như thế nào đến sự phát triển bền vững trong thế giới ngày nay? Đó u hỏi nghiên cứu mà trong phm vi một bài tham luận, chúng tôi nỗ lực làm sáng tỏ. Nhưngđây, chúng tôi không phân luận sâu về mối quan hệ giữa Phật giáo với sự phát triển bền vững của thế giới nói chung; mà chỉ kho cứu mối quan hệ giữa những
 


tưởng kinh tế của Phật go với sự phát triển bền vững, thông qua sự thức tỉnh thực hành tôn go o Phật) của con người.
  1. THUYẾT “TRUNG ĐONỀN TNG VÀ ĐIỂM XUT PHÁT CHO TOÀN BTƯ TƯỞNG KINH TẾ PHT GIÁO
Gốc rễ của mọi vấn đề trên nằm ở quá trình phá hủy sự cân bằng trụ thuộc mọi chiều kích trong các mối quan hệ giữa con người
- tự nhiên, con người hội. Đối với thiên nhiên, con người vẫn hành xử như một vị chúa tể; đối với đồng loại, con người hành xử trên lp trường vktham, sân, sih, ái, n. Đtái lp lại sự cân bằng mang tính trụ phổ quát vừa nhắc đến, tất nhiên phải bắt đầu từ vấn đề con người. Ở đây, Phật giáo, vớich một hệ thống mang tính khoa học, chính một phương án thực tiễn rất kh thể.
Một trong nhng triết lý nn tảng của Pht giáo là thuyết Trung đạo (Madhyama pratipad). Đây không phải thuyết về sự thỏa hiệp hay quân bình giữa hai thái cực đối lập nhằm đi đến một thực tại lưỡng cực; mà ththuyết phù hợp với tính không” của vạn vật Nếu hiểu như Aristotle, triết gia Hy Lạp cổ đại về trung đạo” thì sự thỏa hiệp hay quân bình giữa hai cực đối lập chỉ dẫn đến một tình trạng hòa hợp tạm thời chứ không rốt ráo1. Còn trung đạo” theo Phật giáo một sự hòa hợp rốt ráo, viên mãn; đó là: Chân tuyệt đối trong bản chất của nó đặc tính, thì luôn thuộc nội tại, dù Đức Pht có tồn tại hay kng tồn ti, được gi là thường. Cn tương đối không thật tất cả đều đi vào không tánh, được gọi là không. Như Lai nói duyên sinh là thường hoc vô thường, cốt để tất thảy chúng sinh nhn thức rằng, dun sinh thì cũng không phải thường, cũng không phải thường. Đây được gọi Trung đạo2. Đức Long Thọ (Nàgarjuna) thì đưa ra tám phủ định như một cách giải thích về Trung đạo”; đó không sinh, không diệt, không thường, không đoạn, không nhất, không đa, không đến, không đi3. Tuy nhiên, về mặt thực tiễn, trong dân gian, Trung đạo được nhìn nhn như


    1. Nguyễn Ngọc Dung (2014); Phật giáo với những vấn đề toàn cầu hiện nay; trong sách “Phật giáo với các mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc (đồng chủ biên: Thích Nhật Từ, Trương Văn Chung, Nguyễn Công Lý), nxb ĐHQG-HCM, tr. 844-856.
    2. Dẫn theo Thích Kiên Định; Lược sử văn học Sanskrit & Hán tạng Phật giáo, nxb Thuận hóa, tr. 254.
    3. Đ Kim Thêm LL. M, MA; Quan điểm của Phật giáo trước các vấn đề hiện đại, nxb Hồng Đức, tr. 241.
 


những tưởng, hành vi đúng đắn, hợp , không cực đoan, phiến diện. Giống như Đức Phật Thích – ca ngày xưa, giữa hai khuynh hướng thọ lãnh vật chất từ bỏ vật chất, Ngài chọn con đường trung đo” để vươn tới giải thoát.
Thuyết Trung đạo theo chúng tôi nền tảng điểm xuất phát cho toàn bộ tư tưởng kinh tế Phật giáo4, một hình thức kinh tế học khai. Bởi lẽ học thuyết này, trong khi chấp nhận sự tồn tại giữa các mặt đối lập như một sự thống nhất (tính đồng hiện đồng biến), nhưng từ chối sự thái quá hoặc bất cập của chúng; đồng thời chỉ ra tính thống nht trong đa dạng của vạn vật bản chất tùy thuộc, chuyển hóa lẫn nhau ( tức ngã, thường) . Đây chính phương thức sinh tn phát triển tối ưu của vạn vật, trong đó con người c hoạt động sản xuất ra của cải vật chất của họ.
  1. KHÁI QUÁT VỀ TƯ TƯỞNG KINH TẾ PHT GIÁO
Tư tưởng kinh tế Phật giáo, theo chúng tôi, không phải một hệ thốngluận chặt chẽ như cách trình bày của khoa học hiện đại, mà những quan niệm về c hoạt động kinh tế, c hành vi kinh tế đo đức trong hoạt động kinh tế của con người. Nhữngtưởng này nằm rải rác trong nhiều kinh sách Phật giáo. Lý do kinh tế học không được Phật go chú ý nhiều, thể xuất phát từ mục tiêu giải thoát con người của tôn giáo này. Đức Phật chưa bao giờ đề cao vật chất, nhưng Ngài nhận thấy vật chất (trong một chừng mực) cần thiết cho con người trở nên hạnh phúc đạt đươc mục tiêu giải thoát ti hu.
Trong kinh sách Pht giáo, có nhiu ln nhc đến kinh tế và nhng hot động kinh tế xã hội. Tăng Chi bộ kinh nói đến các nghề canh nông, buôn bán, chăn nuôi, bảo vệ, dịch vụ nhiều ngành nghề khác5. Có thể hình dung ratưởng kinh tế Phật giáo tập trung vào hai vấn đề lớn: đó kinh tế nông nghiệp kinh doanh. Vì nông nghiệp từ xa xưa đã trở thành quen thuộc nguồn sinh



    1. S.R Bhatt (2006). Kinh tế học Phật giáo; kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Phật giáo thời hiện đại, những cơ hội thách thức”, tr.761.
    2. Tăng Chi bộ kinh (Anguttaranikaya), 1959; ed. Kashyap J. Pali Publication Board, Nalanda, pp. 375-77; dẫn theo H.S Shukla Tư tưởng kinh tế Phật giáo cho mt cuộc sống lành mạnh trong sách “Quan điểm Phật giáo về lối sống lành mạnh, cb Thích Nhật Từ, Thích Đức Thiện, nxb Tôn giáo, 2014, tr. 53.
 


kế chính của con người, như Nho học đã từng phát biểu rằng nông vi bản”.
Trong Tăng Chi bKinh, có đề cp đến vai trò quan trng của nông nghiệp, tả khá nhiều các hoạt động nông nghiệp cùng với đời sống của người nông dân6. Còn kinh doanh những hoạt động kinh tế hướng đến mục tiêu lời lãi, trong đó mối quan hệ giữa ông chủ với người làm thuê. Kinh Pampanika trong Tăng Chi bộ kinh giải thích công việc kinh doanh cần được thực hiện một cách thiện xảo tận tụy. Và để kinh doanh thành công, ba điều kin được Kinh Vephulla nêu lên là; trí tuệ (cakhumà), nhy bén (vidhura) tín nhiệm (nissaya)7.
Vn đề nông nghiệp kinh doanh trongtưởng kinh tế Phật giáo, theo chúng tôi, không chỉ hai trọng tâm trong hoạt động kinh tế thời cổ đại (vẫn đúng cho cả ngày nay), còn sự phản ánh hai cấp độ vi trong nền kinh tế hội thời bấy giờ; trong đó nhiều vấn nạn chưa hề thuyên giảm từ suốt 2.500 năm trước đến thời điểm hiện tại.
Khoa Kinh tế - chính trị học hiện đại (Modern Political Economy) đã đưa ra nhiềuthuyết nhm giải quyết c mâu thuẫn giữa kinh tế với chính trị, nhà nước với thị trường. Đc biệt cthuyết kinh tế học hiện đại đã mổ sẻ tối ưu hóa mọi hội lợi nhuận trong kinh doanh8. Nhưng tất cả các phương pháp khoa học này đều chỉ quan tâm chủ yếu đến khía cạnh vật chất của hoạt động kinh tế, quên mất hoặc ít chú ý đến những khía cạnh tinh thần (tâm linh) của loại hoạt động này. Vật chất trở thành yếu tố quyết định hoặc chi phối các quan hệ hội. Cơn khao khát vật chất tận của con người đã đẩy hội đến hết thứ khủng hoảng này đến thứ khủng hong khác; cũng vô tận như lòng tham của con người vậy.
Trong khi đó, nn kinh tế Pht giáo lại chú ý đến shài hòa giữa lợi nhuận đạo đức kinh doanh. Dựa căn bản trên đạo đức, nền kinh tế Phật giáo đã đề cập đến các hoạt động kinh tế của con



    1. Sđd.
    2. Sđd.
    3. Xem thuyết “Nhà nước không can thiệp (Laissez - faire) hay “Thị trường tự do”; thuyết của John Maynard Keynes (1883 – 1946) về chủ nghĩabản hiện đại; Paul Anthony Samuelson (1915 – 2009) - lý thuyết về kết hợp thị trường nhà nước v.v...
 


người, các quy phạm đạo đức kinh doanh gắn liền với các chuẩn mực tôn giáo. Đức Phật khuyên người ta trong bốn chục năm đầu, ng tạo ra của cải nhiều ng tốt, qua những nnh nghề tương ứng với chánh mạng. Ngài cũng lên án lối làm ăn gian dối, mưu mẹo, vẽ vời, thuần túy theo đuổi lợi nhuận, lợi nhuận9. Một số cách kiếm sống sai lạc được liệt dưới đây phù hợp với việc giữ gìn ngũ giới (không giết hại, trộm cắp, gian dâm, nói dối, sử dụng chất gây say) nhằm duy trì sự an lành, hòa hợp hội; cụ thể là: kiếm tiền bằng vẻ bề ngoài giả dối (kuhana), kiếm tiền bằng lời đường mật quanh co (lapana), kiếm tiền bằng cách bỏ qua lợi nhỏ để được lợi lộc lớn (labhena labhanijiginsanata), lường gạt người bng ch n đo không chính xác (tula kuta)10. Muốn tránh những sai phạm trên, con người phải tuân thủ “Bát chánh đạo, khi y đm bảo cho họ tiến bộ cả vvkinh tế và m linh. Trong điu kin kinh tế rối loạn hoc bất ổn sẽ tạo nên chướng ngại cho con người trên con đường giác ngộ; khi ấy việc thực hiện t chánh đạo cũng trở nên bất khả thi. Con người lúc đó phải chịu cảnh lầm than do sự thiếu đo đức ti phạm hội. Thế họ phải chấp nhận các phương cách kiếm sống bất thiện để sinh tồn.các chính phủ thể dẹp bỏ tội phạm bng luật pháp, nhưng không bao giờ thành công, trừ khi điều kiện kinh tế của con người được cải thiện; bng ch nhà nước cung cấp giống cho người trồng trọt, cấp vốn cho người kinh doanh lương bổng cho công nhân. Kết quả người dân sẽ hài lòng, hội không còn ti phm, sẽ trở n bình an11.
Như thế, thể nói rằng, ở cấp độ ,tưởng kinh tế Phật giáo chính là: (1). S kết hợp kinh tế với đạo đức hội; (2). Sản xuất vật chất phải đi đôi với tăng trưởng về tinh thần (tâm linh). Đây mới chính chìa ka vạn năng để hội phát triển bền vững. Khi y, tôn giáo (Phật giáo) cũng sẽ trở thành động lực của lịch sử.
Ở khía cạnh kinh tế vi , liên quan đến hoạt động kinh tế



    1. Trung bộ kinh (Majjhyma - nikaya) 1959; ed. Kashyap J. Pali Publication Board, Nalanda, vol. I - III; dẫn theo H.S Shukla Tư tưởng kinh tế Phật giáo cho một cuộc sống lành mạnh trong sách “Quan điểm Phật giáo về lối sống lành mạnh, cb Thích Nhật Từ, Thích Đức Thiện, nxb Tôn giáo, 2014, tr. 49.
    2. Trường bộ kinh (Dighanikaya), 1959; ed. Kashyap J. Pali Publication Board, Nalanda, vol. I – III.
    3. Sđd, vol. I, p. 101.
 


thể (individual economic activity), tư tưởng kinh tế Phật go chỉ rõ những hoạt động này nhằm duy trì sự sống con người, từ những nhu cầu bản đến việc hưởng thụ một cuộc sống dễ chịu, thoải mái. Kinh Sabbasava cho rằng, nhu cầu bản của con người gồm y phục, thực phm, ch ở, thuốc men. Khi đã thỏa mãn những nhu cầu căn bản, con người thể tiến đến cuộc sống tiện nghi thoải mái. Đằng sau việc hưởng thụ vật chất chính động lực thúc đẩy cho sự thành tựu m linh12.
Theo quan điểm Phật giáo, con người ta phải kiếm sống một cách thiện xảo (dhammena), chân thật, siêng năng, không bạo động (asahasena). Kinh Vyagghapajja trong Tăng Chi bộ kinh đưa ra bốn yếu tố hỗ trợ cho người đầy năng lực, tinh tấn trong nghề nghiệp như sau: (1). S thành tựu qua những cố gắng hiện hữu, tinh xảo, luôn chuyên cần trong nghề nghiệp của mình (Utthana sampada); (2). Tài sản kiếm được một cách chân chính được bảo vệ khỏi trộm cướp những rủi ro đầy rẫy trong hội (Arakkha
sampada); (3). Bằng hữu cộng sự trung thành, đạo đức, học thức, thông minh để giúp doanh nhân đi đúng đường, tránh sa vào tội lỗi (Kalyana mitta); (4). Có một cuộc sống ổn định với sự hiểu biết rằng cách thu nhập chi tiêu của mình đưa đến cuộc sng đó (Samajivikata)13. Cũng theo Tăng Chi bộ kinh, khi con người tạo được khối tài sản một cách chân chính, sử dụngtheo đúng tinh thần Phật pháp, thì sẽ nhận được bốn điều hạnh phúc: thu nhập chân chính (atthisukha), hưởng thụ xứng đáng (bhoga sukha), không mang nợ (anana sukha), tránh khỏi những hoạt động phạm pháp (anavajja sukha). Ba điều đầu tiên liên quan đến tiến bộ vật chất, điều thliên quan đến tiến bộ m linh14. Nhưng để tiếp tục cho cuộc hành trình về tâm linh, nhằm đạt tới mục tiêu cuối cùng giải thoát, người ta cần thêm những đức tính hỗ trợ như tín tâm (saddaha) - lòng tin cậy vững chắc vào các giá trị đạo đức m linh; sila - sự kiềm chế trước mọi hành vi bất thiện; caga - sự bố thí rộng lượng; wisdom - sự minh triết về bn chất thực sự của


    1. Sđd, vol. III, p. 169.
    2. Tăng Chi bộ kinh (Anguttaranikaya), 1959; ed. Kashyap J. Pali Publication Board, Nalanda, vol. IV, p. 377; dẫn theo H.S Shukla Tư tưởng kinh tế Phật giáo cho mt cuộc sống lành mạnh trong sách “Quan điểm Phật giáo về lối sống lành mạnh, cb Thích Nhật Từ, Thích Đức Thiện, nxb Tôn giáo, 2014, tr. 54.
    3. Sđd, vol. II, pp. 73 - 74.
 


thế gian vốn ngã - thườngđau khổ15.
Tư tưởng kinh tế Phật go cũng ít nhiều đề cập đến việc tích lũy vốn, tài sn trong hot động kinh tế. Trong khi kng chấp nhận việc kiếm tiền bằng những hành vi bất thiện, Phật giáo đồng thời không chấp nhận việc tích trữ tài sản, quan niệm của cải làm ra để tiêu dùng, không phải để tích trữ16. Kinh Vyagghapajja đã bài bác sự tích trữ tài sản lối sống bủn xỉn như hng người bn cùng, đói khát.
Tuy vậy, Phật giáo không khuyến khích tiêu dùng lãng phí, cần tiết kiệm. Kinh Sagalovada đề xuất một ch chi tiêu khôn khéo như sau: 1/4 số tiền thu nhập nên dùng cho bản thân gia đình, thân quyến; 2/4 số tiền thu nhập tiếp theo dành cho việc kinh do- anh kiếm lời để phát triển tương lai; 1/4 còn lại dành cho việc khn cấp giải quyết mọi tai họa thể xảy ra17. Những quan điểm kinh tế trên được trình bày một ch giản dị o thời Đức Phật, theo thể vẫn hữu dụng cho đến ngày nay.
  1. TÁC ĐỘNG CỦA TƯ TƯỞNG KINH TẾ PHT GIÁO ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Xét về phương diện hội, cấu trúc hội hiện đại đang ở thời kỳ rất hỗn độn, thậm chí hỗn độn nhất. Đó chủ nghĩa quốc gia đang phát triển ở những sắc tộc ly khai, thường mang màu sắc tôn giáo, tạo nên những xung đột quốc tế liên tiếp, kéo dài, diễn ra trên hầu khp c châu lục. Sn xuất vật chất tiếp tục gia ng nhưng vẫn không đáp ứng nổi những nhu cầu vô tận của con người, không rút ngắn được khong ch gunghèo giữa cnhân, giai cấp, dân tộc; không loại bỏ được tình trạng thiếu lương thực, thiếu nguồn nước sch, thiếu y tế, giáo dục, nhà ở. Trong khi môi trường bxâm hại đến mức kiệt quệ, môi sinh bị ô nhiễm nặng nề, đe dọa sự sống trên trái đất, nhiều loài sinh vật bị tiệt chủng. Chủ nghĩa sùng bái vật chất vẫn tiếp tục được con người đề cao saytheo đuổi v.v...


    1. Sđd.
    2. H. S. Shukla, Tư tưởng kinh tế Phật giáo cho mt cuộc sống lành mạnh; trong sách “Quan điểm Phật giáo về lối sống lành mạnh, cb Thích Nhật Từ, Thích Đức Thiện, nxb Tôn giáo, 2014, tr. 54.
    3. Trường bộ kinh (Dighanikaya), 1959; ed. Kashyap J. Pali Publication Board, Nalanda, vol. III, p.145.
 


Mặc dù thế giới ngày nay đã một tổ chức rộng rãi Liên Hiệp Quốc (thành lập từ 1945) – một tổ chức toàn cầu, quy tụ hầu hết các quốc gia trên trái đất này trong một diễn đàn nhằm gìn giữ hòa bình, an ninh thế giới, thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại, văn hóa, giáo dục giữa các quốc gia thành viên, mang lại nền hòa bình thịnh vượng chung cho nhân loại. Nhưng nhìn chung, đó vẫn chỉ những ước nguyện mang tính thời đại.
Các chính phủ, các tổ chức hội, các nhà hoạt động cộng đồng đang cố gắng cải thiện tình trạng nan giải của hội hiện đại, nhưng nhiều phen họ cũng bất lực.
Phật giáo từ xa xưa đã nhận thấy, các cuộc cải tạo hội, nếu chỉ diễn ra bên ngoài nhân con người thì khó rốt ráo. Muốn thay đổi căn bản những vấn đề nan giải của hội, cần cách tiếp cận thay đổi con người từ bên trong. Vì thế, Phật giáo luôn lấy nhân m đối tượng chuyển hóa đề cao mọi nỗ lực cá nhân; từ đó mới bàn đến chuyển hóa hội. Đây chính chỗ mầu nhiệm của Phật giáo khi so với những gohiện hữu khác.
Thực ra Phật go thực hiện nhiều chức năng hội, trong đó chức năng tưởng. Như Karl Marx đã từng nhận định, một khi tư tưởng ăn sâu o đời sống hội, nó sẽ trở thành một lực lượng vật chất. V điểm này, một học giả khác cũng đã viết Tôn giáo thường ảnh hưởng mang tính quyết định đối với các nguồn lực hội..., kết hợp với nguồn nhân lực tài lực, quyết định sự tăng trưởng kinh tế quốc gia18. Như vậy, một khi tư tưởng kinh tế Phật giáo tác động tới cấu trúc hội hiện đại, thể xuất hiện một khuynh hướng kinh tế - đạo đức (nền kinh tế dựa trên nền tảng đo đức Phật giáo); trong đó, sự tiến bộ vật chất của con người luôn diễn ra trong điều kiện hoàn thiện mọi đức hạnh vốn được xem như bổn phận trở thành của con người.
Khác với kinh tế học hiện đại, cho rằng hoạt động kinh tế để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người, tư tưởng kinh tế Phật go hướng đến c hoạt động kinh tế đm bo sự hài a giữa tinh thần vật chất. Con người cần tu tập trong bốn nhu cầu ăn mặc - ở – thuốc thang để trở nên an lạc, hạnh phúc, tránh những ham muốn độ, bất thiện. Có lẽ đây câu trả lời cho tình trạng


    1. L. Iannaccone (1998). Introduction to the Economic of Religion; Journal of Economic Literature 36, pp. 1465-96.
 


sản xuất quá mức, tiêu dùng quá độ của cải vật chất trong hội hiện đại. Kinh ch Phật go cũng chỉ ra những vấn nn hội sinh ra từ nghèo khổ làm tha hóa bản tính con người, đẩy họ đến hành động trộm cắp, tham lam, gian dối, ác độc... các hành vi bất thiện nói chung.
T những tưởng kinh tế Phật giáo trên đây, theo Thích Nhật Từ, thể phát biểu những giáo huấn của Đức Phật về kinh tế học dưới công thức: Hưởng hạnh phúc tối đa với tài sản tối thiểu19. Có lẽ, chỉ nền kinh tế hướng tới đạo đức tâm linh như Đạo Phật mới hiu quả như vy; bởi mục tiêu ti thượng của nó là “diệt kh, ch không nhằm thỏa mãn sự tham dục của con người. Một kinh tế gia hiện đại cũng đã nhận xét: Kinh tế học Phật giáo hẳn rất kc so với kinh tế học của chủ nghĩa duy vật hiện đại, bởi người theo Phật nhìn thực chất của nền văn minh, không phải trong phép tính nhân của những nhu cầu con người, là trong sự tnh hóa tính cách con người20.
phương diệnnhân,tưởng kinh tế Phật go khuyến khích mỗi người kinh doanh hoc kiếm sống trên tinh thn đo đức Phật giáo, thực nh Bát chánh đạo, từ, bi, h, x”, rng lượng bthí”. Với họ, hành nghề trước hết như bổn phận, chứ không phải mưu sinh, mánh lới; để an lạc hạnh phúc, chứ không phải duy nhất cầu lợi. Lời khuyên của Đức Phật đối với Sigala trong Kinh Sigalovada
  • như chúng tôi nhắc phần trên - vẫn phù hợp cho hiện tại: Cá nhân nào tài lực, nên đầu tư kinh doanh để thêm lợi lộc, trong khi vẫn đm bo cuộc sống gia đình bn thân. Đây bài học kinh tế rất thiết thực giữa sản xuất tái sản xuất, giữa ổn định phát triển. Nếu được như vậy, mỗi cá nhân trong sinh hoạt thường ngày của họ đã mang ý nghĩa tôn giáo (Phật giáo); tất yếu dẫn đến một hội phát triển hài hòa, bền vững.
Như vậy, tưởng kinh tế học Phật giáo trong hội hiện đại rất cần thiết thể ứng dụng để giảm thiểu những nghịch hội hiện đại tạo ra. Một nghiên cứu cho thấy kinh nghiệm làm công quả của nhiều ngôi chùa Khmer Nam Bộ (Việt Nam) từ xưa là: nhà chùa - một đơn vkinh tế mà “phi kinh tế. Ruộng đt nhà


    1. Thích Nhật T(2006). Kinh tế từ cái nhìn Phật giáo; K yếu Hội thảo quốc tế “Phật go thời hiện đại, những cơ hội, thách thức”, tr. 772.
    2. Dẫn theo Thích Nhật Từ, sđd, tr. 769.
 


chùa được sãi, Phật tử canh c; nguồn lợi chia công bng cho c gia đình trong phum, sóc; nhà chùa không giữ lại thóc gạo hay hoa lợi , đã Phật tử bố thí. Bên cạnh hoạt động kinh tế, nhà chùa còn một đơn vị hoạt động từ thiện tích cực21. Thí dụ này để minh chứng cho tư tưởng kinh tế Phật go dựa trên đức tin ngun Trung đạo trong Phật go mà chúng ta đang bàn luận.
Chúng tôi dẫn dụ thêm một trường hợp nghiên cứu - gần như tương tự, nhưng xuất sắc hơn nhiều - quan hệ giữa tư tưởng tôn go với phát triển hội. Đó trường hợp Max Weber khi ông bàn về mối quan hệ giữa Đạo đức Tin lành với chủ nghĩa bản22.
Webber quan sát thấy người Tin Lành thiên hướng đặc biệt thuận lợi cho óc duy lý kinh tế, cho dù họ tầng lớp thống trị hay bị trị, nhóm dânđa số hay thiểu số; nhưng người ta chưa bao giờ thấy đc tính này nơi người Công go23. Weber giải thích rằng: do người Công giáo thiên hướng tht ly khỏi thế gian mạnh mẽ hơn, được răn dạy về lối sống khổ hạnh thói coi thường của cải; trong khi người Tin Lành lại phê phán lối sống khắc khổ đó chủ trương làm giàu là bổn phận trước Chúa Tri. Nói một cách hóm hỉnh: nếu phải chọn “ăn ngon” hay “ngủ n”, thì người Tin Lành chọn ăn ngon, trong khi người Công giáo chọn ngyên24. Nhờ thế, ngoài lòng mộ đạo, người Tin Lành còn tinh thần tự do thương mại. Đây chính đặc trưng quan trọng nhất của chủ nghĩa bnđiểm tương phùng vớitưởng kinh tế Tin Lành.
Người ta thường xem các hiện tượng: ham muốn chiếm hữu, hám lợi, chạy theo tiền bc bng nhiều thủ đon, thm chí đê tiện thuộc tính của chủ nghĩabản. Nhưng bình tâm xét, các hiện tượng trên không phải thiên tư” của chủ nghĩabản, từng tồn tại trong mọi hội trước đó, thậm chí đến tận bây giờ vẫn thế; từ người hầu bàn, viên chức, kẻ cắp, trí thức, phu xe ngựa, hng ăn



    1. Chơn Minh Khắc Chiếu (2015). Khảo t ảnh hưởng của Phật giáo lưu vực Mekông vùng châu th sông Cửu Long; trong sách “Phật giáo vùng Mekong:Lịch sử hội nhập” (Bbt Trương Văn Chung, Nguyễn Công Lý, Thích Nhật Từ, Thích Bửu Chánh), nxb ĐHQG-HCM, tr. 258.
    2. Max Weber. Nền đạo đức Tin Lành tinh thần của ch nghĩa bản; Bùi Văn Sơn Nam, Nguyễn Nghị, Nguyễn Tùng, Trần Hữu Quang dịch, nxb Tri thức, 2010.
    3. Sđd, tr. 77.
24. Sđd, tr. 78 - 79.
 


mày đều những phẩm chất ấy gọi phẩm chất phổ biến thông thường của con người. Lòng tham của cải của vị quan Trung Hoa, của nhà quý tộc Rome cổ đại, hay của người nông dân hiện đại đều không thua kém nhau25. Điều đó nghĩa là: Tín đồ Tin Lành cũng con người, nhưng họ một thứ đạo đức tôn giáo
  • trở thành động lực nguyên tắc sống độc đáo của họ. Với họ, việc kiếm tiền như một lẽ sống nhằm phục vụ lợi ích hội – phi cá nn, để ca ngợi Vinh quang của Thiên Chúa, đó là điu Thiên Chúa muốn. Tín đồ Tin Lành xem tài sn của mình chiếm giữ (s hu) chỉ là tch nhim của họ trước Chúa Tri. Tài sn càng nhiu thì trách nhiệm càng lớn. Trên tinh thần y, các nhàbản Tin Lành (hoặc theo khuynh hướng Tin Lành) sau khi làm ăn thành công thường trả lại hội những tài sản lớn, thông quan hiến tặng hoặc làm từ thiện hội. Ở điểm này, đạo đức Tin Lành, theo chúng tôi, đã hàm chứa (hay hấp thụ?) ít nhiềutưởng Trung đạo của Phật giáo.
M LẠI
Nhờ dựa trên nguyên lý Trung đạo, nn kinh tế theo tinh thần Phật giáo không tách việc sản xuất vật chất ra khỏi những tiến hóa về đạo đức tinh thần. Nó đảm bảo việc tiêu thụ khôn ngoan hợp lý; hưởng thụ của cải đi liền với thành tựu, tiến bộ tâm linh; chấp nhận lợi nhuận không chấp nhận việc thủ lợi; khuyến khích tiêu dùng bài trừ tích trữ; lợi nhuận không được dùng cho mục tiêunhân, mà phải dùng o mục tiêu ng trưởng phục vụ hội, giúp đỡ người nghèo, m từ thiện cho bá nh.
Trong điu kin xã hi hin đi, nhu cu phát trin bn vng đang đặt ra cấp bách. Với cách một học thuyết, Phật giáo nói chung, tư tưởng kinh tế Phật giáo nói riêngtheo chúng tôi - vai trò hướng đo đối với sự phát triển bền vững , tức sự phát triển có th đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến nhng khnăng đáp ứng nhu cu của c thế hệ tương lai”.
Thực chất phát triển bền vững nmhai phương diện: Th nhất, con người phải tôn trọng tự nhiên, khai thác bo vệ tự nhiên một cách khôn ngoan, trách nhiệm; thứ hai, con người phải thay đổi lối




25. Sđd, tr. 103.
 


sống chạy theo chủ nghĩa vật chất cực đoan, chủ nghĩa tiêu dùng cực đoan chủ nghĩa vị kỷ cực đoan, giảm thiểu bất công, nghèo đói, bất bình đẳng trong hội, tạo dựng hòa bình. Những đặc tính này hn tn phù hợp với nguyên lý Trung đovà phương thức phát triển kinh tế một cách hài hòa giữa nhu cầu vật chất tinh thần con người trong Phật giáo. Cho nên thể đưa ra một mệnh đề giả thuyết là: tưởng Phật giáo (bao gm c nhữngtưởng kinh tế) chìa khóa cho s phát triển bền vững của hội loài người, hiện ti tương lai.





***


 

Tài liệu tham khảo

L. Iannaccone (1998). Introduction to the Economic of Religion; Jour- nal of Economic Literature 36.
K yếu Hội thảo quốc tế (2006), Phật giáo thời hiện đại, những hội, thách thức, Viện nghiên cứu Phật học.
Max Weber. Nền đạo đức Tin Lành tinh thần của chủ nghĩa bản; Bùi Văn Sơn Nam, Nguyễn Nghị, Nguyễn Tùng, Trần Hữu Quang dịch, nxb Tri thức, 2010.
Nguyn Văn Trình, Nguyn Tiến Dũng, Vũ Văn Nghinh(2000),Lch sử các học thuyết kinh tế, nxb ĐHQG-HCM.
Phật giáo với các mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc (2014), cb; Thích Nht Từ, Trương Văn Chung, Nguyn Công Lý, nxb ĐHQG-HCM.
Pht giáo vùng Mekong: Di sn và văn hóa (2015), bt Trương Văn Chung, Nguyễn Công Lý, Thích Nhật Từ, Thích Bửu Chánh), nxb ĐHQG-HCM.
Pht giáo vùng Mekong:Lịch svà hi nhp (2015), bt Trương Văn Chung, Nguyễn Công Lý, Thích Nhật Từ, Thích Bửu Chánh), nxb ĐHQG-HCM.
Quan điểm Phật giáo về lối sống lành mạnh (2014), cb Thích Nhật Từ, Thích Đức Thiện, nxb Tôn giáo.
Tăng Chi bộ kinh (Anguttaranikaya), 1959; ed. Kashyap J. Pali Publication Board, Nalanda.
Trung bộ kinh (Majjhyma - nikaya) 1959; ed. Kashyap J. Pali Pub- lication Board, Nalanda, vol. I – III.
Trường bộ kinh (Dighanikaya), 1959; ed. Kashyap J. Pali Publica- tion Board, Nalanda, vol. III, p.145.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây