10. PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TIẾP CẬN TỪ TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO

Thứ sáu - 03/05/2019 05:25
Nguyễn Duy Phương
- TS., Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, Việt Nam.
145
 
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
TIẾP CN TTƯ TƯỞNG PHT GIÁO

Nguyễn Duy Phương*





M TẮT
Cho đến nay, trong kho tàng tri thứcluận của thế giới, chưa có một mô hình lý luận nào về một nền kinh tế hoàn tn tương thích với môi trường tự nhiên hội dựa trên những sở khoa học vững chắc. Việc giải quyết mâu thuẫn n bản giữa hai khía cạnh: nhân loại (kinh tế - hội) sinh thái nhằm tạo dựng mô hình phát triển bền vững một nhiệm vụ rất quan trọng của thế kỷ XXI. Do vy, việc hoàn thiện quan niệm phát triển bền vững đang tr thành nhiệm vụ của tt cả các quốc gia cộng đồng thế giới. Những lịch sử nhân loại trải qua đều thể hiện ng cho một quy luật phát triển với những câu hỏi: Phát triển cho ai, phát triển để làm sẽ quy định việc phát triển như thế nào phát triển đem lại kết quả gì. Điều này tht tương hợp với thuyết nhân quả Phật giáo đề xướng từ xa xưa.đã xuất hiện hàng nhìn năm nhưngtưởng Pht giáo a ra không hề lạc hậu lại chứa đựng một hệ thống quan nim toàn din để phục vụ cho phát trin bn vng. Trong bài viết này, tác giả sẽ luận chứng để làm rằng, phát triển bền vững một xu hướng tt yếu, khách quan của thời đại tưởng Pht giáo sẽ góp phn hoàn thiệnluận cũng như đưa đến cách thức hữu hiệu giúp nhân loại hiện thực a mục tiêu này.
***
Pht giáo trong suy nghĩ của không ít người tôn giáo chỉ quan tâm đến thoát tục, giải thoát khổ đau, tìm kiếm Niết ncõi sau


*. TS., Trường Đại học phạm, Đại học Đà Nng, Việt Nam.
 


hơn quan tâm đến những vấn đề thuộc về thực tại. Điều đó hoàn tn sai lầm bởi thực tế đã chứng minh dù xuất hiện hàng nhìn năm nhưngtưởng Pht giáo với triết lý Duyên khởi, Vô thường, Vô ngã, Nghiệp báo Nhân quả… Pht giáo đề xướng từ xa xưa lại tương hợp với quan niệm phát triển bền vững thời hiện đại hôm nay, đáng nói hơn tôn giáo này cũng đã gởi mở cho chúng ta cách thức hữu hiệu giúp nhân loại hiện thực a mục tiêu này.
  1. KHÁI NIỆM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG (PTBV)
Tn thế giới hiện nay, phát triển bền vững một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi, không chỉ trong nghiên cứu học thuật còn trong đời sống hội, không chỉ ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển còncác cộng đồng lạc hậu trên tn thế giới. Trước đây khi nói đến phát trin xã hi người ta thường nghĩ đến tăng trưởng vkinh tế mà GDP (Gross Domestic Product Tng sn phẩm trong nước) tiêu chí duy nht, đại diện duy nht cho sự phát triển. Tuy nhiên trên thực tế quá trình vận động của thế giới nửa sau thế kỷ XX đã cho thấy “phát triển một khái niệm phức tạp không thể đơn thuần chỉ nói đến tăng trưởng kinh tế hay công nghệ phải gắn liền với chất lượng cuộc sống, với môi trường tự nhiên môi trường n a. tính chất phức tạp đó n thuật ngữ “phát triển bền vững” vẫn luôn được các nhà nghiên cứu tìm cách giải mã, bổ sung, hoàn thiện theo từng giai đon phát triển của nhân loi.1 Trên cơ sở tiếp thu các kết quả nghiên cứu vPTBV, Luật Bảo vệ môi trường 2005 của Việt Nam khng định: PTBV phát triển đáp ứng được nhu cầu của các thế h hiện tại không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế h tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bo đm tiến bộ xã hi và bảo vệ môi trường(Trn Thúy Ngọc 2012, p. 30).


    1. Thuật ngữ “phát triển bền vững” đã xuất hiện lần đầu o năm 1980 trong n phẩm Chiến lược bảo tồn thế giới với nội dung khá đơn giản:Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế, còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu củahội stác động đến môi trường sinh thái. Năm 1987, khái nim này đã được y ban Thế giới vMôi trường Phát triển do cựu Thủ tướng Nauy - Gro Harlem Brundtland làm chủ tịch tiếp thu, khai triển định nghĩa như sau trong phúc trình mang tựa Tương lai của chúng ta: Phát triển bền vững sự phát triển nhằm thỏa mãn các yêu cầu hiện tại nhưng không tổn hại cho khả năng của các thế hệ tương lai để đáp ứng yêu cầu của chính họ (Đoàn Minh Huấn, Nguyễn Quỳnh Trâm 2014, p.70).
 


Tuy có nhiu cách din gii khác nhau vPTBV, nng vbn cht, PTBV một quá trình biến đổi mạnh mẽ trong các lĩnh vực kinh tế, hội nhằm tạo ra sự tối ưu nhất trong tăng trưởng để đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của con người không làm tổn hại đến hệ các sinh thái môi trường trong hiện tại cũng như trong tương lai. Tng quát hơn, phát trin bn vng chính là một quá trình liên tục cân bằng hoà nhập các mục tiêu kinh tế, hội môi trường sinh thái nhằm đảm bảo sự trường tồn của nhân loại. Tựu chung lại, PTBV đều phải dựa trên ba tr cột chính kinh tế, hội môi trường. Vy Phật giáo quan điểm như thế nào về ba tr cột này?
  1. PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DƯỚI GÓC NHÌN CỦA PHẬT GIÁO
    1. Vn đề kinh tế
Nhiều người thường cho rằng Pht giáo một tôn giáo cho n không có quan hệ nào với vấn đề kinh tế nhưng đó một nhn định sai lầm, con người một hợp thể do n uẩn tạo thành chia làm hai phn vật chất tinh thn. vậy,con người không thể chỉ dựa vào tinh thn không thôi có thể tồn tại được. Điều không thể nghi vấn con người muốn sinh tồn cần phải có đầy đủ những nhu cầu vật chất n bản nhất. Pht giáo không hề bài trừ vấn đề kinh tế, nói sự phát triển tinh thn không chấp nhn điều kiện vật chất thì không phải chủ trương cái nhìn của Pht giáo. Trong kinh Kutadanta (Trường Bộ Kinh) và kinh Chuyển luân thánh vương tu hành (Trường A Hàm), Pht đã giải thích là muốn trnn giặc cướp trộm cắp thì dùng hình pht hay bố thí đơn thuần đều không thể giải quyết triệt để. Qua vị Bà-la-môn chủ tế, ở triều vua Mahavijita, Pht giải thích muốn loại trừ triệt để bọn giặc cướp ở trong nước thì: Những người nào trong quốc độ nhà vua, nỗ lực về nông nghiệp mục súc, thì nhà vua hãy cấp cho những người ấy hạt giống thực vật. Những người nào trong quốc độ của nhà vua nỗ lực về thương nghiệp, thì nhà vua hãy cấp cho h vốn đầu tư. Những người nào trong quốc độ nhà vua, nỗ lực về mặt quan chức, thì nhà vua hãy cấp cho h thực phẩm lương bng. Và những người này sẽ chuyên tâm vào nghề nghiệp riêng của mình sẽ không nhiễu hại quốc độ nhà vua nữa. Và ngân quỹ nhà vua sẽ được dồi dào, quốc độ sẽ được an lạc nghiệp không tai ương, ách nạn dân chúng hoan hỷ vui vẻ, cho trẻ con nhảy đùa trong làng, sống với nhà cửa mở rộng (dẫn theo Thích Phước Đt n.d).
 


Đạo Pht không ca ngợi sự nghèo khổ, cũng như không p phán sự giàu . Bởi vì, theo quan niệm của tôn giáo này, giàu nghèo chỉ phương tiện, chứ không phải cứu nh. Cứu nh sự an lạc tht sự của thân tâm, chỉ có thể đt tới được bằng đạo đức trí tuệ. Không những kinh tế dồi dào, những điều quý báu nht của nhân sinh như sức khỏe dồi dào, thọ mạng lâu dài, dung nhan ng đẹp v.v tt cả đều ph thuộc vào cuộc sống đạo đức trí tu. Trong kinh “Chuyển luân thánh vương tu hành, Đức Pht dy: Các vị phải siêng năng tu các điều thiện, nh điều thiện mạng sống lâu dài, nhan sắc thắm tươi được an ổn, khóai lạc, của cải dồi dào, uy lực đầy đủ... (Trường A Hàm - 327. Kinh Chuyển luân Thánh vương tu hành (dẫn theo Thích Phước Đạt n.d).
Theo GSTS. S.R. Batt, Phân khoa Triết học, Đại học Delhi, n Độ, những khái niệm bản hàm chứa trong phương diện kinh tế của Pht giáo là Trung Đo, Chánh Mạng, sng tp th, sự liên hệ hỗ tương ph thuộc lẫn nhau giữa các hiện tượng, sự giữ gìn, bảo tồn, củng c các nguồn tài nguyên, làm tăng trưởng tái sinh các nguồn tài nguyên, tính bất vụ lơi không bóc lột những người khác để bảo đảm được sự công bằng giữa các thế hệ, bảo vệ bảo tồn các nguồn tài nguyên cho các thế hệ sau như tính pháp lý giữa các thế hệ, quảnđầu ra, các phương tiện các phương thức theo một phương cách có kế hoạch, có mục đích, có hiệu quả, tự tin (Batt S.R. n.d). Trái với nền kinh tế hiện tại nhắm vào việc bảo vệ quyền lợi cá nhân của người tiêu dùng nhắm vào mục tiêu lợi nhuận, dựa trên nền tng của cái có- của sự chiếm đot sở hữu, Pht giáo đưa ra một mô hình thay thế về n a cho”, của sự hy sinh, sự từ bỏ, của a bình, a hợp hợp tác, của tính hợp pháp tuân th các điều kiện môi trường nhằm hướng đến mục tiêu tối hậu sự an vui cho tn thể nhân loại. Như Đức Pht đã từng dạy các đệ tử của mình: Này các Tỳ-kheo! Hãy đi hành hóa sự an vui của mọi người, vì hạnh phúc của mọi người; hãy tỏ lòng từ bi đối với chúng sanh trên cả thế giới, hãy đi hành hóasự tốt đẹp, vì lợi ích của thiên nhân (Batt S.R. n.d). Đây chính một phương thức mới, những cách nhìn mới, những kh năng trực giác sâu hơn, một lý do mới cho vic chuyn đi mang tính biến chuyn. Trong sự thay đổi này, mấu chốt của nền kinh tế không phải lợi nhuận sự phục vụ, không phải sụ bóc lột sử dụng các nguồn tài nguyên. Việc cho (bố thí) không thể được xuất phát từ động ích kỷ
 


đt được danh vọng hay sự nổi tiếng, hay quyền lực tiếng tăm. Đó cũng không phải sự thỏa n bản thân hay nhằm mục đích tìm kiếm những mối lợi có đi có lại. Đó cho không ích kỷ. Đó sự sẻ chia các phương tiện vật chất tinh thn. Đó một nền kinh tế chú ý nhu cầu của mỗi người, chứ không phải sự ham muốn tham lam. Chúng ta cũng bắt gặp quan điểm này trong phát biểu của Sivaraksa2: Hạnh phúc thực sự (của nhân) không phải chỉ tìm trong vật chất hay (trên bình diện quốc gia) theo đuổi một sự tăng trưởng không giới hạn, thay vào đó, phải bắt đầu đi tìm an lạc trong tâm hồn (dẫn theo Trần Thúy Ngọc 2012, p. 35).
Với những quan điểm đó, ng Pht giáo đã có một lựa chọn dứt khóat về con đường PTBV hn chế sự tăng trưởng kinh tế vô độ, thay vào đó tăng trưởng sự giàu có tâm linh tôn trọng, bo v môi trường. Điều này giúp chúng ta nhìn nhn lại những được mất của con người trong nền kinh tế thị trường để điều chỉnh nhu cầu tạo ra sự hài hòa, n bằng đời sống vật chất, tinh thn. Thực tế chúng ta thấy, giữa một hội tiêu dùng với một khối lượng của cải đồ s con người phương Tây vẫn phấp phỏng lo âu, cô đơn trong hiện hữu. Bởi thế, duy trì nếp sống quân bình như lời Pht dạy một điều cần thiết hiện nay. Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ, công bằng hội, phải bảo vệ môi sinh con người, để con cháu chúng ta còn được những gt hái ca a ng ngày mai.
    1. Vấn đề môi trường
T xa xưa, thuyết Duyên khởi của Pht giáo đã cho thấy mối quan khăng khít giữa con người tự nhiên: Cái này hiện hữu thì cái kia hiện hữu. Cái này không thì cái kia không. Cái này sinh thì cái kia sinh. Cái này diệt thì i kia diệt. Từ lời dy bao hàm đy đủ khái niệm về sự vận động không ngừng của trụ của Đức Pht, không khó để nhn thấy chúng ta cũng một thực thể của trụ n nếu ta gây tổn hại đến người khác, đến các loài khác, đến môi sinh thì không ai khác chính chúng ta tự làm hại mình. Theo đó, vạn vật trên thế giới này có sự liên hệ mật thiết với nhau, lệ thuộc vào nhau. Con người có mặt thì giới tự nhiên có mặt, hoặc giới tự nhiên không



2. Sivaraksa một Pht tử Thái Lan, tác giả của cuốn Trí tuệ trong Phát triển bền vững: Kinh tế Pht giáo trong thế kỷ XXI, người được 2 lần đề cử Nobel H bình nhn giải Right Livehood Award của Pht giáo.
 


có mt thì con người kng có mt. Trong mi tương liên kng ngừng nghỉ y, con người vừa như một sản phẩm tự ý thức của thiên nhiên lại vừa lệ thuộc vào thiên nhiên. Chân lý đó của Đức Pht hoàn toàn phù hợp với quy lut sinh tồn tự nhiên. Trong chui tự nhiên đó, loài này nguồn sống của loài kia vy, nếu một mắt xích trong chuỗi đó bị cắt đứt sẽ làm đảo lộn, thay đổi dn đến tu vong.
T một tầm nhìn trụ như vy, Pht giáo chủ trương yêu thương từ bi với tt cả, hành vi của ta đối xử với thế giới xung quanh như thế nào cũng chính cách con người tự đối xử với chính mình như vy, tầm vóc nhỏ bé hay lớn lao của con người tuỳ thuộc vào việc họ có nhn thức ra thể hiện mối tương quan vô tn giữa mình với thế giới xung quanh hay không, hay chỉ gói gọn mình trong sự tho n những giác quan thể chấtnhân. Chính thế, trong các kinh điển nguyên thủy, Đức Pht có rất nhiều lời dạy liên quan mật thiết đến việc bảo vệ môi trường tự nhiên. Đức Pht Ngài dạy rằng: Trồng cây cho ta bóng mát, ngoài việc thanh lọc không khí, còn bảo tồn trái đất, đó điều lợi lạc cho tất cả mọi người cho cả bn thân ta(dn theo Thích Huệ Thông n.d). Trong kinh Vinaya- matrka-sastra, Ngài i: Một T kheo trồng ba loại cây: cây ăn trái, cây cho hoa cây cho để cúng ờng Tam bảo thì sẽ ân hưởng sự gia trì và sẽ không phm tội(dn theo Thích Huệ Thông n.d). Trong kinh Suru of Fifty Encounters, Ngài còn nhn mnh: Nếu một vị Bồ tát nhìn thấy một vùng đất khô cằn không một ngọn cây hay giếng nước nào, ngài sẽ phải y giếng trồng cây vì lợi ích cho chúng sinh (dẫn theo Thích Huệ Thông n.d)…
Kinh T bi đã thể hiệntưởng bình đng về sự sống: Nguyện cho tất cả các loài sinh vật trên trái đất đều được sống an lành, những loài yếu, những loài mạnh, những loài cao, những loài thấp, những loài lớn, những loài nhỏ, những loài tathể nhìn thấy, những loài ta không thể nhìn thấy, những loài gần, những loài ở xa, những loài đã sinh ra những loài sắp sinh. Nguyện cho đừng loài nào sát hại loài nào, đừng ai coi nh tính mạng của ai, đừng ai giận hờn hoặc ác tâm mong cho ai bị đau khổ khốn đốn (dn theo Thích Huệ Thông n.d). Khi đề ra giới cấm t sinh, Đức Pht đã đang giáo a hàng đệ tử của mình thực thi giáo lý từ bi nhưng cũng tr về với quy luật tự nhiên, hn chế can thiệp vào tự nhiên để thỏa n mục đích của mình, đó
 


cũng cách hữu hiệu để bảo vệ môi trường, bảo vệ cuộc sống của chính con người. Theo giáo luật của Pht giáo, hàng năm, chúng đệ tử xuất giaba tháng an kiết hạ để tập trung tu học giáo , kiểm chng li quá trình tu tập ca mi tăng ni. Truyền thống đó của Pht giáo xuất phát từ tưởng từ bi của Đức Phật, ba tháng an của tăng đoàn cũng trùng vào mùa mưa của nước Ấn Độ xưa, việc hạn chế đi lại vào ba tháng mùa mưa cũngđể tránh vô tình t hại những sinh linh nhỏ như các loại sâu bọ, côn trùng. Đó vừaminh chứng về tinh thần bác ái mà đạo Pht chủ trương, vừa là hành động tích cực thể hiện tình yêu thiên nhiênthái độ có trách nhiệm đối với môi trường của mỗi người con Phật.
Còn theo truyền thống của Pht giáo Bắc tông, vấn đề ăn chay của Tăng Ni, Pht tử cũng một giải pháp hữu ích đối với vấn đề môi trường. Ngoài những tác dụng với con người về mặt sức khỏe đã được chứng minh, việc thực hành ăn chay cũng đem lại những tác dụng thiết thực cho vấn đề môi trường, giúp cải tạo n bằng môi trường sống. Việc hn chế không sử dụng những sản phẩm từ động vật sẽ giúp một s loài tránh khỏi nguy diệt chủng, vĩnh viễn không còn tồn tại trên thế giới. Việc chủ trương ăn chay do Pht giáo Bắc tông khởi xướng không chỉ đem lại những lợi ích thiết thực cho người phát tâm thực hiện, tạo chuyển biến trong suy nghĩ của mọi người về vấn đề i trường việc giữ gìn, bo vệ i trường.
Hiện trng môi trường sinh thái của chúng ta ngày nay đã khng định cái nhìn đúng đn của Pht giáo về môi trường, về mối quan hệ khăng khít giữa tự nhiên và con người. Trong xã hi văn minh, hiện đại ngày nay, con người đã đt đến trình độ khoa học kỹ thuật cao, điều đó cho pp con người lý giải được nhiều hiện tượng tự nhiên trước đây chưa thể giải thích được. Điều đó cũng khiến con người cho rằng mình đã chế ngự được tự nhiên, bắt tự nhiên phải phục tùng thế con người cũng làm nhiều việc trái với tự nhiên, khai thác, bóc lột tự nhiên một cách thái quá. Hậu quả của những việc làm này môi trường bị tàn phá nghiêm trọng, cuộc sống của loài người ngày ng đến gần hơn với những hiểm họa của sự diệt vong. Không phải ngẫu nhiên những cơn bão lũ, những trn động đt, sóng thần, lốc xoáy đều để lại những hậu quả khôn lường, cướp đi sinh mạng của hàng nn con người. Tác nhân gây n không ai khác chính con người. Sự bùng nổ của các nnh
 


công nghiệp, sức ép về dân số, quá trình đô thị a nhanh chóng, vấn đề biến đổi khí hậu, mất n bằng về sinh thái, khai thác kiệt quệ các nguồn tài nguyên tự nhiên… do con người trực tiếp hay gián tiếp gây ra đã làm thay đổi cuộc sống của chính con người. Nhng tiếng kêu cứu: Phi đặt lại vn đề phát triển, phi bo v thiên nhiên, phi thay đi thói quen tiêu ng,… đu từ mối lo v sự tồn vong của loài người. T nhãn quan của Pht giáo, TS. n Tâm, Đại học Gottingen (CHLB Đức) cho rằng: Cuộc khủng hoảng được gọi “khủng hoảng sinh thái”, thực chất cuộc khủng hoảng văn hóa tâm linh, phát sinh từ Tham n Si của con người. Đức Phật đã trao tặng cho Phật tử chúng takhí Bi T Dũng đ đối trị Tham n Si, để y dựng nếp sống an vui, giải thoát cho mình, cho người cho muôn loài (n Tâm, n.d). Đó cũng cách thức rất đáng suy ngẫm để nhân loại hôm nay có thể chung tay bảo vệ môi trường sống, đảm bảo sự phát triển bền vững cho tương lai.
    1. Vn đề hội
Luận n về hội cũng chính đề cập đến các vấn đề giai cấp, đấu tranh giai cấp, giàunghèo, công bằng hội, lối sống, đạo đức Đây cũng những yếu t bản chi phối trực tiếp đến tiến bộ hội, một trong những yếu t quyết định đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia hay tn cầu.
Có ý kiến cho rằng, sau chiến tranh thế giới II, sự giàu có nhanh chóng làm giảm s lượng người nghèocác nước phát triển. Cùng với tiến trình tn cầu hóa, đa s công dân các nước phát triển giờ đây thuộc về một tng lớp trung lưu tn cầu, người nghèo thiểu số; nhưng cũng chính tiến trình này đang đẩy sự bất bình đng từ phạm vi nội bộ của từng quốc gia n tầm bất bình đng giữa các quốc gia, dân tộcmức độ tn cầu. Khi của cải sự giàu có chung của tn nhân loại đang tăng n thì sự tồn tại của những người sống ở dưới mức nghèo khổ những nước nghèo khiến cho sự bất bình đng ng không thể chấp nhận, không còn giống như trước đây,sự thiếu thốn của cải nghèo đói phổ biến nhưng lại không phải sự thể hiện tập trung cho bất bình đng tn cầu. Chính thế, sự bất bình đng còn đáng sợ hơn sự nghèo đói. Ngoài vấn nn tn cầu sự bất bình đng về phân chia của cải sử dụng tài nguyên thiên nhiên, hội hiện đại còn mắc phải n bệnh trầm kha về thương tổn tinh thn sự thiếu hụt đời sống
 


n trong, như một phn ánh tt yếu sự phát triển thiếu n bằng của đời sống vật chất n ngoài. Sự chuyển đổi của n a hội đời sống chính trị đãnhân a đời sống hội của con người. Con người dn thiếu ý thức về cái chung, về cộng đồng, “rút ra thu mìnhlại trước “xã hi. Con người trở nên khó tìm được đim thăng bằng giữa sự tự do an tn thay vào đó “bất ổn của sự tồn tại” dường như đã tr thành điều kiện phổ quát cho sự sống con người (Trn Thúy Ngọc 2012, tr 32). Nhng lí do để đy một cá nhân tr thành tội phạm chống lại hội thường sự không được thừa nhận, thiếu sự tôn trọng nỗi hoảng sợ bị loại bỏ khỏi cộng đồng. Chiến tranh đói nghèo - sản phẩm của quá trình tn cầu a khiến con người sống trong điều kiện bất ổn hơn nhiều so với quá khứ, khiến họ suy giảm niềm tin vào chính mình với cộng đồng một cách tự nhn. Con người tr n thiếu sự khoan dung thế ng dễ xảy ra xung đột, mâu thuẫn hơn. Nhiều bằng chứng trong lịch sử trên thế giới cho thy rằng việc gia tăng nỗi sợ hãi hậu quả của sự bất bình đng vt chất môi trường phân biệt đối xử. Rõ ng, quá trình công nghiệp hóahiện đại hóa, đã đưa nhân loại đến những thành tựuđại về khoa học kỹ thuật, chưa bao giờ loài người tiến bộ như hôm nay, nhưng cũng chưa bao giờ con người lại phải lo âu như thời hậu hiện đại. Sự phát triển của n minh nhân loại, đã đưa con người thoát khỏi đói nghèo lạc hậu vòng kim nghiệt n của thiên nhiên nhưng đồng thời lại tạo n những sự lệ thuộc mới, những vòng xoáy mới. Tình trng khủng hoảng về đạo đức, về thn tượng, sự lệch chuẩn về lối sống đã dẫn đến sự tê liệt của niềm tin hy vọng. Mất những tiêu chuẩn tưởng cuộc sống, con người dễ rơi vào trng thái hoang mang, khủng hong, đơn độc. Điều nàyđãkhiến không ít người, trong đó thanh niên sa chân vào những vũng bùn của tội lỗi, ma y, cờ bạc, mại dâm, rượu chè, hối lộ, tham nhũng, bất hiếu, bất nghĩa, làm ng hoại đạo đức, xói mòn niềm tin cuộc sống. Đó nguyên nhân sự bất ổn, khủng hoảng của hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến mục tiêu phát triển bền vững của mỗi quốc gia nói riêng tn cầu nói chung.
Trước thực tế đó, tìm đến với giáo thuyết của Pht giáo về các vấn đề hội chúng ta sẽ không khỏi ngạc nhiên về sự tiến bộ, về nhãn quan vượt thời đại của tôn giáo này. Cách đây hàng trăm thế kỉ, Pht giáo đã có sẵn câu tr lời cho tình trng “khủng hoảng hội” hin nay. Pht dy: “Tt cchúng sinh đều có Pht tính tt hu (Nguyễn Minh Tiến 2010, p. 75) cho n đối với quan hệ giữa
 


người người một quan hệ tuyệt đối bình đẳng, không có người cao thượng hay n h phân biệt giai cấp, không có tôn ti phân biệt nam nữ, cũng không có hng giáo dục được hng người nào không giáo dục được. Bởi lẽ cao thượng hay n h do hành vi con người chứ không do giai cấp. Không thể nói trong giới quí tộc không có người n hạ, cũng như không thể nói trong giới bình dân không có người cao thượng. Tư tưởng bình đng trong đạo Pht dạy con người phá bỏ sự phân chia giai cấp. Điều này Pht dạy trong nhiều kinh, chính tự thân Đức Pht tự thân thực hiện trong việc độ người xuất gia sinh hoạt bình đng trong tăng đoàn. nét nht, Pht dạy: Không ai sinh ra tiện dân, không ai sinh ra la môn. Do hành vi con người thành tiện dân, do hành vi con người thànhla môn. (dn theo Thích Quang Thắng 2012) Khi mọi người, mọi loài đều bình đng thì s không còn xung đột, không còn chiến tranh, không còn sự lo âu, hoảng sợ, đó sẽ tiền đề đầu tn để hình thành hội công bằng a bình.
Pht giáo một trong những tôn giáo đề cao tính hướng thiện với những quy tắc đạo đức hết sức ng được thể hiện đầy đủ trong giáoN giới, Thập thiện,… Tính hướng thiện của Pht giáo một trong những nguồn gốc của chủ nghĩa nhân đạo,tưởng bình đẳng, a bình của Pht giáo phù hợp với xu hướng a đồng liên kết giữa các dân tộc trên thế giới trong xu thế tn cầu a hiện nay, lòng từ bi, bác ái góp phn cứu giúp người hoạn nạn, giữ vững tinh thn nh đùm rách của dân tộc, triết lý vô thường, vô n giúp con người giảm bớt cái i vị k Những giá trị tích cực đó của đạo đức Pht giáo ng được nhân n với những hành động cụ thể như kẻ đói được cho ăn, kẻ rách được cho mặc, người ốm đau bệnh tt được chăm sóc Đạo đức Pht giáo khuyên con người luôn nhớ đến đo hiếu, ly chữ hiếu làm đu: “Hạnh hiếu là hạnh Phật, tâm hiếu là tâm Phật, mn vic ở thế gian không gì hơn công ơn ni dưỡng của cha mẹ. Bên cnh đó, li sng Pht giáo nêu cao tinh thn trn lạc đạo” đã góp phn xây dựng lối sống có trách nhiệm với một ý thức không tham quyền c vị, không bám lấy lợi ích vật chất, sống thanh cao tự tại.
Như vy, bằng giáo thực tiễn được xây dựng trên tinh thn từ bi, bình đẳng, đạo đức nhân bản của con người, Đạo Pht đã cải thiện đời sống tâm linh, làm bớt đi tham ái, n hận, để thay vào đó sự h xả với nhau, thương yêu đùm bọc nhau, chia sẻ cho nhau
 


những kinh nghiệm tri thức, những tài sản vật chất, phúc lợi hội, để cùng phát triển trong sự n đối giữa trí tuệ vật chất, thể xác tâm hồn, hay giữa người với người trong cộng đồng hội. Và như vy, Đạo Pht đã xây dựng cho con người một định hướng về hi thun lương, cn thin m. Trong xã hi y, tham sân si, khổ đau, bt công s không còn hiện hữu. Đức Phti: Nơi nào tình thương, chân thật, bình đẳng, công bằng thì nơi ấy khôngkh đau. Vì nguyên nhân của kh đau tham dục đã bị đoạn trừ. Và chính đấy cũng một thế giới hoàng kim, thiên đường, cực lạc tại nhân gian (Trung Bộ Kinh, dn lại Thích Thiện Nhơn).
  1. KẾT LUN
T bản chất, đạo Pht một khoa học, khoa học về đời sống nội tâm cải biến nội tâm. Khác với nhiều luận thuyết giáolấy sự ph thuộc n trên làm n bản, đạo Pht lấy chính nội tâm con người làm n bản. Nói cách khác, nếu thực tập thực nghiệm nội tâm đúng cách, ta sẽ có an lạc chân chính, sẽ xây dựng cuộc đời thực ngay trong hiện tại. Đó chính sở quan trọng để ta nói đến tính bền vững của nhân tính trong con người ta. T quan điểm đó, đi với vn đề PTBV, Pht giáo kng chỉ chtâm hướng đến chính quyền tới từng con ngườinhân sống trên trái đt này. Mục tiêu của sự PTBV theo Pht giáo làm sao xây dựng được một nhân tính bền vững, n sự tỉnh thức, giác ngộ, hối cải tự chuyển a nội tâm của chính mỗi con người cũng quan trọng không kém việc nhà nước hoạch định chính sáchtầm vóc quốc gia, một khi đã vượt qua giới hn hẹp hòi của dục lạcnhân, mỗi con người sẽ tác động tr lại thế giới ở mức độ vượt s ít. Cht lượng tự nó sẽ làm n s lượng. Khi được hỏi về việc làm sao để thực hành PTBV theo tinh thn Pht giáo, Sirvaraska đã tr lời: Không cần phải thuyết phục toàn thể hội trở nên khiêm tốn hơn. Đó phương pháp của Tây phương, phải bắt đầu với hạnh phúc nhân, giúp đỡ người khác cảm thấy người khác quan trọng hơn chính mình. Ta phải tự hỏi mình, làm thế nào để người này hạnh phúc? Khi con người thay đi, chính phủ sẽ thay đi.(Laszlo Zsolnai 2008, trích dn trong Trần Thúy Ngọc, 2013). Chúng i chủ quan nghĩ rằng đây chính cách thức hữu hiệu đạo Pht đã chỉ dn để giải quyết tn gốc các vấn đề đang đt ta hiện nay nhằm đt được sự phát triển bền vững cho nhân loại hôm nay mai sau.



 

Tài liệu tham khảo

Đoàn Minh Huấn, Nguyễn Quỳnh Trâm (2014), “Giáo dục Pht giáo với phát trin bn vng, Tp chí Nghiên cứu Tôn go, số 10 (136), tr 70 – 79.
Laszlo Zsolnai (ed.), Sustainability and Sufficiency: Economic Development in a Buddhist Perspective, Society and Economy, Budapest, 2008.
n Tâm, Đạo Phật đối với vấn đề phát triển lâu bền bảo vệ môi trường, https://thuvienhoasen.org/a4368/dao-phat-doi-voi- van-de-phat-trien-lau-ben-va-bao-ve-moi-truong-le-van-tam, 30/08/2010.
Nguyễn Minh Tiến (2010), Tng quan kinh Đại Bát Niết bàn, NXB Tôn giáo, tập 2, tr 75
S.R. Batt, Kinh tế Phật giáo, https://www.niemphat.vn/down- loads/thuyet-phap/phat-giao-va-doanh-nhan/kinh-te-phat- giao-gsts.-s.r.-batt.pdf
Thích Huệ Thông, Pht giáo với mục tiêu phát triển bền vững về bảo vệ môi trường,http://daophatngaynay.com/vn/files/sach/ vesak2014/ws2_17_vn_Phat_giao_voi_muc_tieu_phat_trien_ ben_vung_ve_bao_ve_moi_truong_197906458.pdf.
Thích Phước Đạt, Spháttriểnkinhtếnhìnttriếtlý Phậtgo https:// giacngo.vn/PrintView.aspx?Language=vi&ID=5EE240.
Thích Thanh Thng, V phương châm “Đạo pháp n tộcCh nghĩa hội, https://huongdanphattu.vn/news/Lich-su-Phat- giao/Ve-phuong-cham-Dao-phap-Dan-toc-Chu-nghia-Xa- hoi-501/, 22/03/2012.
Thích Thiện Nhơn, Sự đóng góp của  Pht  giáo  về  công bằng hội, https://giacngo.vn/PrintView.aspx?Lan- guage=vi&ID=5EC013.
Trần Thúy Ngọc (2012), “Phát triển bền vững dưới góc nhìn Pht giáo, số 3/2012, tr 30 – 36.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây