VAI TRÒ CỦA MỘT SỐ TĂNG NI VÀ CƯ SỸ TRONG QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI LÀO

Thứ hai - 09/12/2019 01:42
VAI TRÒ CỦA MỘT SỐ TĂNG NI VÀ CƯ SỸ TRONG QUÁ TRÌNH
HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI LÀO

 
PGS.TS. Chu Văn Tuấn
 
Tóm tắt
Phật giáo Việt Nam du nhập vào Lào từ lâu, nhưng để hình thành nên những cộng đồng rõ nét với cơ sở thờ tự, đội ngũ tăng ni, tín đồ,… thì phải đến những năm 20 của thế kỷ 20, khi những ngôi chùa đầu tiên được xây dựng. Quá trình hình thành, phát triển Phật giáo Việt Nam tại Lào trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm. Có những lúc, do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhiều ngôi chùa bị bỏ hoang, không có sư trụ trì trong một thời gian dài. Trong quá trình hình thành phát triển của Phật giáo Việt Nam tại Lào tính từ đầu thế kỷ 20 đến nay, có nhiều vị tăng ni, cư sỹ Phật tử đã có nhiều đóng góp trong việc xây dựng, trùng tu các ngôi chùa, xây dựng cơ cấu tổ chức tại các ngôi chùa, tổ chức các hoạt động phật sự, độ tăng, quy y cho tín đồ,... Bên cạnh đó, vai trò của cộng đồng Việt kiều tại Lào, nhất là những tín đồ Phật giáo cũng rất quan trọng. Không chỉ đóng góp công sức, tiền của cho việc xây dựng, trùng tu các ngôi chùa, cộng đồng Việt kiều, đặc biệt là Hội Phật giáo các tỉnh thành đã tham gia vào quản lý các ngôi chùa, thỉnh tăng ni đến trụ trì, cùng với các vị trụ trì tổ chức các hoạt động hướng đến cộng đồng người Việt Nam tại Lào. Mặc dù có mặt tại Lào đã lâu, nhưng những tư liệu thành văn về quá trình hình thành, phát triển của Phật giáo Việt Nam tại Lào lại rất ít, tại các ngôi chùa cũng hầu như không có bia hay tư liệu nào về qúa trình xây dựng, trùng tu, các đời trụ trì,... khiến cho việc nghiên cứu gặp nhiều khó khăn. Bài viết này dựa trên một số tài liệu ít ỏi hiện có và tài liệu điền dã vào tháng 9/2019 của tác giả để làm rõ một khía cạnh trong quá trình hình thành, phát triển Phật giáo Việt Nam tại Lào, đó là vai trò, đóng góp của một số vị tăng ni, cư sỹ như Hoà thượng Thích Nhật Liên, Hoà thượng Thích Trung Quán, Hoà thượng Thích Thanh Tuất, Hoà thượng Thích Minh Lý,  ông Trình Văn Phú,...
Từ khóa: Vai trò của tang ni, cư sĩ; cộng đồng người Việt Nam tại Lào, Phật giáo Việt Nam tại Lào

 
  1. Sự hình thành cộng đồng người Việt Nam tại Lào
Quá trình du nhập Phật giáo Việt Nam vào Lào gắn liền với quá trình di cư của người dân Việt Nam đến Lào và hình thành cộng đồng người Việt Nam tại Lào. Do đặc điểm về mặt địa lý, Việt Nam và Lào có  chung đường biên giới kéo dài từ các tỉnh Tây Bắc đến tận các tỉnh miền Trung Tây Nguyên nên việc di cư của người Việt sang Lào cũng là tất yếu. Theo một số tài liệu, những người Việt đầu tiên sang Lào bắt đầu từ thế kỷ 15, thời vua Lê Thánh Tông[1]. Tiếp theo, trong các thế kỷ 16, 17, 18, nhất là trong thời kỳ Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã có những người Việt Nam sang Lào và ở tại Lào theo những lý do khác nhau. Tiến đến, những năm đầu thế kỷ 19 tiếp tục có những người Việt Nam sang Lào để kiếm sống và trốn tránh sự bách hại Công giáo của triều đình nhà Nguyễn[2]. Tiếp theo, trong giai đoạn Pháp cai trị Lào, rất nhiều người Việt Nam bị đưa sang Lào để làm việc trong các đồn điền cao su, các công trường,... Ngoài ra, một số lượng không nhỏ người Việt Nam trong quá trình đấu tranh chống Pháp thất bại cũng chạy sang Lào và ở lại Lào. Quá trình người Việt Nam di cư sang Lào vẫn tiếp tục diễn ra trong các giai đoạn sau này, và đến những năm đầu thế kỷ 20 đã hình thành một cộng đồng người Việt Nam đông đảo ở Lào, có mặt ở hầu khắp các tỉnh ở Lào, nhưng đông nhất là Viêng Chăn, Savannakhet, Champasak,... Năm 1938, Hoà thượng Thích Trí Hải đã có dịp sang Lào, đến Viêng Chăn, Hoà thượng đã có nhận xét “có một điều đáng chú ý là tuy gọi là xứ Lào mà số người Việt Nam có tới 80-90%, còn người bản xứ và người Tàu, người Tây rất ít”[3].
Cộng đồng người Việt Nam ở Lào chia làm 3 loại: 1. những người đã có quốc tịch Lào, sống ở Lào nhiều đời, số này có khoảng 20.000 người; 2. Những người Việt kiều (chưa có quốc tịch Lào), số này cũng khoảng 20.000 người; 3. Và những người mới sang Lào làm ăn, lao động tự do,... số này khoảng 10.000 người[4]. Đây là những số liệu cách đây khoảng hơn chục năm, đến thời điểm hiện tại (2019) có thể số lượng người Việt Nam ở Lào đã tăng hơn nhiều.
  1. Quá trình phát triển Phật giáo Việt Nam tại Lào
Cộng đồng người Việt Nam di cư sang Lào có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau nhưng chủ yếu là theo tín ngưỡng truyền thống (thờ cúng tổ tiên…), theo Phật giáo và một bộ phận theo Công giáo. Khi sang Lào sinh sống, những cư dân người Việt vẫn giữ truyền thống niềm tin và thực hành tín ngưỡng, tôn giáo của mình. Những cư dân là tín đồ Phật giáo, ban đầu họ đến các ngôi chùa Phật giáo của Lào để sinh hoạt. Tuy nhiên, Phật giáo Lào theo truyền thống Theravada vốn khá xa lạ với những cư dân Việt Nam có nguồn gốc từ các tỉnh phía Bắc. Khi những người Việt Nam tại Lào đã hình thành những cộng đồng ổn định thì đồng thời họ cũng xây dựng những nơi thờ tự để thực hành niềm tin tôn giáo. Bên cạnh những ngôi chùa, người Việt ở Lào còn xây dựng đền thờ Đức Thánh Trần, đền thờ Mẫu, đình thờ Thành hoàng, Năm 1938, khi Hoà thượng Thích Trí Hải sang Viêng Chăn theo lời mời của Hội khuyến thiện của các Việt kiều ở Lào, Hoà thượng đã có dịp dừng chân tại đền thờ đức Thánh Mẫu, Đức Thánh Trần[5]. Ban đầu, những nơi thờ tự Phật giáo được xây dựng đơn giản, dần dần qua thời gian được trùng tu, xây dựng khang trang như hiện nay. Những tài liệu ghi nhận, những ngôi chùa Việt Nam được xây dựng sớm nhất ở Lào là vào những năm 20 của thế kỷ 20. Đó chính là ngôi chùa Bảo Quang tại tỉnh Savannakhet, đây là ngôi chùa Việt Nam theo hệ phái Bắc tông được xây dựng sớm nhất tại Lào[6].
Quá trình hình thành phát triển của Phật giáo Việt Nam tại Lào có thể chia ra làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1 - du nhập (trước thế kỷ 20): từ khi xuất hiện cộng đồng người Việt Nam đến Lào khoảng thế 15 đến thế kỷ 19. Đây là giai đoạn Phật giáo được những người Việt Nam mang đến Lào, lúc này chưa có tổ chức giáo hội, cũng chưa có các cơ sở thờ tự. Có thể trong giai đoạn này, cộng đồng người Việt theo Phật giáo ở Lào đi chùa của người Lào hoặc thờ Phật tại gia đình. Cũng có thể, trong giai đoạn này, nhất là những năm cuối thế kỷ 19, có thể đã xuất hiện những cơ sở thờ Phật đơn sơ, qui mô nhỏ tương tự như các am thờ Phật của các gia đình hay của chung cộng đồng.
Giai đoạn 2 - hình thành các ngôi chùa Việt: (từ những năm đầu thế kỷ 20 đến khi thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam năm 1981). Giai đoạn này đánh dấu bằng việc xây dựng một số ngôi chùa Việt Nam như chùa Bảo Quang (trước 1932), tỉnh Savannakhet, chùa Diệu Giác (1932), tỉnh Savannakhet, chùa Trang Nghiêm (1938), tỉnh Champasak; chùa Bàng Long (1943), tại Viêng Chăn; chùa Kim Sơn (năm 1945)[7] tỉnh Chămpasac. Theo tấm  bia của chùa Kim Sơn thì ngôi chùa được con trai của cựu Hoàng Thành Thái xây dựng và đồng thời làm sư trụ trì đầu tiên của chùa[8].
Căn cứ vào ghi chép của Hoà thượng Thích Trí Hải trong chuyến đi Lào năm 1938 thì có thể nói, trước năm 1938, ở Viêng Chăn chưa có ngôi chùa Việt Nam nào[9]. Trong khi đó nhu cầu của phật tử Việt kiều tại Viêng Chăn muốn có một ngôi chùa Việt là rất lớn. Trong chuyến đi này, Hoà thượng Trí Hải và sư ông Đại Hải đã làm lễ quy y cho 115 người. Sau chuyến đi, vào ngày 15 tháng 1 năm 1940, Hội phật giáo Việt kiều ở Viêng Chăn được thành lập (đổi từ Hội Khuyến thiện sang) trong một thời gian ngắn đã có 3.000 hội viên, hội do ông Trịnh Văn Phú làm Hội trưởng[10]
Có thể nói, từ những năm đầu thế kỷ 20 đến 1981 là giai đoạn hết sức quan trọng trong quá trình phát triển Phật giáo Việt Nam tại Lào, quyết định diện mạo Phật giáo Việt Nam tại Lào như hiện nay. Giai đoạn này có đóng góp của một số vị tăng sỹ tiêu biểu của giáo Hội Phật giáo Việt Nam như Đại đức Thích Thiện Liên, Hòa thượngThích Trung Quán (1918-2003), Hòa thượngThích Thanh Tuất, Hòa thượngThích Nhật Liên (1923-2010), Hòa thượngThích Quảng Thiệp, Hòa thượngThích Minh Lý, Hòa thượngThích Tố Liên (1903-1977), Đại đức Thích Đại Bái và Thích Đại Hải (trụ trì chùa Bàng Long những năm mới thành lập), Hòa thượngThích Nhật Trung (thế danh Đoàn Hữu Thạch), Ni sư Thích Nữ Diệu Thiện, v.v..
Hoà thượng Thích Nhật Liên (1923-2010): Ngài là một trong những người có công đầu trong quá trình xây dựng, phát triển Phật giáo Việt Nam tại Lào. Hoà thượng thế danh là Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, sinh ngày 13/10/1923 tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Năm 13 tuổi, Hoà thượng được sự dìu dắt của Hoà thượng Thích Đôn Hậu, đã xuất gia với Hoà thượng Thích Giác Nguyên, trụ trì chùa Tây Thiên Di Đà tại Huế. Năm Hoà thượng 33 tuổi, ngài được cử sang Lào hoằng pháp theo thư thỉnh nguyện đề ngày 25/11/1955 của ông Trnh Văn Phú và Đại đức Thích Thiện Liên, trụ trì lâm thời chùa Bàng Long. Tại Lào ngài được suy tôn làm Đạo thống Phật giáo Việt Nam tại Lào, kiêm trụ trì chùa Bàng Long (Hoà thượng là trụ trì đời thứ ba). Trong thời gian ở Lào, Hoà thượng đã có nhiều công lao phát triển Phật giáo Việt Nam như xây dựng, trùng tu các ngôi chùa, xây dựng cơ cấu tổ chức của Phật giáo Việt Nam tại Lào. Ở cấp Trung ương có Toà Đạo thống và Viện Hành pháp, ở địa phương có Ban Đại diện Phật giáo tỉnh. Năm 1969, ngài bị chính quyền Lào trục xuất về nước với lý do an ninh quốc gia[11].
Hòa thượngThích Trung Quán (1918-2003): Ngài là một trong số những vị có nhiều công lao trong việc xây dựng, phát triển Phật giáo Việt Nam tại Lào. Năm 19 tuổi, ngài xuất gia tu hành, lạy Hoà thượng đệ nhất Pháp chủ Thích Đức Nhuận làm nghiệp sư. Năm 1959, lúc hoà thượng 41 tuổi, ngài được Hoà thượng Thích Thanh Tuất cung thỉnh sang hoằng pháp tại Lào. Trong thời gian gần 20 năm ở Lào (1959-1978), ngài được suy tôn làm trưởng ban hoằng pháp ở Viêng Chăn, và Luangphabang, đồng thời đã thành lập được 10 ngôi chùa Phật giáo Việt Nam tại Lào[12]. Trong thời gian ở Lào, Hoà thượng trụ trì chùa Bàng Long, độ được nhiều tăng ni, phật tử. Nhiều pho tượng trong các ngôi chùa Việt Nam ở Lào hiện nay là do ngài đắp. Năm 1978, Hoà thượng lên đường sang Pháp hoằng hương Phật pháp ở phương Tây theo lời mời của Hoà thượng Thích Chân Thường[13].
Hoà thượng Thích Thanh Tuất (không rõ năm sinh năm mất): Hoà thượng cùng với các Hoà thượng Nhật Liên, Trung Quán, Minh Lý đã có nhiều đóng góp đối với Phật giáo Việt Nam tại Lào những năm 50 của thế kỷ 20. Cụ thể, Hoà thượng cùng bà con Việt kiều ở Luangphabang trùng tu chùa Phật tích năm 1959. Năm 1969, Hoà thượng cho trùng tu chùa Pháp Hoa ở Savannakhet[14].
Hoà thượng Thích Minh Lý (không rõ năm sinh năm mất): Hoà thượng được suy tôn làm Trưởng ban Hoằng pháp các tỉnh miền Trung và Nam Lào[15]. Năm 1966, Hoà thượng có công trùng tu chùa Kim Sơn. Ngoài chùa Kim Sơn, theo tài liệu điền dã của tác giả, Hoà thượng Minh Lý và các Hoà thượng cùng thời khác còn đóng góp sửa sang, trùng tu nhiều ngôi chùa khác và trụ trì ở một số ngôi chùa trong một thời gian như chùa Pháp Hoa[16]. Chính vì vậy,ở một số ngôi chùa hiện nay, trong gian thờ tổ có thờ ảnh tượng, hoặc bài vị của các Hoà thượng như Hòa thuộng Nhật Liên, Hòa thượng Trung Quán, Hòa thượng Thanh Tuất, Hòa thượng Minh Lý.
Ni sư Thích Nữ Diệu Thiện (mất năm 2003, thọ 90 tuổi), ni sư là đệ tử của Hòa thượng Thích Nhật Liên, lúc này đang trụ trì chùa Bàng Long. Ni sư là người có công khai phá, xây dựng và bỏ ra rất nhiều công lao xây dựng chùa Phật Tích tại Viêng Chăn. Khi Ni sư phát nguyện xây dựng một ngôi chùa trên nền móng của một chiếc am nhỏ, đã thỉnh ý kiến của Hòa thượng Thích Nhật Liên, và Hòa thượng Nhật Liên đã đồng ý[17].
Nói đến quá trình hình thành, phát triển Phật giáo Việt Nam tại Lào, ngoài vai trò quan trọng của chư tăng, không thể không nhắc đến vai trò của các Phật tử, của cộng đồng Việt kiều ở đây. Có thể kể đến một số vị tiêu biểu như ông Trịnh Văn Phú, nguyên Hội trưởng Hội Phật giáo Việt kiều tại thủ đô Viêng Chănông Đỗ Đình Tảo. Ông Trịnh Văn Phú và ông Đỗ Đình Tảo là hai người đã làm đơn xin xây dựng chùa Bàng Long. Ông Phạm Văn Tuyên Hội trưởng Hội Phật tử ở Savannakhet, trưởng ban hộ tự chùa Bảo Quang và chùa Diệu Giác. Rất nhiều ngôi chùa được hình thành do một số cá nhân là Phật tử có tâm nguyện xây dựng nơi thờ Phật cho cộng đồng như trường hợp chùa Thanh Quang ở Champasak được hình thành và trông coi trụ trì bởi gia tộc họ Đoàn[18], chùa Bảo Quang được hình thành do gia tộc họ Đặng; chùa Trang Nghiêm (Chămpasak) được hình thành nhờ công lao của ông Lê Cửu, quan cửu phẩm của triều đình nhà Nguyễn[19]. Bên cạnh những cá nhân, gia tộc góp phần hình thành Phật giáo Việt Nam tại Lào thì vai trò của cộng đồng Việt kiều là Phật tử cũng vô cùng quan trọng trong việc đóng góp xây dựng, sửa chữa trùng tu các ngôi chùa. Nhiều ngôi chùa trong một số giai đoạn không có sư trụ trì, tất cả mọi công việc đều do cộng đồng Phật tử cùng nhau phụ trách.
Giai đoạn 3- từ năm 1981đến nay. Năm 1981 đánh dấu việc ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cũng từ đây sự giao lưu giữa Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Lào được tăng cường, nhiều tăng ni được Giáo hội Phật giáo Việt Nam cử sang Lào hoằng pháp. Cùng với sự lớn mạnh của cộng đồng Việt kiều tại Lào, Phật giáo Việt Nam tại Lào cũng có bước phát triển hơn trước. Trong giai đoạn này, chỉ có rất ít ngôi chùa được xây dựng mới[20], nhưng sự phát triển của Phật giáo Việt Nam tại Lào thể hiện ở chỗ: các ngôi chùa được trùng tu khang trang, to đẹp hơn. Chẳng hạn, chùa Phật Tích tại Viêng Chăn được trùng tu xây dựng năm 2010, chùa Pháp Hoa Seno trùng tu năm 2004, các ngôi chùa khác cũng được xây dựng thêm các công trình phụ trợ, nơi sinh hoạt. Cơ cấu tổ chức của các chùa cũng được hoàn thiện hơn, hầu như các chùa đều có sư trụ trì, các hoạt động của chùa được tổ chức thường xuyên hơn.
Trong giai đoạn này, sự kiện đáng chú ý nhất là việc thành lập Ban điều phối Phật giáo Việt Nam tại Lào, đánh dấu việc Phật giáo Việt Nam tại Lào chính thức có một tổ chức để thống nhất gắn kết các ngôi chùa, các cộng đồng Phật giáo Việt Nam tại Lào. Ban Điều phối đại diện cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam góp phần chăm sóc đời sống Phật giáo của Phật tử Việt kiều tại Lào, là cầu nối giữa Phật giáo Việt Nam tại Lào và Phật giáo trong nước. Ban Điều phối Phật giáo Việt Nam tại Lào hiện nay do Thượng tọa Thích Minh Quang, trụ trì chùa Phật Tích ở Viêng Chăn làm Trưởng ban.
Hiện nay, Phật giáo Việt Nam tại Lào có 13 ngôi chùa và 01 tịnh xá (xem phụ lục bên dưới).  Hầu hết các ngôi chùa đều có sư trụ trì và có ban hộ tự để tổ chức sinh hoạt Phật giáo. Trong số này, hiện chùa Bồ Đề ở tỉnh Khăm Muộn, chùa Đại Nguyện ở Viêng Chăn và chùa Nghĩa Trang ở Luangphabang là chưa có sư trụ trì. Hầu hết các ngôi chùa đều được xây dựng khang trang đáp ứng nhu cầu sinh hoạt Phật giáo của cộng đồng Phật tử Việt Kiều. Trước khi thành lập Ban điều phối Phật giáo Việt Nam tại Lào, các ngôi chùa, các cộng đồng Phật tử ở các nơi chưa gắn kết với nhau nhiều. Hiện nay, Ban điều phối đã và đang củng cố, hoàn thiện về mặt tổ chức, tăng cường các hoạt động gắn kết các ngôi chùa Phật giáo Việt Nam tại Lào, cũng như tăng cường các mối quan hệ của cộng đồng Phật giáo Việt Nam với Phật giáo Lào và Phật giáo Việt Nam.
Bên cạnh đó, Ban Điều phối đang thực hiện nhiều hoạt động từ thiện, y tế, giáo dục,... trong cộng đồng người Việt Nam tại Lào, góp phần nâng cao đời sống tinh thần, vật chất, giữ gìn văn hoá Phật giáo, văn hoá truyền thống Việt Nam, đồng thời tăng cường đoàn kết với nhân dân Lào, góp phần xây dựng đất nước Lào.
Một số khó khăn, hạn chế và vấn đề đặt ra
Mặc dù hiện nay, Phật giáo Việt Nam tại Lào đã có những điều kiện rất thuận lợi để phát triển, như được sự quan tâm, giúp đỡ của Chính phủ và Liên minh Phật giáo Lào, được sự quan tâm của Chính phủ và Giáo hội Phật giáo Việt Nam,... nhưng bên cạnh đó, vẫn còn có những khó khăn, hạn chế cần khắc phục. Để Phật giáo Việt Nam tại Lào phát triển bền vững trong thời gian tới, cần lưu ý một số vấn đề như sau:
Trước hết, hầu như các ngôi chùa Phật giáo Việt Nam tại Lào hiện nay chưa xây dựng được lịch sử của chùa, chưa có bia để ghi lại quá trình xây dựng, trùng tu, ghi lại những người có công trong quá trình hình thành, phát triển chùa. Đây là vấn đề cần được khắc phục trong thời gian tới.
Thứ hai, cần chú ý ngay đến việc đào tạo đội ngũ tăng ni kế cận các sư trụ trì hiện nay. Có một số ngôi chùa, sư trụ trì tuổi cao nhưng cũng chưa có người kế cận. Ban điều phối Phật giáo Việt Nam tại Lào, các vị trụ trì các ngôi chùa cần chú trọng đào tạo đội ngũ kế cận. Ngoài ra, Giáo hội Phật giáo Việt Nam cần có chính sách và tăng cường cử các tăng ni sang hoằng pháp tại Lào.
Thứ ba, ngôi chùa Việt Nam ở Lào không hẳn là nơi sinh hoạt Phật giáo, mà còn là nơi sinh hoạt văn hoá, sinh hoạt chung của cộng đồng nhằm gắn kết cộng đồng, giữ gìn văn hoá, ngôn ngữ, truyền thống Việt Nam. Thời gian qua, nhiều ngôi chùa chưa làm tốt điều này. Do vậy, thời gian tới, hoạt động này phải được quan tâm, tăng cường hơn.
Thứ tư, ngoài các ngôi chùa theo hệ phái Bắc tông, ở Lào còn có một tịnh xá của hệ phái Khất Sỹ là tịnh xá Ngọc Tâm. Tuy nhiên hiện nay tịnh xá đang trong quá trình xây dựng, vẫn còn khó khăn về kinh phí, về đội ngũ tăng ni cũng rất mỏng. Do vậy, cần quan tâm để sớm xây dựng xong ngôi Tịnh xá, đồng thời quan tâm hơn nữa đối với việc phát triển hệ phái Khất sỹ Việt Nam ở Lào.
Thứ năm, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ban điều phối Phật giáo Việt Nam tại Lào cũng như các vị trụ trì các ngôi chùa cần chú trọng giữ gìn và hướng dẫn các tín đồ, Phật tử hoạt động Phật giáo theo đúng văn hoá Phật giáo và truyền thống Phật giáo Việt Nam. Nên chăng có sự thống nhất giữa các ngôi chùa về một số vấn đề như: có logo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, có bia ghi lịch sử của chùa, có bài vị, ảnh tượng để tri ân những tăng ni, cư sỹ tiền bối hữu công, có sự thống nhất về cách thức thực hành các nghi lễ chính,...

PHỤ LỤC
DANH SÁCH CÁC NGÔI CHÙA PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI LÀO[21]
 
TT Tên chùa Thời gian
xây dựng
Địa chỉ Trụ trì hiện nay Ghi chú
1
1
Bàng Long 1942-1943 Vientiane TT. Thích Thọ Lạc Chùa đã trải qua bốn đời trụ trì:
2 Phật Tích 1960 Vientiane TT. Thích Minh Quang Hai đời trụ trì
3 Đại Nguyện Không rõ Vientiane Chưa có  
4 Tịnh xá
Ngọc Tâm
Khoảng 2003 Vientiane TT. Thích Giác Thiện  
5 Bảo Quang Trước 1932, trùng tu 1974 Savannakhet ĐĐ. Thích Huệ Dũng Ba đời trụ trì
6 Diệu Giác 1932 Savannakhet Thích Nữ Đàm Luân Ba đời trụ trì
7 Pháp Hoa Seno 2004 trùng tu Savannakhet ĐĐ. Thích Thiện Đức Ba đời trụ trì
8 Bồ Đề 1937 Khammuane Chưa có  
9 Trang Nghiêm 1942 Champasak   Bốn đời trụ trì
10 Kim Sơn 1945[22] Champasak    
11 Long Vân 1964 Champasak    
12 Thanh Quang Không rõ Champasak   Chùa của gia tộc họ Đoàn, hai đời trụ trì
13 Phật Tích 1959 Luangphrabang HT. Thích Thái Phùng  
14 Nghĩa Trang   Luangphabang Chưa có  

DANH SÁCH MỘT SỐ TĂNG NI VÀ CƯ SỸ HỮU CÔNG[23]
 
 TT Họ và tên Ghi chú
1 HT. Thích Nhật Liên Trụ trì đời thứ ba chùa Bàng Long
2 HT. Thích Thanh Tuất  
3 HT. Thích Trung Quán Trụ trì đời thứ tư chùa Bàng Long
4 HT. Thích Minh Lý  
5 HT. Thích Quảng Thiệp Không thấy có tài liệu nào nhắc đến
6 HT. Thích Nhật Trung (Đoàn Hữu Thạch)  
7 Thích Thiện Liên Có nhiều đóng góp đối với trùng tu chùa Bàng Long những năm 50 của thế kỷ 20[24]
8 Thích Đại Bái Trụ trì đời thứ nhất chùa Bàng Long
9 Thích Đại Hải
10 ĐĐ. Thích Giải Huệ Trụ trì đời thứ hai chùa Bàng Long
11 TT. Thích Thiện Dung Đệ tử HT. Trung Quán
12 HT. Thích Tánh Nhiếp Tiếp nối TT. Thích Thiện Dung trụ trì chùa Trang Nghiêm
13 ĐĐ. Thích Phương Ngân Tiếp nối TT. Thích Thiện Dung trụ trì chùa Trang Nghiêm
14 TT. Nguyễn Phước Ly (không rõ Pháp danh) Con vua Thành Thái, trụ trì đầu tiên chùa Kim Sơn
15 Ni sư Thích Nữ Diệu Thiện Trụ trì đầu tiên chùa Phật Tích
16 TT. Thích Minh Quang Hai thượng toạ là đệ tử của HT. Thích Thanh Tứ, được HT. Thanh Tứ và Giáo hội cử sang kế tục Ni sư Diệu Thiện trụ trì đời thứ hai chùa Phật Tích
17 TT. Thích Minh Nguyệt
18
 
TT. Thích Thọ lạc Trụ trì chùa Bàng Long từ 2016 đến nay
19 Ông Ban Được  
20 Ông Trịnh Văn Phú Chủ tịch Hội Phật giáo tại Viêng Chăn
21 Ông Đỗ Đình Tảo  
22 Ông Phạm Văn Thìn Từng tu ở chùa Trang Nghiêm
23 Ông Trần Đèn  
24 Ông Nguyễn Hữu Trinh (Tổng Trinh, pháp danh Nguyên Tịnh) Từng xuất gia tu ở chùa Bảo Quang
25 TT. Thích Đức Thắng Hiện đang ở Pháp


Tài liệu tham khảo:
  1. Thích Đồng Bổn (chủ biên, 2017), Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ 20, tập 1, 3, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
  2. Thích Trí Hải (2019), Tuyển tập Sa môn Trí Hải, tập 1, Nxb Hồng Đức, Hà Nội.
  3. Giáo hội Phật giáo Hải Phòng (2019), Sa môn Thích Trí Hải (1906-1979), Nxb Hải Phòng, Hải Phòng.
  4. TS. Nguyễn Phương Liên (chủ biên, 2017), Tư tưởng Phật giáo trong văn hoá Lào-Việt Nam: Một số cơ sở kiến tạo tình đoàn kết, Nxb Thông tin và truyền thông, Hà Nội.
  5. Tỳ kheo Thích Minh Quang (2013), Các hoạt động Phật sự Phật giáo Việt Nam tại Lào, Tạp chí Khuông Việt, số 21.
  6. Đinh Đức Tiến (2010), Phật giáo Lào từ góc nhìn đối sánh, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số 314.
  7. PGS.TS. Phạm Đức Thành (chủ biên, 2008), Cộng đồng người Việt ở Lào trong mối quan hệ Việt Nam – Lào, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
  8. PGS.TS. Phạm Đức Thành, TS. Vũ Công Quý (đồng chủ biên, 2009), Những khía cạnh dân tộc-tôn giáo-văn hoá trong tam giác phát triển Việt Nam-Lào-Campuchia, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
  9. Nguyễn Văn Thoàn (2007), Phật giáo Lào dưới góc nhìn văn hoá, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
  10.  Nguyễn Văn Thoàn (2013), Chùa Phật giáo trong đời sống văn hoá của hai dân tộc Việt Nam –Lào, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 12.
  11. Nguyễn Văn Thoàn (2016), Quá trình hình thành và phát triển của Phật giáo Việt Nam ở Lào, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 12.
  12.  Nguyễn Văn Thoàn (2019), Văn hoá Phật giáo trong đời sống của người Việt ở Lào, Nxb Văn hoá-văn nghệ, TP. HCM.
  13. PGS.TS. Nguyễn Lệ Thi (2009), Nghệ thuật Ấn Độ giáo và Phật giáo ở Lào, Nxb Thế giới và Viện Văn hoá, Hà Nội.
  14.  Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (1999), Một số vấn đề về văn hoá với phát triển ở Việt Nam, Lào, Cam puchia, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
  15.  Tư liệu điền dã của tác giả về Phật giáo Việt Nam tại Lào, tháng 9/2019.
 
[1] Xem: PGS.TS. Phạm Đức Thành (chủ biên, 2008), Cộng đồng người Việt ở Lào trong mối quan hệ Việt Nam – Lào, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr. 21-22.
[2] PGS.TS. Nguyễn Lệ Thi (2009), Nghệ thuật Ấn Độ giáo và Phật giáo ở Lào, Nxb Thế giới và Viện Văn hoá, Hà Nội, tr. 200.
[3] Thích Trí Hải (2019), Tuyển tập Sa môn Trí Hải, tập 1, Nxb Hồng Đức, Hà Nội, tr. 220.
[4] Xem: PGS.TS. Phạm Đức Thành (chủ biên, 2008), Cộng đồng người Việt ở Lào trong mối quan hệ Việt Nam – Lào, Sđd, tr. 42-43.
[5] Xem: Thích Trí Hải (2019), Tuyển tập Sa môn Trí Hải, tập 1, Sđd, tr. 220
[6] Xem Nguyễn Văn Thoàn (2016), Quá trình hình thành và phát triển của Phật giáo Việt Nam ở Lào, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 12, tr. 31.
 
[7] Chùa Kim Sơn do cố Thượng toạ Nguyễn Phước Ly, con trai của cựu hoàng Thành Thái là người sàng lập và trụ trì đầu tiên, chùa thuộc tỉnh Champasak.
[8] Xem: PGS.TS. Phạm Đức Thành (chủ biên, 2008), Cộng đồng người Việt ở Lào trong mối quan hệ Việt Nam – Lào, Sđd, tr. 28.
[9] Xem: Thích Trí Hải (2019), Tuyển tập Sa môn Trí Hải, tập 1, Sđd, tr. 221.
[10] Giáo hội Phật giáo Hải Phòng (2019), Sa môn Thích Trí Hải (1906-1979), Nxb Hải Phòng, Hải Phòng, tr. 292-293.
[11] Thích Đồng Bổn (chủ biên, 2017), Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ 20, tập 3, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, tr. 851-859.
[12] Thích Đồng Bổn (chủ biên, 2017), Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ 20, tập 3, Sđd, tr. 578.
[13] Thích Đồng Bổn (chủ biên, 2017), Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ 20, tập 3, Sđd, tr. 578.
[14] Nguyễn Văn Thoàn (2019), Văn hoá Phật giáo trong đời sống của người Việt ở Lào, Sđd, tr. 51-52.
[15] Nguyễn Văn Thoàn (2019), Văn hoá Phật giáo trong đời sống của người Việt ở Lào, Sđd, tr. 50.
[16] Theo lời Đại đức Thích Thiện Đức, trụ trì chùa Pháp Hoa hiện tại, Hoà thượng Thích Minh Lý đã từng đến trụ trì ở chùa Pháp Hoa trong một khoảng thời gian ngắn.
[17] Chùa Phật tích là ngôi chùa khang trang, to đẹp ở Viêng Chăn. Hiện chùa có cây Bồ Đề rất đẹp, trồng năm 1956, do một tu sỹ Phật giáo người Thái Lan  mang cây Bồ đề từ Ấn Độ (lấy từ Bồ Đề đạo tràng), nhưng mãi chưa tìm được chỗ đất linh thiêng để trồng. Khi đi qua chùa Phật tích, lúc đó mới chỉ là một am nhỏ. Ghi chép theo lời kể của Thượng toạ Thích Minh Quang, trụ trì chùa Phật Tích hiện nay.
[18] Xem: Nguyễn Văn Thoàn (2019), Văn hoá Phật giáo trong đời sống của người Việt ở Lào, Sđd, tr. 62
[19] Nguyễn Văn Thoàn (2019), Sđd, tr. 47
[20] Chỉ có Tịnh xá Ngọc Tâm được xây dựng trong giai đoạn này
[21] Tổng hợp từ các công trình của tác giả Nguyễn Văn Thoàn, PGS. Nguyễn Lệ Thi cùng với tư liệu điền dã của tác giả
[22] Theo PGS.TS. Nguyễn Lệ Thi trong công trình Nghệ thuật Ấn Độ giáo và Phật giáo ở Lào thì ngôi chùa được xây dựng năm 1945 (Nguyễn Lệ Thi, tr.217), còn trong tác phẩm Văn hoá Phật giáo trong đời sống của người Việt ở Lào Nguyễn Văn Thoàn cho rằng chùa xây dựng năm 1966 (Nguyễn Văn Thoàn, tr. 52). Tác giả Nguyễn Lệ Thi cũng cho rằng hầu hết các chùa Phật giáo Việt Nam tại Lào đều được xây dựng trước năm 1945, chỉ có chùa Phật Tích ở Viêng Chăn là xây dựng năm 1960 (Nguyễn Lệ Thi, tr. 202-203)
[23] Tổng hợp từ các công trình của tác giả Nguyễn Văn Thoàn, PGS. Nguyễn Lệ Thi cùng với tư liệu điền dã của tác giả
[24] Theo Nguyễn Văn Thoàn trong tác phẩm Văn hoá Phật giáo trong đời sống của người Việt ở Lào, thì Đại đức Thích Thiện Liên từ năm 1945 đến 1955 có công thu hồi, trùng tu chùa Bàng Long vào các năm 1946,1951,1955 (Nguyễn Văn Thoàn, tr. 49). Tuy nhiên, trong Lịch sử chùa Bàng Long hiện đang treo tại chùa thì Đại đức Thích Thiện Liên có đóng góp với chùa Bàng Long từ năm 1950 đến 1954. Chưa rõ số liệu nào là chính xác.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây