TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO Ở LÀO

Thứ hai - 09/12/2019 01:37
TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO Ở LÀO
                                                   Ths. On Xỉ Pạ Xa Vông*
                                                                                                                   
1. Thực trạng tín ngưỡng tôn giáo ở Lào hiện nay
1.1. Giai đoạn trước Phật giáo truyền vào Lào
Giai đoạn trước phật giáo truyền vào Lào, đa số nhân dân trong xã hội Lào theo vạn vật hữu linh như: thờ tổ tiên, bố mẹ, làm cái gì cũng có tin về cái đó. Ví dụ như: làm ruộng thì họ thờ ma Ta hẹc (Phỉ Ta hẹc), làm nương rẫy thì thờ ma rừng núi (Phỉ Phu phả Pà đông), lúc đi bắt cá dưới sông, suối, ao, hồ thì họ thờ thần nước (rồng) tiếng Lào gọi là “ngược”, ma rắn là thần nước bảo vệ sông, suối tại vùng đó, do đó trước khi đánh bắt cá họ phải khấn cầu mong cho thần nước phù hộ và không gây điều ác cho họ. Khi di chuyển đi ở chỗ mới, muốn dựng nhà mới cũng phải chọn ngày lành tháng tốt và phải làm lễ xin phép thổ thần, ma làng (ma bản), Ma mường (ma huyện),…
Nhân dân Lào có lòng tin rằng cây to, núi, rừng đều có ma trú ngự do đó họ rất sợ khi xúc phạm đến những thứ đó, nên người xưa mới có câu tục ngữ rằng “cây to có ma” (Tộn may nhày mi Phỉ), tục ngữ này nếu xét về mặt khoa học thì đó là lời khuyên dạy mọi người trong xã hội nên giữ gìn môi trường. Ngày nay tục ngữ đó đã phai nhạt theo thời gian và không có ý nghĩa gì đối với xã hộ hiện đại như ngày nay. Tuy nhiên, sự tôn thờ vạn vật hữu linh, ma quỷ vẫn tôn tại ở một số nơi như ở một số địa phương các tộc người vùng xa xôi hẻo lánh chẳng hạn.
Giai đoạn trước Phật giáo tuyền vào Lào ở trong xã hội Lào đã có đạo Bà la môn, nhân dân Lào vừa thờ vạn vật hữu linh, ma quỷ vừa theo đạo Bà la môn. Đạo Bà la môn đã dạy cho con người mê tín dị đoan họ tin có ma trời, ma đất, cầu nguyện thần mặt trăng, thần mặt trời, bùa, lên đồng, …
2.2. Những lý do khiến nhân dân Lào theo Phật giáo
Phật giáo là một tôn giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ khoảng 600 năm trước Công nguyên, là tôn giáo không có chúa trời và không công nhận uy quyền tối cao của chúa trời của đạo Bà la môn và các tôn giáo khác, trong khi đó thì công nhận khả năng của con người và đấu tranh chống giai cấp trong xã hội Ân Độ thời cổ. Do cơ sở triết học khác biệt nhau nên đã làm cho Phật giáo mâu thuẫn với đạo Bà La môn. Tuy nhiên, Phật giáo vẫn thừa nhận sự tồn tại của linh hồn.
- Tín ngưỡng về Phật giáo của người Lào thời cổ, giai đoạn đầu tín ngưỡng về Phật giáo của nhân dân Lào tương đối phức tạp, nhân dân Lào đa số vừa theo đạo Bà la môn vừa tôn thờ Phật giáo song song nhau. Do họ nhận thấy rằng lời khuyên dạy của Phật giáo có nghĩa lý sâu xa và mang tính khoa học. Vì vậy, nhân dân Lào đã nhận lấy đạo lý và lời khuyên dạy của Phật giáo vào đời sống thực của họ. Ví dụ: đạo lý (sỉn) và nghĩa lý (thăm) là hai yếu tố không thể tách rời nhau và gộp lại thành đạo lý (sỉn thăm) cơ bản liên quan tới đời sống sinh hoạt hàng ngày của nhân dân Lào. Chúng ta có thể giải nghĩa như sau: Đạo lý là hành động và lời nói của con người hoặc là những điều nhằm điều khiển hành động và lời nói không động chạm đến người khác và gồm có 5 điều như sau:
1. Không sát hại con vật và con người.
2. Không lấy bất kỳ đồ vật nào mà chủ đồ vật đó không cho.
3. Không hành động hủ tục, bê tha.
4. Không nói dối, lừa đảo.
5. Không uống những thứ có men say dẫn             tới sự coi thường.
Năm điều nêu trên gọi là đạo lý năm điều. Ngoài ra, còn có năm nghĩa lý song song với nhau, năm nghĩa lý này là công cụ tương tác làm cho năm đạo lý đó có nội dung phong phú lên. Nghĩa lý năm điều như sau:
1. Tình thương là sự cầu mong người khác có một cuộc sống hạnh phúc và muốn giúp người khác trải qua sự nghèo khổ, so sánh giữa ta với người khác như: ta cần hạnh phúc bao nhiêu thì người khác cũng cần hạnh phúc bấy nhiêu, do đó phải làm thế nào có lòng khiêm tốn và có lòng vị tha với người khác.
2. Làm ăn lương thiện, làm nghề nghiệp lương thiện, tránh nghề lừa đảo, không nên làm nghề mà trái với lời khuyên dạy của Phật giáo, ảnh hưởng đến bản -  mường và xã hội.
3. Tính cẩn thận, không được ngoại tình với chồng, với vợ người khác hoặc con gái của người khác, phải tôn trọng quyền cá nhân và đồ vật của cá nhân.
4. Khi làm một việc gì đó cho người nào đó nên làm thật lòng, phải rèn luyện mình có lòng vững vàng, làm việc hết lòng và phải xem xét những thiếu xót của mình.
5. Phải có ý thức và phải luôn luôn biết mình rằng mình đang làm gì, làm gì cũng phải điều khiển lòng mình cho ở với tâm trạng của mình. Những điều đó sẽ làm cho người có ý thức đó tránh khỏi sự sai lầm. Năm nghĩa lý nêu trên sẽ đi song song với năm đạo lý và luôn hỗ trợ lân nhau.
Đạo lý phật giáo là chỗ dựa cho mọi hành động, hạn chế sự sai trái trong hành động, nói năng và dạy dỗ con người phải có hành động, nói năng khiêm tốn, con người phải trong môi tường tốt. Đạo lý là từ ngữ mà các tín đồ Phật giáo trên thế giới đều biết. Dù trong bối cảnh nào chăng nữa, đạo lý là cơ sở cho mọi sinh hoạt của xã hội và là cở sở của loài người làm cho xã hội loài người chung sống đồng thuận với nhau. Do đó, chúng ta nên hành động theo năm đạo lý Phật giáo để thế giới chúng ta là thế giới hòa bình, như một nhà bác học đã nói rằng: “Loài người nếu mà sống thiếu đạo lý thế giới sẽ tan vỡ, loài người sống có đạo lý sẽ có hòa bình” và tục ngữ Phật giáo cũng nói rằng “sống hạnh phúc nhưng không bình an”, những pháp tu của Phật giáo có rất nhiều điều (tám vạn bốn nghìn điều), chúng tôi chỉ nêu một số điều làm ví dụ.
Sự tôn kính và thực hiện các đạo lý, lời dạy phật giáo từ quá khứ đến nay cũng được đông đảo nhân dân Lào ngưỡng mộ và đã làm cho sự thờ ma, đạo Bà la môn giảm đi. Tuy nhiên, những gì là mặt tích cực thì được phát huy và trở thành phong tục tập quán của Lào như: tục sinh đẻ, lễ tu hành, lễ cưới, lễ buộc chỉ tay,…mỗi lễ đều có hình thức và nội dung đặc trưng văn hóa riêng và được kế thừa cho đến ngày nay. Cho dù văn hóa Ấn Độ và Trung Quốc truyền vào Lào đi chăng nữa, nhưng nhân dân Lào đã tiếp thu văn hóa đó có chọn lọc và có sáng tạo theo điều kiện và hoàn cảnh thực tiễn của đất nước Lào.
1.3. Phong tục tập quán kế thừa từ đạo Bà la môn
Lào là một nước nằm ở phía Đông Nam Châu Á và nằm ở trung tâm bán đảo Đông Dương có lịch sử hình thành khoảng hai nghìn năm. Nhân dân Lào có truyền thống làm ruộng nước và chăn nuôi. Xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp nên nền văn hóa Lào gắn liền với nông nghiệp, hình thành nhiều phong tục tập quán kế thừa từ quá khứ cho đến ngày nay. Trước khi phật giáo truyền vào Lào, nhân dân Lào tôn thờ vạn vật hữu linh, thờ ma là chính. Sau đó theo đạo Bà la môn và đạo Phật. Phong tục tập quán của Lào tiếp thu từ nhiều văn hóa, nhưng mỗi tộc người đều mang đặc trưng riêng.
Linh hồn (Khoẳn) là gì?:  Linh hồn bao gồm hai thứ như: Thứ nhất, họ lấy lông chân, tay hoặc tóc trên chỏm đầu người và súc vật, linh hồn này mang hình thức tốt hoặc xấu của người và súc vật nào đó; thứ hai, là những thứ mà có ở trên thân thể con người cho đủ ba mươi hai thứ. Người xưa quan niệm rằng nếu linh hồn luôn luôn trú ngụ tại thân thể con người thì người đó sẽ mạnh khỏe và tinh thần cũng luôn sảng khoái. Trái lại, nếu mà linh hồn lìa khỏi thân thể con người thì người đó sẽ đau ốm và thậm chí bị chết. Do đó, người xưa mới có lễ gọi linh hồn về ở trong thân thể người để người đó hồi sức lại và mạnh khỏe bình thường. Sự gọi linh hồn về cho trú ngụ ở thân thể con người mang ý nghĩa tốt đẹp vì sau làm lễ xong sẽ làm cho tinh thần người bị ốm đau hồi phục và vui vẻ lên, tinh thần sảng khoái thì sức khỏe cũng đựơc hồi phục. Vì vậy, Lễ gọi linh hồn mới được lưu giữ lại trong đời sống của nhân dân Lào từ quá khứ cho đến ngay nay.
4. Lễ buộc chỉ tay
4.1. Ý nghĩa của lễ buộc chỉ tay
Lễ buộc chỉ tay là lễ cầu nguyện cho người đó trong cuộc sống riêng tư có hạnh phúc, an khang, thịnh vượng, mọi sự như ý. Còn lễ gọi hồn là gọi hồn đã lìa khỏi thân thể con người về trú ngụ lại trên thân thể của người đó. Tiến hành lễ có Thầy mo (mỏ phon) chủ trì hành lễ. Thầy mo sẽ gọi hồn người đó về và cầu nguyện cho người đó từ nay trở đi sẽ mạnh khỏe và gặp may mắn. Sau đó những người tham dự buổi lễ sẽ lấy sợi chỉ buộc vào cổ tay của người bị ốm đó và cầu nguyện cho người ốm sẽ chóng hồi phục sức khỏe và gặp vận may trong cuộc sống.
4.2. Các loại lễ buộc chỉ tay
Trong phong tục tập quán đựơc kế thừa từ quá khứ đên ngày nay thì có nhiều loại lễ buộc chỉ tay như: lễ buộc chỉ tay quan chức, lễ buộc chỉ tay sư sãi, lễ buộc chỉ tay cô dâu chú rể, lễ buộc chỉ tay bà mẹ mang thai, lễ buộc chỉ tay trẻ sơ sinh, lễ buộc chỉ tay  ông bà, lễ buộc chỉ tay lên nhà mới, lễ buộc chỉ tay người con ra phục vụ đất nước,… ngoài ra, còn làm lễ buộc chỉ tay cho súc vật như: voi, ngựa, trâu, bò là dịp con người thú tội với súc vật vì đã dùng sức lực súc vật  và đã đối xử không tốt với súc vật (đánh đập trong khi dùng sức súc vật chẳng hạn). khi tới ngày Phật (Trăng tròn, Trăng khuyết) nhân dân Lào sẽ lấy nến, hương, hoa thờ cúng tại bếp lửa, cầu thang lên nhà chính. Những điều nêu trên là sự tạ ơn của con người đối với những thứ đã mang lợi ích cho con người để duy trì cuộc sống của mình.
2. Tín ngưỡng tôn giáo tồn tại ở Lào hiện nay
Tôn giáo là sự kiện lịch sử xuất hiện trong quá trình phát triển của xã hội loài người. Hiện nay, vấn đề tôn giáo là vấn đề quan trọng và nhiều nước trên thế giới quan tâm vì nó liên quan với nhiều lĩnh vực trong xã hội.
Lào là một quốc gia nhiều tín ngưỡng tôn giáo, hoạt động dưới sự chỉ đạo, lãnh đạo và quản lý của Chính phủ. Khi đất nước đổi mới và phát triển theo con đường chính nghĩa, chúng ta phải đổi mới tư duy trong việc nhận biết và các giải pháp về tín ngưỡng tôn giáo gắn liền với sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước.
Đặc điểm của các tôn giáo hoạt động ở Lào: Tôn giáo là lời khuyên dạy của ông sa sạ đa (Phật tổ) của từng tôn giáo đã khám phá ra hoặc những thứ mà có tín ngưỡng mà các tín đồ coi là liêng thiêng, là chỗ dựa tinh thần và đã mang đi tuyên truyền cho nhân loài, họ thực hiện theo và tiến hành nghi lễ để được vận may trong cuộc sống.  Mọi tôn giáo trên thế giới nay đều có mục đích như nhau đó là dạy cho các tín đồ theo tôn giáo của mình trở thành người tốt, không làm điều ác, trợ giúp loài người cho thoát khỏi cõi cực khổ.
Các tôn giáo mà Chính phủ Lào công nhận như:
* Phật giáo gồm có hai dòng
Dòng Nam truyền (Theravada): được những tín đồ duy trì kinh Phật ban đầu. Xuất hiện trong Hội nghị các sư sãi lần thứ I tại Ấn Độ. Dòng Nam truyền được truyền vào Lào, Thái Lan, Srilanka, Mianma, Campuchia,… Dòng này được truyền vào Lào từ lâu tính cho đến nay khoảng hơn 600 năm, số lượng người theo dòng này khoảng 4.385.291 người, nữ 2.197.194 người; số lượng sư sãi khoảng 24.633 người trong đó sư sãi 9,858 người, chú tiểu 14.775 người, phò khảo 220 người, tăng ni 565 người, chú tiểu 427 người; có 4.646 ngôi chùa; có trường cấp I, Cấp II, cấp III 54 trường. Ngoài ra có trường cao đẳng sư sãi 2 trường (ở thành phố Pắc Sế và Thủ đô Viêng Chăn) có học sinh  8.138 người, co giáo viên 512 người.
Dòng Đại thừa (Bắc truyền): Kinh Phật dòng Đại thừa phù hợp với hoàn cảnh thời tiết là vũ trụ to lớn (chuyên trở loài người được nhiều hơn) và cách tiến hành nghi lễ  cũng khác nhau coi trọng mặt tinh thần là chính. Dòng này coi trọng đạo lý, do đó những ai mà đi tu muốn trở thành sư tổ thì phải thực hiện các đạo lý cho hoàn thiện để vạn vật trên thế gian thoát khỏi cõi cực khổ, bởi vì trước khi trở thành Phật tổ phải trải qua bước tu hành thành sư như: Phật khô đôm phải tu hành mười đời và đời cuối cùng trở thành Phạ Vệt mới sinh thành Sỉ thắt thả sau đó trở thành Phật tổ thực hiện đạo lý và phải khám phá đạo lý và lòng từ thiện để giúp đỡ nhân loài. Các nước mà theo dòng Đại thừa gồm có Trung Quốc, Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mông Cổ,.... Tại Lào có 8 ngôi chùa, trong đó tại Thủ đô Viêng Chăn có 4 ngôi chùa, Sa vẳn nạ khệt 2 ngôi chùa, Chăm pa sắc có 2 ngôi chùa.
* Thiên chúa giáo: Thiên chúa giáo được chia thành hai dòng như: Dòng Ca tô lích và dòng Prôtéstăng.  Dòng Ca tô lích là thực dân Pháp truyền vào Lào và đến nay đã được 100 năm, gồm có 5 khu quản trị như: 1. Luổng phạ bang, 2. Thủ đô Viêng Chăn, 3. Bo li khăm xay, 4. Sạ Văn nạ khệt, 5. Chăm pa sắc. Có 49.984 tín đồ, nữ 20.047 tín đồ, có 4 thánh hoàng, cha cố 13 người, tăng ni 104 người, giáo viên 238 người, 104 nhà thờ (dẫn theo Mặt trận xây dựng tổ quốc Lào). Đạo lý, lời khuyên dạy đề cập tới quá trình hình thành vũ trụ, sự hình thành các vạn vật, loài người. Dòng prôtéstăng gồm có hai nhánh như: chủ nhật, thứ bảy, hai nhánh này xuất hiện ở Lào từ đầu thế kỷ 20, chi tiết như sau:
- Nhánh chủ nhật có 58 nhà thờ, hoạt động tại 14 tỉnh, trừ tỉnh Luổng Nặm Thà, U đôm xay, Bò kẹo. Giáo viên có 346 người, tín đồ 65.342  người.
- Nhánh thứ bảy có 4 nhà thờ và hoạt động trong 4 tỉnh như: Thủ đô Viêng chăn,  Luổng Nặm Thà, Chăm pa sắc và Ắt ta pư. Giáo viên 17 người, tín đồ 4.250 người, nữ 2.000 người.
* Đạo Bà hai: Người sáng lập tôn giáo này là Phật Ba ha un la (mi xa hu xê a li) có nghĩa là người có lòng nhân ái, là người nghiên cứu, sáng lập và truyền đạo lý, lời dạy. Ngài sinh ngày 12/11/1873 và quá cố 29/5/1892 tại huyện Xay pha, nước Ít sa la en. Tôn giáo này không có ông phật và nhà tu, mọi người tu bằng tấm lòng, thực hiện những điều tốt lành, tránh những điều xấu và thù hằn nhau. Tôn giáo này truyền vào Lào từ năm 1957 do Tiến sĩ Thămsmatais người I Ran là thầy giáo dạy ngoại ngữ. Hiện nay tôn giáo này có ở Thủ đô Viêng Chăn, tỉnh Viêng Chăn, Sạ vẳn nạ khệt và Bo li khăm xay. Có tín đồ 1.344 người, tu hành theo giai đoạn thường là vào tháng 3, với thời hạn tu hành 19 ngày, cầu nguyện tinh thần trong sạch, thanh thản, vững tâm hơn những ngày qua. Trong giai đoạn tu hành những người ốm đau, người già, người mang thai và những người mẹ còn nuôi con bằng sữa thì không được phép tham gia tu hành. Đạo lý, lời khuyên dạy tiêu biểu là lòng thương hại, tình đoàn kết, sự thống nhất của các tín đồ và cùng nhau thực hiện.
* Hồi giáo: Người sang lập Mô ha mét là con trai của ông Áp đun la, là dân tộc Khu Rês ở huyện Mê Kạ, ông đã truyền lời khuyên dạy và được nhiều lời ưa chuộng nên ông mới mệnh danh rằng Mô ha mét hay Mu hăm mét dịch là người đáng khen ngợi, đáng tôn kính. Người nói rằng trên thế giới này ngoài ông Phật Ala ra thì không có ông Phật nào cả. Đạo lý của Hồi giáo gọi là Cô lan và được coi là chân lý nhất. Người Múslim tin rằng Ông Ala là ông Phật duy nhất của họ là người có sáng tạo và điều hành mọi sự tồn tại.
Quy chế của hồi giáo: Quyển sách về quy chế (Sa ri ạt) đã trở thành phong tục tập quán của người Múslim trong đó có 5 nội dung liên quan với sinh hoạt tôn giáo và còn gọi là 5 nguyên tắc tôn thờ Ông Ala, một ngày phải vái ông Ala 5 lần (sáng, trưa, chiều, trước mặt trời sắp lặn và giữa đêm). Ngoài ra, còn có lễ ăn chay trong tháng Malađon, là sự luyện tập sự chịu dựng của tín đồ để tinh thần vững vàng và dứt khoát theo quy chế của hồi giáo, mỗi người phải làm lễ thờ một lần tùy theo điều kiện cụ thể của người đó và trong suốt cuộc đời phải đi dự lễ vái Ông Ala một lần ở nhà thờ trung tâm bản làng, huyện mê kạ, nước Sa ụ đít  a rạp bi.
Hồi giáo ở Lào: Hồi giáo được truyền vào Lào gắn liền với các thương gia ngoại quốc, đa phần là xuất phát từ Ấn Độ, Pa kít sa thản và Căm pu chia. Hiện nay có 2 Sụ lau hay Ma sa dít (là nơi tiến hành lễ nghi tôn giáo này) tại Thủ đô Viêng Chăn, có tín đồ 965 người.
3. Kết luận
Lào là một quốc gia có lịch sử hình thành từ rất lâu, có văn hóa, phong tục tập quán, có ngôn ngữ và lối sống riêng của mình. Ngoài ra, về mặt tinh thần nhân dân Lào còn có tín ngưỡng tôn giáo riêng đó là thời ban đầu thì tin vào vạn vật hữu linh, về sau khi các tôn giáo được di tuyền vào Lào thì theo các tôn giáo mà mình ưa chuộng.
Tuy nhiên, ngày nay là thời đại khoa học kỹ thuật và thông tin tiên tiến, đã tác động đến người Lào, làm cho người Lào nhận biết nhiều chân lý mới, do đó đã một phần đánh lùi những mê tín dị đoan gây ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt và cản trở sản xuất của nhân dân các tộc người ở Lào. Trái lại những văn hóa, phong tục tập quán tốt đẹp thì được Đảng và Chính phủ bảo tồn và phát huy cho tồn tại cùng với nhân dân và đất nước Lào.
Tài liệu tham khảo:
  1. ຄໍາຕັນເທບບົວລີ: ພະສົງລາວກັບການປະຕິວັດ, ປີ1976, ພິມຄັ້ງທີ 3.
Khăm Tăn Thếp Bua Li (1976), Sư lào với Cách mạng, in lần thứ 3
  1. ສະຖາບັນວິທະຍາສາດສັງຄົມແຫ່ງຊາດ,ບັນດາສາສະໜາທີ່ຄົງຕົວຢູ່ລາວ, ະຖາບັນຄົ້ນຄວ້າສັງຄົມສາດ, ນະຄອນຫຼວງວຽງຈັນ, 2012.
Viện Khoa học Xã hội Quốc gia Lào, Viện Xã hội học (2012), Các tôn giáo tồn tại ở Lào
  1. ສະຖາບັນການເມືອງ ແລະ ການປົກຄອງແຫ່ງຊາດ, ຄະນະວິຊາລັດທິສັງຄົມນິຍົມວິທະຍາ, ວິຊາລັດທິສັງຄົມນິຍົມວິທະຍາສາດ,ສໍາລັບຮັບໃຊ້ (45ວັນ)ນະຄອນຫຼວງວຽງຈັນ, ປີ 2017.
Viện Chính trị và hành chính Quốc gia, Khoa Chủ nghĩa Xã hội Khoa học, năm 2017.
  1. ປະຫວັດສາດລາວ (ດຶກດໍາບັນ) ກະຊວງຖະແຫຼງຂ່າວ ແລະ ວັດທະນະທໍາ, ວຽງຈັນ, 2000.
Bộ Thông tin và Văn hóa (2000), Lịch sử Lào (thời tiền sử),
  1. ສູນພັດທະນາໜັງສື, ກົມວິຊາການກະຊວງສຶກສາທິການ(ພາສາໄທ) ໜັງສືຮຽນສັງຄົມສຶກສາ, 018, ພະພຸດທະສາສະໜາ, ຊັ້ນມັດທະຍົມສຶກສາປີທີ I, ຫຼັກສູດມັດທະຍົມສຶກສາຕອນຕົ້ນ, ..2521 (ສະບັບປັບປຸງພ..2533) ສູນພັດທະນາໜັງສື, ກົມວິຊາການກະຊວງສຶກສາທິການ(ພາສາໄທ).
Trung tâm phát triển chữ viết, Bộ Giáo dục (Tiếng Thái lan): Chữ viết về xã hội,018, Phật giáo, phục vụ học sinh cấp 3 năm thứ nhất , năm 2521 (Phật lịch)
6. ພະໄພວັນມາລາວົງ: ສິນ 5 ຫຼັກຄໍ້າປະກັນແຫ່ງສັນຕິສຸກ, ພິມຄັ້ງທີ1, ປີ 2019, ພິມທີ່ໂຮງພິມປະລິນດາ.
Phạ văn Ma la vông (2019), Đạo lý 5 điều bảo đảm cho nền hòa bình, in lần thứ 1, Xưởng in: Pạ lin đa
                         
                           




 

                     
 

* Phó Viện trưởng Viện Xã hội học, Lào
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây