QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỐI VỚI TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI - TRƯỜNG HỢP PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI LÀO

Thứ hai - 09/12/2019 01:48
QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỐI VỚI TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI - TRƯỜNG HỢP PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI LÀO
 
Nguyễn Phúc Nguyên
 
Tóm tắt:
Bài viết này đề cập đến các vấn đề sau:
- Tình hình người Việt Nam ở nước ngoài và người Việt Nam tại Lào;
- Sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt Nam ở nước ngoài và tại Lào;
- Quan điểm, chính sách của Đảng và nhà nước Việt Nam đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt Nam ở nước ngoài;
- Một số giải pháp hỗ trợ hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt Nam ở nước ngoài và tín đồ Phật tử Phật giáo Việt Nam tại Lào.
Từ khóa: sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo; quan điểm, chính sách của Đảng và nhà nước Việt Nam, người Việt Nam tại Lào.

1. Hiện nay, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có khoảng 4,5 triệu người phân bố không đồng đều tại 109 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Theo Ủy ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao, cách đây hàng trăm năm đã có người Việt Nam ra nước ngoài sinh sống. Tiêu biểu như con cháu hoàng tộc Lý đã sang Cao Ly (nay là Triều Tiên và Hàn Quốc) lập nghiệp. Thế kỷ 16 - 18, người Việt sang các nước láng giềng như Campuchia, Lào hay Thái Lan. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai, một số người Việt đi du học, làm công chức tại Pháp hoặc bị động viên đi lính, phu tại một số thuộc địa của Pháp. Trong thời kỳ chiến tranh, có thêm một số người ra đi kiếm sống hoặc tu nghiệp, du học ở nước ngoài.
Tuy nhiên, trước năm 1975 số lượng người Việt Nam ở nước ngoài không lớn khoảng 200.000 người, phần đông số này có tư tưởng sinh sống tạm thời, chờ điều kiện thuận lợi trở về nước. Từ sau năm 1975, đã có sự thay đổi sâu sắc về số lượng, thành phần, tính chất cũng như địa bàn sinh sống của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Số người ra nước ngoài đã lên tới khoảng 2 triệu người, chủ yếu tới Mỹ, Úc, Canada, Nhật Bản, các nước Tây và Tây Bắc Âu,... Thêm vào đó sau năm 1980, một số khá đông sinh viên, thực tập sinh và lao động Việt Nam ở các nước thuộc Liên Xô (cũ), Đông Âu cũ ở lại làm ăn.
Cộng đồng người Việt ở nước ngoài có những đặc điểm nổi bật như là cộng đồng trẻ, năng động, nhanh chóng hoà nhập và đại đa số có xu hướng định cư lâu dài ở nước sở tại chủ yếu là Mỹ, Úc, Canada các nước Tây Âu (khoảng 80% đã nhập quốc tịch nước cư trú nhưng hầu hết chưa thôi quốc tịch Việt Nam), trong khi phần lớn người Việt tại Nga, Đông Âu vẫn coi cuộc sống là tạm cư, khi có điều kiện sẽ trở về nước. Nhìn chung, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có đặc điểm là phức tạp về thành phần xã hội, xu hướng chính trị và đa dạng về nghề nghiệp, tôn giáo, dân tộc, đặc biệt bị chi phối, phân hoá bởi sự khác biệt về giai tầng, chính kiến và hoàn cảnh ra đi cũng như cư trú ở các địa bàn khác nhau. Chính vì vậy, tính liên kết, gắn bó trong cộng đồng không cao; cộng đồng sinh sống phân tán, sinh hoạt cộng đồng có khó khăn, việc duy trì tiếng Việt và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc truyền thống đang là thách thức lớn đối với tương lai của cộng đồng.
Dù được coi là thành đạt nhanh ở Mỹ và phương Tây, tiềm lực kinh tế của cộng đồng còn hạn chế, thu nhập bình quân đầu người nhìn chung thấp so với mức bình quân của người bản xứ (55% người Việt có cuộc sống ổn định, nhiều người vẫn phải sống nhờ vào trợ cấp xã hội). Trong khi đó, tiềm lực chất xám, trí tuệ của cộng đồng khá lớn, nhất là ở phương Tây, Nga, Đông Âu. Hiện ước tính trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có khoảng 400.000 người (con số ước đoán, chưa có điều tra cơ bản chính thức) được đào tạo ở trình độ đại học, trên đại học và công nhân kỹ thuật bậc cao, có kiến thức cập nhật về văn hoá, khoa học và công nghệ, về quản lý kinh tế. Một thế hệ trí thức mới người nước ngoài gốc Việt đang hình thành và phát triển tập trung ở Bắc Mỹ, Tây Âu và Châu Đại dương ở nhiều lĩnh vực khoa học chuyên ngành và kinh tế mũi nhọn như tin học, viễn thông, điện tử, vật liệu mới, chế tạo máy, điều khiển học, sinh học, quản lý kinh tế, chứng khoán.
Cộng đồng người Việt Nam tại Lào được hình thành từ khá sớm và đặc biệt phát triển từ sau năm 1975. Hiện nay có khoảng 45.000 Việt kiều (được nhà nước Lào công nhận) sinh sống tại Lào và khoảng 30.000 lao động tự do, làm ăn buôn bán, tập trung tại những tỉnh, thành phố lớn như: Viên Chăn, Khăm Muội, Champasak, Savannakhet, Xiêng-khoảng và Luongphabang. Cộng đồng người Việt cũng là cộng đồng người nước ngoài lớn nhất ở Lào (sau đó là cộng đồng người Trung Quốc: 15.000 người và Thái Lan: 4.000 người).
2. Phần lớn người Việt Nam ở nước ngoài có nhu cầu tâm linh ở các mức độ khác nhau. Đa phần bà con đều có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, ông bà và theo các tôn giáo chính là: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo và Hồi giáo, trong đó đông nhất là Phật giáo. Cùng với quá trình hình thành cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, các cơ sở tôn giáo của người Việt cũng được hình thành khá sớm để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của bà con. Do nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh, cộng đồng người Việt tại nước ngoài thường quyên góp vật chất xây chùa Phật giáo, do vậy chùa Việt Nam cũng xuất hiện tại nhiều nơi trên thế giới[1].
Theo người Việt di cư đến Lào, Phật giáo của người Việt cũng được hình thành tại Lào từ những đầu thế kỷ 20. Ngôi chùa Việt có mặt sớm nhất tại Lào được ghi nhận là chùa Bảo Quang ở tỉnh Savannakhet được xây dựng từ năm 1929. Theo thống kê qua chuyến khảo sát, hiện nay ở Lào có 14 cơ sở Phật giáo của người Việt. Hiện nay, các ngôi chùa Việt Nam tại Lào đang hoạt động cơ bản ổn định, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của cộng đồng người Việt Nam tại Lào. Các hoạt động của một số ngôi chùa như: Chùa Phật Tích (Luongphabang), chùa Phật Tích (Vientiane), chùa Diệu Giác (Savannakhet)… đã thu hút được tín đồ, Phật tử người Lào tham dự.
Về quan hệ giữa Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Lào, trên cơ sở mối quan hệ gắn bó, đoàn kết giữa nhà nước Việt Nam và Lào, Phật giáo hai nước đã xây dựng mối quan hệ tốt đẹp, cùng phát triển. Năm 2018, được sự đồng ý của hai nhà nước, Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Lào “Ban Điều phối Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại Lào” do Thượng tọa Thích Minh Quang - Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trụ trì chùa Phật Tích, Vientiane là Trưởng ban đã được thành lập. Ban Điều phối đặt Văn phòng tại chùa Phật Tích, Vientiane và có nhiệm vụ hỗ trợ hoạt động bang giao của Phật giáo hai nước, tạo điều kiện thuận lợi trong việc kết nối các ngôi chùa Việt Nam tại Lào, hướng dẫn tăng ni, Phật tử của các chùa Việt Nam sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo theo đúng truyền thống Phật giáo và quy định của nhà nước Lào.
3. Cùng với công cuộc đổi mới, quá trình hội nhập kinh tế, mở cửa, đến nay Việt Nam là một quốc gia tham gia nhiều công ước, văn bản pháp lý quốc tế quan trọng về quyền con người. Thực hiện nghĩa vụ và công ước quốc tế về các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, Việt Nam đã và đang nỗ lực xây dựng, điều chỉnh pháp luật và thực hiện tinh thần pháp luật một cách tốt nhất nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân.
Quy định của Công ước quốc tế liên quan đến quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo gồm các văn kiện quốc tế như: Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị (năm 1966, Việt Nam gia nhập 1982) đã được thể hiện thành quyền Hiến định và luật định Việt Nam. Trong đó, cụ thể là Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (Điều 18) đã khẳng định “mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, nhận thức và tôn giáo. Quyền này bao gồm quyền tự do thay đổi tín ngưỡng hoặc tôn giáo của mình và tự do, hoặc một mình hoặc trong cộng đồng với những người khác, tại nơi công cộng hoặc riêng tư, thể hiện tín ngưỡng hay tôn giáo của mình bằng cách truyền giải, thực hành, thờ phụng và tuân thủ các nghi lễ’[2].
Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và coi đó là một trong những quyền cơ bản và là một nhu cầu tinh thần chính đáng của người dân. Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, năm 1946 đã quy định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một quyền Hiến định của nhân dân. Đặc biệt là Hiến pháp 1992 lần đầu tiên đã sử dụng khái niệm quyền con người (tại điều 50) và đưa hai khái niệm tín ngưỡng và tôn giáo đứng độc lập cũng như nhấn mạnh đến quyền bình đẳng trước pháp luật cùa các tôn giáo, Nhà nước có nghĩa vụ bảo hộ cho các cơ sở thờ tự của các tổ chức tôn giáo. Điều 70 của Hiến pháp 1992 ghi nhận: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo môt tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”.
Trong bản Hiến pháp 2013, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được xếp trong nhóm quyền con người. Điều 24 quy định “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo môt tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta không chỉ được ghi nhận trong các cương lĩnh của Đảng và được thể chế hoá bằng các nguyên tắc Hiến định, mà còn được cụ thể hoá bằng các nguyên tắc luật định. Luật tín ngưỡng, tôn giáo, được Quốc hội Việt Nam khóa XIV thông qua ngày 18/11/20116 và có hiệu lực ngày 01/01/2018, đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp và thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cũng như là sự phát triển của hệ thống pháp luật quốc gia trong quá trình nội luật hoá các quy định của pháp luật quốc tế về quyền con người mà Việt Nam tham gia cam kết.
Vấn đề sinh hoạt tôn giáo của người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng được quan tâm theo xu hướng cởi mở. Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện cho chức sắc, tín đồ các tôn giáo tham gia các sinh hoạt tôn giáo ở nước ngoài, qua đó hỗ trợ cho cộng đồng người Việt Nam theo các tôn giáo ở nước ngoài.
Luật tín ngưỡng, tôn giáo có các điều khoản quy định về hoạt động tôn giáo tổ chức, cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài. Điều này cho thấy không chỉ vấn đề sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài mà vấn đề quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo được chú ý và quan tâm mà trước đây trong các văn bản pháp luật chưa được đề cập một cách cụ thể. Điều 50, 51, 52, 53  của Luật tín ngưỡng, tôn giáo quy định rõ các hoạt động quốc tế của cá nhân và tổ chức tôn giáo có yếu tố nước ngoài, việc tham gia hoạt động tôn giáo ở nước ngoài; việc phong phẩm, bổ nhiệm, hoạt động quốc tế và đặc biệt là việc gia nhập tổ chức tôn giáo nước ngoài.
4. Từ việc nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò của người Việt Nam ở nước ngoài cũng như công tác đoàn kết, tập hợp tăng ni, tín đồ tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng và Nhà nước ta đã xác định: Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng, nhằm giúp đồng bào theo tôn giáo thực hiện tốt phương châm: “tốt đời, đẹp Đạo”.
Nhằm làm tốt công tác xây dựng khối đoàn kết trong Phật giáo, trong đó có kiều bào là tăng ni, Phật tử ở nước ngoài, những năm qua, các cấp, các ngành chức năng từ trung ương đến địa phương, trong đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò chủ đạo đã thường xuyên quán triệt và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh, Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác tôn giáo và đoàn kết tôn giáo, kết hợp chặt chẽ công tác tôn giáo với việc tích cực đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh; động viên, khuyến khích tăng ni, tín đồ kiều bào tiếp tục cống hiến tài năng, trí tuệ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục làm cho kiều bào ta ở nước ngoài thấy rõ sự đúng đắn của các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước nói chung, về tôn giáo nói riêng, về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để hòng gây mất đoàn kết nội bộ, gây mất ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, công tác này vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định. Đó là, mặc dù trong những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của tăng ni, tín đồ Phật giáo nhưng đa số đồng bào theo Phật giáo ở nước ngoài chưa có điều kiện sinh hoạt tôn giáo phù hợp, cơ sở thờ tự còn thiếu, am hiểu về luật pháp các nước sở tại còn bất cập…. cuộc sống còn nhiều khó khăn, thu nhập chưa ổn định; một số bộ phận chức sắc, tín đồ Phật giáo bị kẻ địch lợi dụng đức tin để lôi kéo vào các hoạt động chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; một số vụ việc xảy ra liên quan đến Phật giáo chưa được giải quyết triệt để, kịp thời, còn để kéo dài, ảnh hưởng đến hoạt động của tăng ni, tín đồ.
Do đặc điểm về lịch sử, văn hoá, phong tục tập quán của Việt Nam nên việc giải quyết sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại Việt Nam được xem xét giải quyết thận trọng trên cơ sở quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam và các Công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết hoặc gia nhập; đồng thời phù hợp với Hiến chương, Điều lệ của các tổ chức tôn giáo hợp pháp của Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu chính đáng của họ. Qua đó góp phần làm cho thế giới hiểu hơn về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, và đấu tranh chống những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá Việt Nam. Làm tốt công tác tôn giáo đối với người nước ngoài có tôn giáo tại Việt Nam vừa là trách nhiệm và nghĩa vụ, vừa là việc tranh thủ sự hợp tác quốc tế, phục vụ công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước, thu hút đầu tư, kiến thức, kinh nghiệm của thế giới, góp phần xây dựng phát triển đất nước.
5. Đề xuất:
* Đối với hoạt động tôn giáo của người Việt Nam ở nước ngoài
Một là, các cơ quan, ban, ngành chức năng và cả hệ thống chính trị cần tiếp tục quan tâm tới các địa bàn có đồng bào ta, trong đó có tăng ni, Phật tử sinh sống, lao động và học tập ở nước ngoài. Quan tâm, giúp đỡ xây dựng cơ sở thờ tự để đồng bào có điều kiện sinh hoạt tôn giáo, qua đó đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của kiều bào ta ở nước ngoài. Kết hợp các chính sách hỗ cho tăng ni hoạt động Phật giáo ở nước ngoài. Đó là tiền đề quan trọng giúp tăng ni phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; gắn bó với nước sở tại để hướng về quê hương đất nước.
Do vậy, các ngành, các cấp cần rà soát, kịp thời bổ sung những chính sách sát hợp với vùng tăng ni, Phật tử Phật giáo Việt Nam ở nước ngoài; tổ chức thực hiện đồng bộ, chặt chẽ từ trung ương đến cơ sở, đảm bảo thực sự có hiệu quả, tạo điều kiện để tăng ni Phật tử hòa nhập cuộc sống mới, đóng góp cho đời sống tinh thần của bộ phần kiều bào Việt Nam ở nước ngoài.
Hai là, tiếp tục thực hiện tốt quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đoàn kết toàn dân tộc, coi bộ phận người Việt Nam ở nước ngoài, trong đó có tăng ni, Phật tử Phật giáo Việt Nam là bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam; thông qua các tăng ni, Phật tử để quảng bá, giới thiệu hình ảnh đất nước con  người Việt Nam với bạn bè quốc tế.
Các cơ quan, ban, ngành cần tuyên truyền để tăng ni, tín đồ Phật giáo hiểu rõ và thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, quan tâm nắm bắt tình hình và tâm tư, nguyện vọng của đồng bào để đáp ứng kịp thời phù hợp với tình hình thực tế,…
Lắng nghe và tôn trọng ý kiến của tăng ni, Phật tử trên tinh thầncầu đồng, tồn dị”, loại bỏ những khác biệt về chính kiến, tìm kiếm những điểm tương đồng trong kiều bào. Tôn trọng và phát huy vai trò gương mẫu, dẫn dắt của những người tiêu biểu có uy tín trong cộng đồng.
Ba là, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng Phật giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo và những hoạt động tôn giáo trái quy định của pháp luật. Điều này thể hiện thái độ kiên quyết, không khoan nhượng của Đảng và Nhà nước ta đối với những kẻ lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại khối đoàn kết tôn giáo Việt Nam cả trong và ngoài nước.
Tuyên truyền làm cho nhân dân hiểu, phân biệt vấn đề tôn giáo với việc lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật hoặc gây mâu thuẫn, làm ảnh hưởng đến phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp, nhất là cuộc sống bình yên của nhân dân và các tín đồ, chức sắc tôn giáo. Đây là việc rất cấp thiết trong tình hình hiện nay, khi mà các tôn giáo và các hiện tượng tôn giáo mới phát triển rầm rộ, khó kiểm soát.
Cần phát hiện sớm và chủ động đấu tranh với những hành vi lợi dụng Phật giáo để hoạt động trái pháp luật, đạo đức, thuần phong mỹ tục,… đồng thời, hướng tới hoạt động lành mạnh, không vi phạm pháp luật; làm tốt công tác vận động quần chúng, tranh thủ đội ngũ cốt cán. Kiên quyết đấu tranh với các hành vi lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng, vi phạm pháp luật Nhà nước. Cùng với đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền đối ngoại về Phật giáo, giúp cho cộng đồng thế giới hiểu rõ chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta và thực tế tình hình đời sống, sinh hoạt Phật giáo ở Việt Nam. Làm tốt công tác này sẽ góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội và huy động sự đóng góp của đồng bào các tôn giáo trong củng cố, tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc.
Bốn là, chức sắc Phật giáo có ảnh hưởng lớn đối với tín đồ Phật tử, uy tín, tiếng nói của họ thường được đồng bào tin theo. Vì vậy, cùng với công tác vận động, cảm hóa, Đảng và Nhà nước ta cần có chính sách đãi ngộ thỏa đáng cả về vật chất lẫn tinh thần với họ và có kế hoạch tạo nguồn phát triển lâu dài đội ngũ cốt cán tín đồ, chức sắc Phật giáo, nhất là đối với tăng ni, Phật tử ở nước ngoài. Đồng thời, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước và bổ sung hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, pháp quy về tôn giáo.
Năm là, cần tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện cho nhân dân nói chung, tăng ni, tín đồ Phật giáo nói riêng được học tập, tiếp thu các quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với các tôn giáo. Các ngành, các cấp cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong vùng giáo, nhất là trong các chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo nắm và thực hiện tốt các văn bản pháp luật về tôn giáo như: Hiến pháp năm 2013, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, Luật Hình sự sửa đổi năm 2015, Luật Tố tụng hình sự…
Các ngành các cấp đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ, làm cho đồng bào theo Phật giáo gắn bó với dân tộc, với quê hương đất nước, tăng cường sự đồng thuận giữa người có tín ngưỡng, tôn giáo và những người không tín ngưỡng, tôn giáo cũng như giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau.
* Đối với hoạt động của Phật giáo Việt Nam tại Lào
Được sự quan tâm của nhà nước và chính quyền các cấp của Lào, các cơ sở Phật giáo Việt Nam tại Lào đang có điều kiện để duy trì sự ổn định và phát triển, đảm bảo đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng người Việt theo Phật giáo đang học tập, làm ăn, sinh sống trên đất nước Lào. Các cơ chế, chính sách của nhà nước Lào về tôn giáo nói chung và đối với sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại Lào, trong đó có các chùa Việt Nam tại Lào, nói riêng cũng tương đối thuận lợi. Do vậy, các tăng ni người Việt, các chùa Việt Nam tại Lào cũng cần tranh thủ để hoàn thiên các thủ tục còn đang vướng mắc hoặc chưa thực hiện được.
Các ngôi chùa Việt Nam Việt Nam tại Lào mặc dù được thành lập từ khá lâu nhưng đa số hoạt động tự phát, chưa thực sự liên kết gắn bó với nhau trong các hoạt động. Phật tử, cộng đồng người Việt Nam có tình cảm với Phật giáo đa số theo chùa nào biết chùa đó nên chưa có sự hỗ trợ để tập hợp, đoàn kết tín đồ, chưa tổ chức được các sinh hoạt Phật giáo có quy mô lớn cho cộng đồng.
Đa số các cơ sở Phật giáo Việt Nam tại Lào chưa thực hiện được các thủ tục về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do nhiều nguyên nhân: việc triển khai của chính quyền sở tại còn chậm; các chùa Việt Nam chưa có sự ổn định về người đại diện (sư trụ trì); không lưu trữ được các giấy tờ, hồ sơ liên quan đến đất đai. Bên cạnh đó, một số cơ sở chưa có sư trụ trì, cộng đồng còn khó khăn về kinh tế, không có điều kiện sửa chữa, tôn tạo nên công trình xuống cấp, hư hại.
Về tăng ni, chỉ có 4/24 vị tăng ni ở các chùa Việt tại Lào có quốc tịch Lào, 12 vị có thẻ ngoại kiều. Đây là những vị có thể cư trú lâu dài, ổn định tại Lào. Số tăng ni còn lại đều dùng hộ chiếu phổ thông nên hàng tháng đều phải xin gia hạn, điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động tôn giáo của các ngôi chùa Việt tại Lào. Nhiều sư Việt Nam sang các chùa Việt Nam tại Lào do cộng đồng, bà con Phật tử mời, không phải do Giáo hội Phật giáo Việt Nam công cử nên không gắn bó lâu dài hoặc gặp khó khăn khi liên hệ, làm việc với chính quyền sở tại.
Một số sư sang sinh hoạt tôn giáo tại cơ sở Phật giáo Việt Nam tại Lào ít hoặc không giữ mối liên hệ với Giáo hội Phật giáo Việt Nam nên việc tấn phong giáo phẩm không thực hiện được, việc duy trì các sinh hoạt tại chùa theo truyền thống Phật giáo Việt Nam vì thế cũng bị mai một và ảnh hưởng; một số sư không biết tiếng Lào nên khó khăn trong việc giao tiếp, liên hệ với tín đồ, Phật tử người Lào cũng như chính quyền sở tại.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam cần quan tâm và có các giải pháp cụ thể đối với sinh hoạt của các chùa Việt Nam tại Lào như: Hỗ trợ hoàn thiện thủ tục về việc công cử tăng ni sang trụ trì các chùa Việt Nam tại Lào (đối với các tăng ni do tín đồ, Phật tử tự mời sang); lựa chọn công cử sư trụ trì các chùa chưa có trụ trì để phục vụ nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của tín đồ, Phật tử; liên hệ cơ quan chức năng của Việt Nam và Lào triển khai thủ tục về chứng nhận quyền sử dụng đất chùa; hỗ trợ hoạt động của Ban Điều phối Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại Lào…
Giúp đỡ Ban Điều phối Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại Lào trong các hoạt động để kết nối các chùa Việt Nam tại Lào qua đó phát huy vai trò trong các hoạt động của Phật giáo Việt Nam tại Lào.
Ban Thường trực Hội đồng Trị sự và Ban Phật giáo Quốc tế thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam để sớm triển khai các giải pháp hỗ trợ tăng ni Phật giáo Việt Nam đang sinh hoạt tại Lào (hoàn thiện các thủ tục công cử, xem xét cơ chế đặc thù khi tấn phong giáo phẩm…); hỗ trợ Giáo hội Phật giáo Việt Nam hướng dẫn Ban Điều phối Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại Lào xây dựng quy chế tổ chức và hoạt động.
Phối hợp với các đơn vị chức năng của các ban, bộ, ngành liên quan để trao đổi với Đại sứ quán Việt Nam tại Lào về các hoạt động của Phật giáo Việt Nam tại Lào, hỗ trợ, tạo sự gắn kết trong hoạt động giữa các cơ sở Phật giáo Việt Nam tại Lào./.
                                                                        Nguyễn Phúc Nguyên
 
[1] Theo thống kê chưa chính thức, hiện nay có khoảng 400 ngôi chùa Việt Nam tại trên 30 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có 20 chùa co sư trụ trì do Giáo hội Phật giáo Việt Nam cử sang; đã thành lập được 09 Hội Phật tử Việt Nam tại nước ngoài.
[2] Các văn kiên quốc tế về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.66

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây