PHẬT GIÁO NHẬP THẾ TRONG CÁI NHÌN ĐỐI SÁNH GIỮA LÀO VÀ VIỆT NAM

Thứ hai - 09/12/2019 01:57
PHẬT GIÁO NHẬP THẾ
TRONG CÁI NHÌN ĐỐI SÁNH GIỮA LÀO VÀ VIỆT NAM

 
TS. Trương Thu Trang
 
Tóm tắt:
Ngày nay cụm từ “Phật giáo nhập thế” ngày càng phổ biến, để chỉ hoạt động Phật giáo đi vào cuộc đời, Phật giáo ngày càng hoà quyện trong đời sống dân tộc. Về điều này Phật giáo Lào là một trường hợp đặc biệt minh chứng tính nhập thế của Phật giáo như một chất keo kết dính cộng đồng. Vậy ở Việt Nam hoạt động nhập thế của Phật giáo diễn ra như thế nào! Có điểm gì tương đồng và khác biệt so với Phật giáo Lào! Bài viết tìm hiểu khái niệm Phật giáo nhập thế, trên cơ sở đó tìm hiểu hoạt động, mức độ nhập thế của Phật giáo tại Lào và Việt Nam, góp thêm một cái nhìn, sự hiểu biết về Phật giáo nhập thế giữa các quốc gia tương đồng về văn hoá xã hội.
Từ khoá: Lào, Việt Nam, Phật giáo Nam tông, Phật giáo nhập thế.



1. Thế nào là Phật giáo nhập thế
Nhiều nghiên cứu của các học giả khác nhau đã mang đến những khái niệm về Phật giáo nhập thế theo cách riêng của mình.
Năm 1966, Thiền sư Thích Nhất Hạnh xuất bản quyển The Lotus in the Sea of Fire (Hoa sen trong biển lửa), quyển sách ấy đã được giới nghiên cứu phương Tây xem như là công trình tiên phong trong giới thiệu khái niệm Engaged Buddhism (“Đạo Phật dấn thân”, hoặc “Phật giáo nhập thế”, hay “Đạo Phật đi vào cuộc đời”). Trong đó có đoạn: “đem đạo Phật đi vào cuộc đời có nghĩa là thể hiện những nguyên lý đạo Phật trong sự sống, thể hiện bằng những phương thức phù hợp với thực trạng của cuộc đời để biến cải cuộc đời theo chiều hướng thiện, mỹ. Chừng nào sinh lực của đạo Phật được trông thấy dào dạt trong mọi hình thức của sự sống chừng đó ta mới có thể nói được rằng đạo Phật đang thật sự hiện hữu trong cuộc đời”[1].
Qua quan niệm của Thiền sư, có thể hiểu rằng Phật giáo nhập thế là: 1. làm cho những nguyên lý của Phật giáo trở thành nguyên lý sống thường nhật, từ đó cải biến nhân sinh và xã hội theo hướng thiện, mỹ; 2. Phật giáo với tổ chức, lực lượng và giáo lý của mình tham gia giải quyết những vấn đề đang tồn tại trong nhân sinh và xã hội.
Một học giả phương Tây, Allie B. King cũng đã chỉ rõ: “Phật giáo nhập thế (Engaged Buddhism) là một hình thức đương đại của Phật giáo, tham gia tích cực nhưng không bạo lực để giải quyết các vấn đề xã hội, kinh tế, chính trị, môi trường. Ở trạng thái tốt nhất, sự tham gia này không tách rời khỏi tinh thần của Phật giáo, mà là một biểu hiện của nó”[2].
Lời của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh và nhiều vị học giả Đông – Tây thường nghiên về tinh thần nhập thế của Phật giáo Bắc tông (Đại thừa), vậy Phật giáo Nam tông (Nguyên thủy) có hay không khái niệm nhập thế! Và có khác gì chăng trong hoạt động nhập thế giữa hai hệ phái này. Một nghiên cứu của Ngô Thị Phương Lan đã nỗ lực khẳng định tính nhập thế của Phật giáo Nam tông và cũng chỉ ra những nét khác biệt trong biểu hiện nhập thế giữa hai hệ phái Nam tông và Bắc tông. Trong đó, “với việc nghiên cứu hoạt động nhập thế của Phật giáo Nam tông tại chùa Candaransī[3], khái niệm Phật giáo nhập thế được dùng để chỉ sự dấn thân của các tăng sĩ và Phật tử vào các hoạt động xã hội góp phần giải quyết những khủng hoảng, mâu thuẫn của xã hội và góp phần phát huy bản sắc tộc người Khmer”[4]. Đồng thời tác giả chỉ ra rằng: “khác với hoạt động nhập thế của hệ phái Phật giáo Bắc tông vốn chú trọng chủ yếu đến các vấn đề “nóng” của xã hội, xu thế nhập thế của Phật giáo Nam tông phần nhiều vẫn chú trọng chuyển tải tính tộc người trong bối cảnh tộc người thiểu số đó đang hòa nhập ngày càng sâu rộng với cộng đồng dân tộc đa số”[5].
Như vậy cho dù là Nam tông hay Bắc tông, dù có những điểm tương đồng hay khác biệt, thì Phật giáo nhập thế vẫn được hiểu là Phật giáo đi vào cuộc đời, là nhân gian Phật giáo, Phật giáo hiện hữu trong cuộc sống thường nhật của con người, giúp đỡ, hỗ trợ giải quyết những vấn đề khó khăn mà con người gặp phải trong thực tế cuộc sống, trên tinh thần tốt đời đẹp đạo.
Mục đích ra đời của đạo Phật là để khơi nguồn tuệ giác trong đời sống nhân gian, đem lại ánh sáng giác ngộ và tinh thần giải thoát cho mỗi con người. Với tư tưởng từ bi và cứu độ, tinh thần nhập thế của Phật giáo đã sớm thể hiện ở việc Phật giáo quan tâm và tham gia giải quyết các vấn đề của xã hội. Đến thời hiện đại, khuynh hướng nhập thế của Phật giáo ngày càng mang tính phổ quát. Phật giáo góp phần giải quyết các vấn đề cấp bách của xã hội như giáo dục đạo đức, lối sống; bảo vệ môi trường; an sinh xã hội,…
2. Phật giáo nhập thế tại Việt Nam và Lào
2.1. Phật giáo và những biểu hiện của Phật giáo nhập thế tại Việt Nam
                        Về Phật giáo Việt Nam, nhiều công trình đã tìm hiểu như: Việt Nam Phật giáo sử lược của học giả Thích Mật Thể; Việt Nam Phật giáo sử luận của học giả Nguyễn Lang, Lịch sử Phật giáo Việt Nam của GS. Lê Mạnh Thát; Lịch sử Phật giáo Việt Nam của GS. Nguyễn Tài Thư chủ biên,… Những công trình này nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Việt Nam.
Nhìn chung Phật giáo được truyền vào Việt Nam từ rất sớm và theo nhiều con đường khác nhau. Từ Ấn Độ qua - Phật giáo Nam tông; Từ Trung Hoa sang - Phật giáo Bắc tông, và đỉnh cao của lịch sử Phật giáo Việt Nam là vào thời Lý – Trần. “Phật giáo thời kỳ này đóng vai trò hết sức quan trọng trong xã hội; không chỉ đóng khung trong tôn giáo mình, mà còn với tay sang lĩnh vực chính trị thế tục. Tính nhập thế trở thành xu thế chủ đạo trong hoạt động của Phật giáo giai đoạn này”[6].
Trong một nghiên cứu về hoạt động nhập thế của Phật giáo, tác giả Ngô Thị Phương Lan đã viết: “Nhập thế về xã hội của Phật giáo gắn liền với các dịch vụ xã hội qua các hoạt động từ thiện (bố thí và cúng dường). Khi đề cập đến Phật giáo nhập thế xã hội, giới nghiên cứu thường đề cập đến hoạt động nhập thế của Phật giáo Bắc tông do hệ phái này có số lượng cơ sở thờ tự cũng như số lượng Phật tử nhiều hơn Phật giáo Nam tông”[7].
Trong thực tiễn chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy các hoạt động nhập thế của Phật giáo Bắc tông rất đa dạng, chẳng hạn như cứu trợ lũ lụt, ủng hộ quỹ từ thiện cho người nghèo, phát quà, gạo, nhu yếu phẩm cho người khuyết tật, chăm lo cho người già neo đơn, cho trẻ em nghèo hiếu học, xây cầu nông thôn, xây nhà tình thương,… Quan trọng hơn nữa là các khoá tu “Một ngày niệm Phật”, “Một ngày an lạc”, khoá tu “Búp sen hồng” và các khoá tu mùa hè cho thanh thiếu niên, cho lứa tuổi học sinh sinh viên. Các khoá tu này giúp định hướng các giá trị sống, giáo dục toàn diện cho con người trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá. Hoặc trong lễ hội Vu lan báo hiếu theo truyền thống Phật giáo, mùa vu lan kéo dài suốt tháng 7 âm lịch, khắp các chùa rộn ràng lời ca tiếng hát ngợi ca công đức của hai đấng sinh thành; nghi thức cài hoa hồng thiêng liêng: đỏ cho người còn đầy đủ mẹ cha, hoa hồng nhạt sắc cho ai mất mẹ, hoặc cha, hoa trắng cho ai mồ côi cha mẹ, nhắc nhở mỗi người con tấm gương đại hiếu của Tôn giả Mục Kiền Liên. Phật giáo khi đó tính nhập thế tăng cao, đạo và đời gắn kết, đạo giúp cho con người, cho cuộc đời thêm đẹp vì biết gìn giữ và phát huy những giá trị cao quý trong truyền thống đạo lý của dân tộc.
Cũng trong nghiên cứu về “Hoạt động nhập thế của Phật giáo Nam tông của người Khmer tại Thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả Ngô Thị Phương Lan cho rằng: “Có lẽ, sự nhập thế của Phật giáo Nam tông ít được đề cập đến do cách hiểu hệ phái này chịu ảnh hưởng của Phật giáo Nguyên thủy ở Ấn Độ”[8]. Tuy nhiên thì chúng tôi nghĩ rằng các hoạt động nhập thế của Phật giáo Nam tông ít được nhắc đến có thể là do: 1. Số lượng chùa Khmer và số lượng Tăng ít hơn bên Phật giáo Bắc tông; 2. Số người theo Phật giáo Nam tông là dân tộc Khmer, dân tộc thiểu số, ít hơn nhiều trong tương quan so sánh với người Kinh theo Phật giáo Bắc tông; 3. Các hoạt động nhập thế của Phật giáo Nam tông thường không lan toả rộng rãi cho đồng bào dân tộc khác quanh vùng họ sinh sống; 4. Số lượng nhà nghiên cứu, những người có học vị cao am hiểu về vấn đề này trong dân tộc Khmer chưa nhiều nên tính lan toả, truyền thông, giới thiệu cho hoạt động của Phật giáo Nam tông còn ít nhiều hạn chế.
Tuy nhiên, “trong bối cảnh chung của xã hội, các hoạt động nhập thế của Phật giáo Nam tông Khmer cũng không nằm ngoài đường hướng chung này[9]. Song với đặc trưng là tôn giáo - dân tộc, hoạt động nhập thế của Phật giáo Nam tông Khmer mang một màu sắc khác thể hiện mạnh mẽ văn hóa tộc người”[10]. Theo các Nhà Sư Nam tông, thì việc nhập thế của Phật giáo thật ra đã xuất hiện ngay từ thời Đức Phật còn tại thế, biểu hiện ngay khi Đức Phật thành đạo, Ngài đã đi thuyết pháp, Phật giáo gọi đấy là công việc “hoằng pháp lợi sinh”, mang giáo lý của Đức Phật cứu độ chúng sinh. Vậy nên hoạt động đó vẫn luôn được duy trì cho đến ngày nay.
Phật giáo Nam tông gắn bó thiết thân với đời sống con người từ khi còn nhỏ đến cả vòng đời và ngay cả khi mất đi. Chẳng hạn như người Khmer có phong tục tu một thời gian trong chùa đối với con trai. Họ gọi đấy là “Tu báo hiếu”. Thời gian tu báo hiếu có thể diễn ra trong ba năm, hai năm, một năm, thậm chí vài tháng, tuỳ điều kiện, hoàn cảnh mỗi người. Người con trai sẽ vào ngôi chùa Nam tông gần nhất trong phum sóc, cạo hết tóc, thọ giới, và sống đời khổ hạnh để được các vị sư, đặc biệt là vị Sư cả dạy bảo. Họ học oai nghi, đi, đứng, nằm, ngồi đều phải trang nghiêm. Họ học chữ, học kinh tạng, học các giá trị đạo đức, học cách làm người. Mỗi ngày họ chỉ ăn một buổi trước 12h trưa, sau đó không được phép ăn, dành thời gian cho học hành, tụng niệm, luyện tập, làm các việc Phật sự. Sau thời gian tu báo hiếu, các vị này muốn hoàn tục hay không là tuỳ “duyên” của mỗi người. Khi những người tu này hoàn tục, họ được cộng đồng người Khmer trọng vọng, cảm thấy vinh dự khi con gái được gả cho họ, bởi đó là những người đã được tu học, đủ phẩm hạnh. Còn người con trai nào không qua thời gian tu báo hiếu thì mọi người sẽ không đánh giá cao họ, thậm chí không chấp nhận họ. Gọi là tu báo hiếu bởi vì theo họ giải thích rằng, khi mình học được tất cả những điều ấy, thì mình trở nên người có đạo đức, biết cách cư xử, sống có đạo nghĩa, đặc biệt là báo hiếu cho cha mẹ. Rồi nhiều trường hợp trong thời gian tang lễ của cha hoặc mẹ, hoặc trong lễ thiêu xác cha, mẹ, người con trai cũng cạo tóc đi tu để trợ lực hộ niệm cho cha mẹ mình được siêu thoát, sinh về cảnh giới an lành. Đấy cũng được gọi là tu báo hiếu. Tính nhập thế của Phật giáo thể hiện ở việc giáo dục con người trở thành người có lễ nghĩa, hiểu biết, có đạo đức, sống có ích cho bản thân, gia đình và xã hội.
Vào các dịp lễ như Chôl Chnăm Thmây, Dâng y Kathina, Đôn ta,… dân trong phum sóc đều tập trung vào ngôi chùa Khmer trong vùng để cùng thực hiện các nghi lễ chào đón năm mới, dâng y và vật dụng cho các nhà sư, báo hiếu cho ông bà cha mẹ. Vào thời gian ấy, ngôi chùa là nơi tụ họp, chứng kiến niềm vui của đồng bào, các vị Sư tụng niệm, cầu an, cầu phước. Họ thọ nhận vật lễ và tụng niệm theo nghi thức Phật giáo Nam tông để hồi hướng phước báu về cho cha mẹ hiện tiền và quá vãng của những người con Phật, cũng như thuyết pháp về ý nghĩa các buổi lễ để dạy dỗ người dân. “Trước khi nghe thuyết pháp, Phật tử tụng kinh tam bảo, sám hối, thọ trì quy giới, thỉnh chư tăng cầu an và hành thiền”, đồng thời “Chùa cũng tổ chức các lễ cầu siêu hồi hướng phước báu cho các đối tượng cụ thể như thai nhi, nạn nhân tai nạn giao thông, thiên tai lũ lụt vào dịp tết Chôl Chnăm Thmây hay khi Phật tử có nhu cầu”[11].
Ở các vùng ven biển, chẳng hạn vùng Sóc Trăng, Bạc Liêu, cư dân ven biển người dân tộc Khmer mỗi năm đều thực hiện lễ Cúng Phước Biển. Lễ hội này diễn ra trong hai ngày một đêm. Các hoạt động lễ nhằm tạ ơn Biển đã cho họ nguồn lợi cá tôm suốt một năm, đồng thời cho họ sự bình an trên biển, trở về an toàn trong suốt một năm qua, và cầu mong một năm mới tôm cá đầy ghe, sóng yên biển lặng. Trong lễ hội này, họ sẽ thỉnh các nhà sư đến để tụng niệm, cầu an, thực hiện các nghi lễ chính, bên cạnh các hoạt động dân gian như đắp núi cát cầu phước, thả thuyền cúng linh, hoặc các hoạt động văn nghệ, trò chơi dân gian.… Và khi chết đi, ai cũng mong muốn được thiêu xác và gửi tro cốt vào các tháp cốt của gia đình, dòng họ được đặt trong khuôn viên chùa. Khi họ sinh ra được nhà chùa dạy dỗ, ban phúc, khi sống gắn kết với ngôi chùa, và khi trở về với đất mẹ, họ cũng cầu mong được nương tựa lời kinh tiếng kệ để được siêu thoát.
“Các hoạt động nhập thế chủ yếu diễn ra trong phạm vi xã hội, nhấn mạnh công tác từ thiện và hoằng pháp. Nhập thế theo cách hiểu của Phật giáo Nam tông là việc đem những lời của Đức Phật dạy đi vào đời sống, giúp cho con người có một chỗ dựa, một niềm tin để tồn tại một cách đúng đắn trong cuộc sống. Bên cạnh hoạt động nhập thế này, đặc trưng nổi bật của hoạt động nhập thế của Phật giáo Nam tông Khmer là việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa tộc người và quá trình hòa hợp tộc người”[12].
Như vậy, Phật giáo Nam tông có tính nhập thế rất cao, có tác dụng định hướng tư tưởng, hướng con người đến các giá trị nhân văn, giữ gìn truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc, kể cả việc bảo tồn bản sắc tộc người.
2.2. Phật giáo và những biểu hiện của Phật giáo nhập thế tại Lào
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, một quốc gia nội lục tại Đông Nam Á, trung tâm của bán đảo Đông Dương, với diện tích khoảng 236.800km2. Lãnh thổ Lào chạy dài theo sông Mekong, có đường biên giới chung với 5 nước: phía Đông giáp Việt Nam, dài 1.957km; phía Tây có đường biên giới chung với Thái Lan dài 1.730km; phía Bắc giáp vùng đồi núi Vân Nam Trung Quốc dài 416km, phía Tây Bắc giáp Myanma dài 230km; phía Nam giáp Campuchia dài 492km[13]. Với 49 dân tộc, Lào là một quốc gia có một nền văn hoá hết sức đa dạng, trong đó nhiều hình thức thờ thần được tồn tại, phổ biến trong dân gian. Mặc dù vậy Phật giáo vẫn giữ vị trí cốt lõi, đạo Phật bao trùm và gắn bó với cuộc sống người dân, các vị sư được trọng vọng hết mực.
                        Tại Lào, Phật giáo Bắc tông chiếm số lượng khá nhỏ, phần lớn là theo Phật giáo Nam tông. Phật giáo Nam tông tại đây chia làm hai nhánh: Mahanicay (của tầng lớp bình dân), Thammayút (của tầng lớp trên)[14]. “Theo G. Coedès, một tác giả người Pháp có nhiều nghiên cứu về nước Lào, Phật giáo du nhập vào vùng Tây Lào khoảng thế kỷ 8 do người Môn đầu tiên di cư từ La Vô đến vùng thượng Mêphing, nơi cư trú dân La Vạ. Tại đây, người Môn đã truyền Phật giáo cho cư dân La Vạ và cũng chính người Môn đã lập nên vùng này thành hai đô thị Lăm-phun và Lăm- pang. Sau đó, Lăm-phun trở thành thủ phủ của Haripujaya (sau này là Xiêngmai-Lạnna, hiện nay thuộc về vùng Bắc Thái Lan)” [15].
                        Trong nghiên cứu của Fongsamouth Phouvinh (2012) về “Phật giáo trong đời sống văn hoá các bộ tộc Lào hiện nay”, có đề cập đến một thông tin quan trọng về việc vào năm 1641, Van Wusthoff - người châu Âu đầu tiên đến Lào, đã từng sống trong môi trường người dân sùng bái Phật kể rằng, tại Lào số sư tăng đông hơn cả số binh lính của hoàng đế Đức, các sư Lào hãnh diện về đức Phật của mình lớn hơn đức Phật ở Xiêm, ở Campuchia và ở các nước khác. Đồng thời họ còn hãnh diện không đâu có nhiều chùa tháp giàu có, nhiều sư tăng tài giỏi và Phật học phát triển như ở Viêng-Chăn[16]. Chính vì thế mà nhiều nhà sư nước ngoài thích được đến Lào, vì tại đây họ được nể trọng đến mức cao nhất. Cũng theo nhà nghiên cứu này, Phật giáo ở Lào không đơn thuần chỉ là một tôn giáo mà là sự hiện thân của văn hóa và lối sống của con người ở Lào.
                        Khắp nơi trên đất nước Lào, dấu ấn Phật giáo thể hiện sinh động, nhiều chiều ở tất cả các phương diện của đời sống người dân, đó chính là tính nhập thế của Phật giáo. Ngôi chùa là trung tâm văn hoá, là nơi diễn ra các hoạt động tín ngưỡng, tâm linh, và cả những hội hè lễ tết. Các nhà sư trong chùa vừa giữ cho tinh thần con người được bình an, vừa truyền dạy giáo lý Phật học, các giá trị đạo đức,… Ngôi chùa gắn bó với mỗi người từ khi được sinh ra, lớn lên, trưởng thành, đến khi về với cội nguồn đất mẹ. Ngay khi chào đời, đứa trẻ được bố mẹ đưa lên chùa lễ Phật, cầu phúc và nhờ sư đặt tên. Khi đến tuổi đi học, cha mẹ lại gửi vào chùa để học giáo lý, kinh kệ, học cách ăn nói, đi đứng, học đạo lý làm người… 
Cũng giống với Phật giáo Nam tông ở Việt Nam và một số nước khác như Campuchia, Thái Lan, Myanma,… Phật giáo Nam tông tại Lào tiếp nhận những người con trai đến tu tập trong nhiều giai đoạn, nhiều lý do khác nhau. Chẳng hạn tu để trưởng thành, để khi hoàn tục lấy vợ, sinh con sẽ trở thành con người mẫu mực, được mọi người nể trọng; hoặc tu báo hiếu, cầu phúc cho cha mẹ khi cha mẹ còn sống, hoặc khi cha mẹ đang được thiêu xác để mang tro cốt gửi vào chùa[17]. Người Lào cho rằng ai chưa đi tu thì chưa đủ lẽ sống và những ai không đến chùa, khinh các nhà sư thì sẽ bị cộng đồng chỉ trích như là hành động chống lại truyền thống của dân tộc. Ngoài ra, khi có bất kỳ khó khăn nào, con người cũng sẽ tìm đến các nhà sư, để được ban phúc, được nghe lời khuyên. Họ tin tưởng rằng các vị sư thông thái, những người đã giác ngộ, nhìn thấu nhân gian sẽ giúp được họ giải quyết những vấn đề nan giải của cuộc sống.
Tính nhập thế của Phật giáo Lào trọn vẹn đến cả việc tham gia bảo vệ và xây dựng đất nước. Trong nghiên cứu về “Phật giáo dưới góc nhìn văn hoá Lào”, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Thuần đã minh chứng: Ngày 02/12/1975, đất nước Lào hoàn toàn giải phóng, nhân dân Lào bước vào một giai đoạn lịch sử mới, thời kỳ bảo vệ và xây dựng đất nước. Hoà nhập thời cuộc, các nhà sư Lào không chỉ hành đạo mà còn tham gia vào hoạt động xã hội nhập thế, cả trong giáo lý và trong hành động, để phù hợp với giai đoạn lịch sử mới của đất nước. Điều này được thể hiện qua nhận định và cũng là lời kêu gọi của nguyên Chủ tịch nước Kayxỏn Phôm-Vi-Hẳn: “Dân tộc ta, từ thuở xa xưa đã từng góp phần quan trọng vào sự nghiệp phồn thịnh của đạo Phật. Các nhà tu hành, tăng lữ được sự kính trọng của nhân dân,... Hưởng ứng sự khuyến khích của Đảng và nhà nước Lào, các nhà sư đã tích cực tham gia vào Mặt trận văn hóa - xã hội, tham gia việc xóa nạn mù chữ, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, giáo dục cho tín đồ có tinh thần tương trợ, thương yêu đoàn kết để cùng nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[18].
                        Fongsamouth Phouvinh qua nghiên cứu của mình đã nhận định rằng, Phật giáo ở Lào đã ăn sâu vào tư tưởng, tình cảm của nhân dân Lào. Qua nhiều hoạt động, Phật giáo đã góp phần gìn giữ những tinh hoa, những bản sắc độc đáo, những truyền thống quý báu của dân tộc Lào. Ngày nay, tuy Hiến Pháp Lào không ghi Phật giáo là Quốc giáo, nhưng Phật giáo vẫn giữ vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống sinh hoạt của nhân dân Lào, được nhân dân Lào trân trọng lưu giữ[19].
Riêng về chùa Việt tại Lào, được biết, theo bước chân người dân Việt nhập cư nơi đây, chùa Bàng Long là ngôi chùa Việt đầu tiên trên xứ sở của hoa Chămpa, hình thành trước 1945, với diện tích hơn 5.000m2, toạ lạc tại thủ đô Viêng Chăn, được xây dựng theo kiến trúc giao thoa giữa hai nền văn hóa Việt – Lào. Chùa theo hệ phái Bắc tông, là điểm tựa tinh thần cho cư dân Việt tại Lào. Nhiều hoạt động tại chùa như tổ chức các lễ hội theo truyền thống Phật giáo Bắc tông, các hoạt động thuyết pháp, tương trợ giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn vẫn luôn được thực hiện. Các hoạt động có tính nhập thế tại ngôi chùa này và nhiều chùa Việt khác càng có ý nghĩa hơn khi nơi đây trở thành nơi gắn kết Phật tử Việt, những người đồng hương, và kể cả dân tộc Lào, khi họ cũng đến lễ bái Tam bảo, tham gia lễ hội.
                        Như vậy, xét về phương diện nhập thế của Phật giáo trong tương quan so sánh giữa Lào và Việt Nam, có thể thấy Phật giáo nơi đâu, dù Nam tông hay Bắc tông cũng đều hướng đến sự bình yên cho con người. Tính nhập thế ngày càng thể hiện rõ qua những hoạt động thiện nguyện, thuyết pháp, giáo dục,… Tuy nhiên Phật giáo Nam tông phổ biến hơn tại Lào, nên trong so sánh với Việt Nam về tính nhập thế của Phật giáo thì chúng tôi nghĩ rằng nên so với Phật giáo Nam tông ở Việt Nam để có cái nhìn sát hợp hơn. Về điều này chúng ta thấy rằng Phật giáo Nam tông tập trung phần lớn ở miền Nam Việt Nam, mà nhiều hơn cả là ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Qua quan sát thực tiễn chúng tôi nhận thấy vùng này vẫn hiện hữu những ngôi chùa Nam tông Khmer lộng lẫy, rực rỡ tông màu vàng pha sắc đỏ chủ đạo, nổi bật giữa phum sóc. Người dân gắn bó hầu hết các hoạt động quan trọng nhất của cuộc đời mình với ngôi chùa thân thương của họ, vì vậy khi có điều kiện là họ sẽ cùng chung tay vun đắp để ngôi chùa đó ngày càng to đẹp, rực rỡ, uy nghiêm,  trở thành niềm tự hào của người dân trong vùng. Đó là điểm giống nhau cơ bản nhất giữa tính nhập thế, sự gần gũi, vai trò của Phật giáo Nam tông trong cuộc sống của người dân ở Việt Nam và Lào.
            Mặc dù vậy chúng ta vẫn sẽ nhận ra rằng, số lượng cư dân Khmer ở Việt Nam không nhiều, chùa Khmer không nhiều bằng chùa Việt - Phật giáo Bắc tông, nên ít nhiều văn hoá Khmer, kể cả văn hoá chùa chiền cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh. Người Khmer cũng đến thăm các ngôi chùa Bắc tông, các thiền viện đẹp, đặc biệt là cũng tín ngưỡng Quan Âm Nam Hải, vị Bồ tát trong Phật giáo Bắc tông. Có lẽ đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho hoạt động nhập thế của Phật giáo Nam tông Khmer ở Việt Nam chưa đạt được sự hoà quyện chặt chẽ giữa đạo với đời giống như Phật giáo Nam tông tại Lào. Bởi vì người dân Khmer ở Việt Nam đôi khi bị chia sẻ niềm tin, đôi khi chưa hoà nhập hết vào các hoạt động nhập thế của các vị sư.
3. Kết luận
                        Từ nhu cầu tâm linh của con người, tôn giáo xuất hiện, trong đó có Phật giáo. Đạo Phật do Thích Ca Mâu Ni sáng lập với mục đích ngay từ ban đầu là để khai thị, giáo hoá chúng sinh. Kể từ khi xuất hiện, rồi được truyền đến nay, đạo Phật vẫn giữ nguyên tôn chỉ, mục đích hoạt động ấy. Hình thức và phương tiện hoằng pháp có thể tuỳ duyên, tuỳ quốc gia, nhưng tôn chỉ khai thị, giáo hoá vẫn bất biến theo năm tháng. Nhập thế là đặc tính của đạo Phật. Đạo Phật đã đi suốt theo dòng đời, gắn liền với từng dân tộc, từng đất nước, hòa mình vào cùng với tín ngưỡng, phong tục của từng quốc gia cũng vì đạo Phật là đạo của con người.
Nhìn chung, về phương diện nhập thế, Phật giáo Nam tông giữa Lào và Việt Nam có nhiều nét tương đồng, gần như đó là đặc tính truyền thống của tôn giáo và đặc tính dân tộc mà dù di chuyển bất cứ nơi đâu thì vẫn giữ nguyên giá trị. Mặc dù có đôi chút khác biệt về hoạt động nhập thế, về sự gắn bó giữa nhà chùa và Phật tử, thì các vị sư vẫn luôn được trọng vọng và các vị ngày càng có nhiều hoạt động nhập thế, hỗ trợ, giúp đỡ người dân, chứng tỏ sự cần thiết của tôn giáo, vai trò của tôn giáo trong đời sống xã hội.
Tài liệu tham khảo:

 
  1. Lê Tâm Đắc (2016), “Nghiên cứu Phật giáo Việt Nam dưới góc nhìn tôn giáo học: 25 năm nhìn lại (1991-206)”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 7&8 (157). Tr 3-33
  2. Vũ Minh Giang (2004), So sánh văn hóa Đông Á và Đông Nam Á, trường hợp Việt Nam - Nhật Bản, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 2.
  3. Lão Tử, Thịnh Lê chủ biên (2001), Từ điển Nho, Phật, Đạo, Nxb. Văn học, Hà Nội.
  4. Thích Nhất Hạnh (1964), Đạo Phật đi vào cuộc đời, Nxb. Lá Bối, Sài Gòn.
  5. Ngô Thị Phương Lan (2015), “Hoạt động nhập thế của Phật giáo Nam tông của người Khmer tại Thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, Số 6 (144), Tr 64-73.
  6. Fongsamouth Phouvinh (2012), “Phật giáo trong đời sống văn hoá các bộ tộc Lào Hiện nay”, Tạp chí Khoa học xã hội, Số 11 (171), Tr 77-83.
  7. Allie B. King (2009), Socially Engaged Buddhism – Dimensions of Asian Spirituality, University of Hawaii press, Honolulu.
  8. Nguyễn Xuân Tế (2000), Thể chế chính trị các nước ASEAN, Nxb. Đại học Mở-Bán công TP. HCM.
  9. Nguyễn Văn Thuần (2007),  Phật giáo dưới góc nhìn văn hóa ở Lào, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.
  10. Nhiều tác giả (1978), Tìm hiểu lịch sử văn hóa nước Lào, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  11. Nhiều tác giả (1985), Tìm hiểu văn hóa nước Lào, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
  12. Nhiều tác giả (1994), Tìm hiểu lịch sử văn hóa Lào, tập 3, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
 
[1] Thích Nhất Hạnh (1964), Đạo Phật đi vào cuộc đời, Nxb. Lá Bối, Sài Gòn.
[2] Allie B. King (2009), Socially Engaged Buddhism – Dimensions of Asian Spirituality, University of Hawaii press, Honolulu.
[3] Một ngôi chùa theo hệ phái Nam tông tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.
[4] Ngô Thị Phương Lan (2015), “Hoạt động nhập thế của Phật giáo Nam tông của người Khmer tại Thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, Số 6 (144), Tr 66.
[5] Ngô Thị Phương Lan (2015), “Hoạt động nhập thế của Phật giáo Nam tông của người Khmer tại Thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, Số 6 (144), Tr 65.
[6] Dẫn theo Lê Tâm Đắc (2016), “Nghiên cứu Phật giáo Việt Nam dưới góc nhìn tôn giáo học: 25 năm nhìn lại (1991-206)”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, Số 7&8 (157), Tr 6.
[7] Ngô Thị Phương Lan (2015), “Hoạt động nhập thế của Phật giáo Nam tông của người Khmer tại Thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, Số 6 (144). Tr 66.
[8] Ngô Thị Phương Lan (2015), “Hoạt động nhập thế của Phật giáo Nam tông của người Khmer tại Thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, Số 6 (144). Tr 66.
[9] Nghĩa là vẫn nhập thế để hỗ trợ xã hội giải quyết nhiều vấn đề của cuộc sống con người.
[10] Ngô Thị Phương Lan (2015), “Hoạt động nhập thế của Phật giáo Nam tông của người Khmer tại Thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, Số 6 (144). Tr 67.
[11] Ngô Thị Phương Lan (2015), “Hoạt động nhập thế của Phật giáo Nam tông của người Khmer tại Thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, Số 6 (144). Tr 68.
[12] Ngô Thị Phương Lan (2015), “Hoạt động nhập thế của Phật giáo Nam tông của người Khmer tại Thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, Số 6 (144). Tr 69.
[13] Nguyễn Xuân Tế (2000), Thể chế chính trị các nước ASEAN, Nxb. Đại học Mở-Bán công TP.HCM, Tr 71.
[14] Nhiều tác giả (1985), Tìm hiểu văn hóa nước Lào, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
[15] Fongsamouth Phouvinh (2012), “Phật giáo trong đời sống văn hoá các bộ tộc Lào Hiện nay”, Tạp chí Khoa học xã hội, Số 11 (171). Tr 79.
[16] Fongsamouth Phouvinh (2012), “Phật giáo trong đời sống văn hoá các bộ tộc Lào Hiện nay”, Tạp chí Khoa học xã hội, Số 11 (171). Tr 77-83.
[17] Trong quan niệm của người Lào, khi người ta chết đi tức là về với cõi Phật, cõi chùa, nên họ mong muốn tro cốt được đặt trong các tháp tại chùa.
[18] Nguyễn Văn Thuần (2007), Phật giáo dưới góc nhìn văn hóa ở Lào, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.
[19] Fongsamouth Phouvinh (2012), “Phật giáo trong đời sống văn hoá các bộ tộc Lào Hiện nay”, Tạp chí Khoa học xã hội, Số 11 (171), Tr 77-83.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây