MỐI QUAN HỆ GIỮA DI CƯ, TÔN GIÁO VÀ BẢN SẮC: TRƯỜNG HỢP NGƯỜI VIỆT (KINH) THEO PHẬT GIÁO Ở LÀO

Thứ hai - 09/12/2019 01:56
MỐI QUAN HỆ GIỮA DI CƯ, TÔN GIÁO VÀ BẢN SẮC:
TRƯỜNG HỢP NGƯỜI VIỆT (KINH) THEO PHẬT GIÁO Ở LÀO
ThS. Phạm Thị Mùi*
Tóm tắt:
Trên phạm vi toàn cầu, người dân di cư để thỏa mãn các nhu cầu của bản thân và cải thiện điều kiện chăm sóc gia đình. Dù là tự nguyện hay bắt buộc, di cư cũng là một quá trình điều chỉnh hành vi văn hóa của con người nhằm phù hợp với hoàn cảnh xã hội tại nơi nhập cư. Tôn giáo là một bộ phận quan trọng cấu thành văn hóa, bản sắc của một tộc người, hoặc một cộng đồng. Các công trình nghiên cứu trước đây thường đề cập đến thực hành tôn giáo của những di dân theo đạo Kitô giáo hoặc Hồi giáo ở xã hội các nước châu Âu (El Hamel 2002 ; Naylor và Ryan 2002 ; Kuppinger 2014 ; Sunier 2014; Slaubaugh  2019 )[1]. Có một số ít công trình nghiên cứu đề cập đến thực hành tôn giáo của Phật tử người Việt ở Lào, thường đề cập đến việc chuyển đổi thực hành tôn giáo trong bối cảnh xã hội mới, và trong mối quan hệ so sánh với cộng đồng gốc (Nguyễn Duy Thiệu 2008, Nguyễn Văn Thoàn 2019)[2]. Tiếp tục mạch nghiên cứu này, mở rộng hơn, mục đích của bài viết này nhằm thảo luận về sự thích ứng, tiếp nối và thay đổi thực hành Phật giáo tác động đến chuyển đổi bản sắc của những người nhập cư Việt Nam vào Lào. Một số tranh luận quan trọng đã được đưa ra. Lập luận thứ nhất cho rằng thích ứng là một quá trình hai chiều, tức là nó liên quan đến tương tác giữa bản sắc của người nhập cư và văn hóa xã hội nơi đến. Thứ hai, quá trình thích ứng có thể dẫn đến sự đồng hóa bản sắc của người di cư vào văn hóa xã hội nơi đến. Các vấn đề về văn hóa, niềm tin tôn giáo và bản sắc thường không dễ dàng định lượng được, nên bài nghiên cứu này sử dụng phương pháp định tính là chủ yếu.
Từ khóa: Di cư, tôn giáo, bản sắc, người Việt theo Phật giáo ở Lào
  1. Số lượng, nguồn gốc và phân loại người Việt ở Lào
Có thể nói, người Việt đã di cư đến Lào từ rất lâu trong lịch sử. Hiện nay số lượng người Việt Nam ở Lào có khoảng 10 vạn người[3], do ba bộ phận hợp thành: Bộ phận người Việt đã nhập quốc tịch Lào (người Lào gốc Việt); Bộ phận những người được sinh ra và lớn lên ở Lào, có quyền đăng ký hộ khẩu nhưng chưa nhập quốc tịch Lào và vẫn là công dân Việt Nam (Việt kiều); Bộ phận những người Việt mới sang Lào cư trú hay còn gọi là người lao động tự do. Đây là một số lượng người không nhỏ nếu so sánh với tổng dân số nước Lào 6,492,228 người[4]. Phần lớn những người Việt ở Lào theo đạo Phật. Theo số liệu điều tra của Nguyễn Văn Thoàn, trong số 371 người được hỏi thì có đến 349 người trả lời theo đạo Phật (chiếm 94%). Hiện tại trên khắp nước Lào có 14 ngôi chùa Phật giáo của người Việt, trong đó riêng tại thủ đô Vietiane có 3 chùa và 1 tịnh xá.
Nguồn gốc xuất thân của người Việt ở Lào cũng từ nhiều thành phần khác nhau và đến từ nhiều địa phương trong cả nước. Theo Nguyễn Duy Thiệu[5], trong tổng số 316 hộ người Việt được điều tra thì họ đến Lào từ 35 tỉnh thành, rải khắp ba miền Bắc, Trung, Nam. Mỗi miền như vậy có tập quán, lối sống khác nhau, rất khó để người Việt lựa chọn để cùng nhau tái hiện ở nơi nhập cư. Những người Việt sống xen kẽ với người Lào thường có xu hướng thực hành văn hóa giống người Lào.
Cộng đồng người Việt ở Lào do ba bộ phận hợp thành và có nguồn gốc xuất thân khác nhau nên mức độ hòa nhập vào văn hóa nơi đến và chuyển đổi bản sắc của các nhóm cũng đậm nhạt khác nhau.
  1. Tái cấu trúc văn hóa ở nơi nhập cư
Những người di cư thường tìm cách duy trì hoặc làm mới thực hành tôn giáo của mình sau khi đến nơi ở mới. Đây là một cách thể hiện bản sắc hay nói một cách khác là họ muốn khằng định sự xuất hiện của mình tại nơi đến. Người Lào theo Phật giáo Theravada, người Việt theo Phật giáo Mahayana. Người Việt ngoài thờ Phật còn thờ phụng tổ tiên và thờ Thánh, đặc biệt là thờ Thánh Mẫu và Đức Thánh Trần. Hai dòng Phật giáo này có nhiều nét khác biệt nên di dân người Việt đã xây dựng chùa mới để đáp ứng nhu cầu tâm linh của mình. Nhiều ngôi chùa của người Việt ở Lào như chùa Long Vân, chùa Bảo Long (Pakse, Champasac), chùa Bảo Long, chùa Diệu Giác (Savannakhet) đều được xây dựng theo kiểu chùa Việt Nam bao gồm các công trình chính như Tiền đường, Thượng điện, nhà Tổ, nhà Mẫu và các công trình phụ trợ khác. Khác với chùa Lào, chùa Việt không chỉ thờ Phật, Bồ tát mà còn phối thờ các vị anh hùng, những liệt sỹ có công với quốc gia dân tộc Việt Nam. Vào những ngày rằm và mồng một hàng tháng, người Việt thường ra chùa cầu an hay đến đền thờ đức Thánh Trần thắp hương cầu mong công việc gặp nhiều may mắn.
Người Việt ăn tết Nguyên đán truyền thống ngay trên đất Lào. Vào dịp này, người Việt giữ truyền thống ra chùa thắp hương cầu may, đi thăm hỏi người thân họ hàng. Họ cũng chuẩn bị hoa đào, hoa mai với các món ăn truyền thống của người Việt như bánh chưng, nem rán,… Tập quán ăn hàng ngày của người Việt có thể đã có sự hòa nhập với người Lào, hàng ngày họ cũng ăn xôi, nạp, pà đẹc,… nhưng các món ăn trong đám cưới, đám ma, đám giỗ thì người Việt thường dùng những món ăn truyền thống.
Trong các nghi lễ liên quan đến vòng đời của người Việt ở Lào, nghi lễ tang ma còn được bảo lưu khá nguyên vẹn giá trị văn hóa truyền thống và ít bị pha tạp, từ các nghi lễ trong tang ma đến các nghi lễ thờ cúng người chết sau đám tang. Người Lào thường thiêu xác và đem tro cốt ký gửi vào chùa, người con trai trong gia đình cạo trọc đầu vào chùa đi tu một thời gian để trả ơn sinh thành, tạo phúc cho bố mẹ. Hầu hết người Lào gốc Việt mặc dù đã mang quốc tịch Lào nhưng khi chết vẫn làm ma theo phong tục người Việt, chôn trong nghĩa địa của người Việt, con trai trưởng mặc áo xô, chống gậy để chịu tang bố mẹ. Thậm chí, rất nhiều cô gái Việt làm dâu trong gia đình người Lào nhưng có ước nguyện sau khi chết được làm tang ma và thờ cúng theo phong tục của tộc người mà mình sinh thành.
Ngoài ra, người Việt còn tổ chức lễ Vu lan, lễ Phật đản,… Đây là hình thức mà người Việt di cư tái hiện tôn giáo truyền thống của cộng đồng gốc. Trong các lễ hội của người Việt cũng có rất nhiều người Lào tham gia cùng. Sự xuất hiện của những vị khách không đồng tộc cũng đóng một vai trò quan trọng, nhằm thiết lập một ranh giới giữa người trong cuộc và người ngoài cuộc. Khi Phật giáo tổ chức các hoạt động của họ vào những ngày lễ riêng của cộng đồng Việt, họ đã tuyên bố vị trí của họ là thành viên của xã hội Lào. Các nghi lễ là cách để “đóng dấu” sự xuất hiện của người Việt, cũng như phân chia lãnh thổ mới phù hợp với những người Phật giáo khác ở Lào và rộng hơn là đối với cả những người không theo Phật giáo. Nói chung, nghi lễ của người Việt ở Lào đều cho thấy có thể được sử dụng như thế nào để tạo ra một không gian Phật giáo riêng của người Việt theo nghĩa đen, và để người Việt khẳng định mình, trở thành một thành viên ở điểm đến theo nghĩa bóng. Đây là một loại “dấu tôn giáo” hay nói cách khách cũng là một cách chiếm đoạt địa điểm (Garbin 2012, tr. 410).
Việc tái hiện văn hóa - thực hành tôn giáo ở nơi mới còn là thể hiện mối liên hệ gắn kết với cộng đồng gốc nơi xuất cư. Những trải nghiệm giác quan như ngửi nhang, ăn đồ chay, hoặc nghe tụng kinh, nghe nhạc tâm linh cho phép những người đi chùa kết nối với đức Phật, cộng đồng tôn giáo của họ và quê nhà cùng một lúc. Từ đó, di dời những người tham gia cả về không gian và thời gian. Trong trường hợp này khái niệm “quê nhà” vừa là không gian cụ thể vừa là một không gian tôn giáo trừu tượng (Sparre và Galal 2017). Những người di cư từ Việt Nam sang Lào thường vẫn giữ sợi dây liên lạc với cộng đồng gốc. Nhiều người vẫn quay trở về cộng đồng gốc vào các dịp lễ tết, hay các dịp quan trọng như tang ma, hiếu hỉ,… Anh Nguyễn Văn Thanh (30 tuổi, Pakse, Chămpasac) cho biết: “ông bà anh sang đây định cư từ những năm đầu thế kỷ 20, đến đời anh là thế hệ thứ tư. Bố anh thỉnh thoảng vẫn về Việt Nam thăm quê gốc ở Điền Phong, Thừa Thiên Huế”.
  1. Hội nhập, thay đổi thực hành tôn giáo và chuyển đổi bản sắc
Hòa nhập được định nghĩa là một quá trình mà người nhập cư được chấp nhận vào một xã hội nơi đến (Neil Conner 2018). Người Việt đến Lào đã mang theo đời sống tín ngưỡng của mình đến quê hương mới. Với điều kiện hoàn cảnh xã hội mới, họ đã tái cấu trúc lại tín ngưỡng để phục vụ nhu cầu đời sống tâm linh của mình. Trong quá trình đó, người Việt ở Lào đã tiếp thu văn hóa của nơi đến và điều chỉnh cho phù hợp với họ. Do đó, người Việt đã tạo ra diện mạo đời sống tâm linh rất riêng, không giống với nơi xuất cư nhưng cũng không giống với nơi nhập cư.
Hai ngôi chùa của người Việt là Bàng Long và Phật Tích tại thủ đô Vietiane ít nhiều có pha trộn phong cách kiến trúc Phật giáo tiểu của người Lào. Chùa vẫn có bàn thờ Mẫu và nhà tổ giống như chùa Việt. Chùa Việt Nam theo truyền thống Đại thừa, trên điện thờ nhiều vị thánh. Tuy nhiên, trong chùa Phật Tích, các điện chỉ thờ Phật Thích Ca với nhiều hóa thân của Người, đủ các cỡ lớn nhỏ, thường bằng đồng hoặc gỗ, đều được sơn thếp kim nhũ,…
Đôi khi những người thực hiện nghi lễ muốn phân định mình với những người bản địa, nhưng vào hoàn cảnh khác họ lại muốn làm nổi bật những điểm giống, không xa lạ với người địa phương. Do đó văn hóa của người di cư luôn luôn đa sắc. Người Việt ở Lào mỗi năm đón hai cái tết: tết Nguyên đán của người Việt và Tết Bunpimày của người Lào. Khi chơi Tết Việt, họ mặc trang phục áo dài truyền thống Việt. Trong ngày Tết Bunpimày, người Việt mặc quần áo truyền thống của người Lào và tham gia vào các hoạt động chơi tết như té nước, hát và nhảy các điệu múa Lăm Vông…
Trong gia đình người Việt vẫn có bàn thờ gia tiên. Bên cạnh đó, họ còn có bàn thờ Phật kiểu Lào. Trong gia đình người Lào gốc Việt và Việt Kiều ở điểm nghiên cứu Vietianeđều có bàn thờ thổ công và kết hợp với thờ thần tài. Trong các gia đình buôn bán có đến hai bàn thờ thần tài: một bàn thờ thổ công kết hợp với thờ thần tài được đặt tiếp đất; một bàn thờ Nang Quắc gắn trên tường nhà ở trên cao. Cách thức tổ chức thờ cúng như vậy không giống người Việt tại cố hương nhưng cũng không giống người Lào.
Một số nơi không có chùa Việt, người Việt có thể đi chùa Lào và “tắc bạt” (dâng thức ăn cho nhà sư) như người Lào. Một số ít người Việt (chủ yếu là người Lào gốc Việt) khi chết thiêu xác và đem tro vào chùa để như người Lào. Cũng có gia đình mời mó bản người Lào về cầu sức khỏe, cầu phúc, làm lễ cưới, lễ lên nhà mới…  Trong dịp Bunpimay – Tết năm mới của người Lào thường có tục đi chùa để cầu may, cầu phúc. Họ quan niệm trong dịp tết phải đi được 9 ngôi chùa thì năm đó mới may mắn. Đa phần người Việt ở Lào, đặc biệt là phụ nữ thực hành tập tục này một cách thành kính. Ngày càng nhiều người Việt tham gia các nghi lễ buộc chỉ cổ tay cầu sức khỏe giống người Lào.
Các nghi lễ liên quan đến vòng đời của người Việt ở Lào được tổ chức đơn giản hơn rất nhiều so với phong tục của người Việt sinh sống tại các làng quê Việt Nam trước đây. Khi mang thai, người Việt ở Lào kiêng ăn một số loại động vật như : trâu, rắn, khỉ, chó, voi, mèo, hổ… Đây cũng là những loài mà nhà sư Lào kiêng không được ăn. Quan niệm của người Lào cho rằng nếu ai cố ý ăn thì sẽ gặp phải những điều xui xẻo trong cuộc sống. Trong thời gian ở mang thai, phụ nữ Việt ở Lào thường đi cả chùa Việt và chùa Lào để cầu an cho bản thân và thai nhi được mạnh khỏe, an lành. Họ cũng tích đức bằng cách thường xuyên cúng dường cho sư, giúp đỡ chùa chiền và đi tu giống như phong tục của người Lào.
Tục lệ bán khoán không còn phổ biến trong cộng đồng người Việt ở Lào. Đối với những đứa trẻ khó nuôi, gia đình người Việt, đặc biệt trong gia đình hôn nhân hỗn hợp Việt - Lào thường nhờ sư Lào buộc chỉ tay cầu phúc và đặt tên mới cho đứa trẻ.
Trong hôn nhân, trước khi cưới, người con trai có tục vào chùa tu để báo hiếu cho cha mẹ. Do đó, để hòa nhập với nhà vợ, người con trai Việt khi làm rể người Lào thường vào chùa tu vài ngày.
Lễ cưới là một nghi lễ chịu nhiều giao thoa văn hóa với cộng đồng nơi đến, đặc biệt là trong gia đình hôn nhân hỗn hợp Việt – Lào hay trong gia đình người Việt đã sống hai hay ba đời trở lên ở Lào. Tuy nhiên, người Việt cũng giữ được rất nhiều nét văn hóa đặc sắc trong phong tục hôn nhân của mình như bắt buộc phải có trầu cau trong lễ vật xin dâu, nghi lễ cúng gia tiên trong ngày cưới… Bên cạnh mặc những trang phục truyền thống của người Lào hay trang phục Tây- váy và vest hiện đại, người Việt vẫn diện trang phục truyền thống như mặc áo dài, đội khăn xếp. Người Việt ở Lào còn làm lễ cưới ở chùa để nhận sự cầu phúc, chỉ dạy đạo lý vợ chồng của nhà sư. Sau ngày cưới, đôi vợ chồng trẻ dậy sớm làm lễ “tắc bạt” (dâng cơm) cho nhà sư đi khất thực qua nhà. Ngoài ra, họ còn lên chùa để làm cơm cúng cho tổ tiên đã mất. Đây là một nét mới so với đám cưới ở nơi quê gốc.
Như trên đã đề cập, nghi lễ tang ma truyền thống được cộng đồng Việt ở Lào bảo lưu khá trọn vẹn. Tuy nhiền, hiện nay đã có một số người Lào gốc Việt (khoảng 10%) đã thực hành tang ma theo kiểu pong tục của người Lào, thiêu xác và đem tro cốt để vào tháp trong chùa Lào.
Đời sống tâm linh của người Việt thay đổi một mặt do tác động của quá trình hiện đại hóa đang diễn ra trên toàn khu vực. Mặt khác, do quá trình tiếp xúc, cộng cư với người Lào đã làm cho văn hóa tâm linh của người Việt thích ứng phù hợp với điều kiện sống mới.
  1. Chuyển đổi bản sắc tác động đến vị thế xã hội
Giáo lý đạo Phật hướng con người đến sự bình đẳng, thông qua sự tham gia của thể xác và tâm linh, những người tham gia nghi lễ có thể cảm thấy không còn sự phân biệt giai cấp, địa vị xã hội. Điều này tồn tại ít nhất trong một không gian cụ thể và trong một khoảng thời gian nhất định. Tuy nhiên nghi lễ có thể như một "lăng kính văn hóa" (Sjorslev, 2007) tái hiện và mô phỏng mọi khía cạnh của cuộc sống hàng ngày.
Có một sự thật là các buổi thực hành nghi lễ có thể phản ánh địa vị xã hội khác nhau thông qua các lễ vật dâng cúng. Người giàu thường chuẩn bị lễ vật cúng tiến cầu kỳ hơn người nghèo. Người giàu khi chết đám tang cỗ bàn linh đình, mộ tháp to đẹp hơn,… Đám cưới cũng là một cách các gia đình di cư phô trương sự giàu có, thông qua hệ thống lễ vật ăn hỏi, tiền thách cưới, khách sạn tổ chức đám cưới, các món ăn, trang phục cô dâu chú rể, quà tặng…
Các mối quan hệ xã hội không phải lúc nào cũng rõ ràng hoặc được giải thích trong cuộc sống hàng ngày, nhưng qua các nghi lễ chúng ta có thể hiểu được các vị thế con người trong mối quan hệ với gia đình và cộng đồng. Theo cách này, có thể hiểu biết về tổ chức xã hội của người di cư. Các nghi lễ liên quan đến vòng đời là sự kết hợp quan trọng thể hiện mối liên kết bản sắc giữa cộng đồng gốc và cộng đồng nơi đến.  
Người Lào không nặng nề về việc sinh con trai như người Việt, vì vậy nếu làm dâu trong gia đình người Lào, cô con dâu người Việt hoàn toàn không bị sức ép phải sinh được con trai nối dõi cho nhà chồng. Phụ nữ Việt ở Lào không phải thực hành kiêng kị nhiều như khi còn ở quê gốc: không phải kiêng đẻ rơi ở nhà người khác, không phải tránh tiếp xúc với người khác trong giai đoạn ở cữ (3 tháng sau khi sinh),… Thực hành nghi lễ liên quan đến sinh đẻ cho thấy vị thế của cô con dâu Việt được nâng lên trong mối quan hệ với cộng đồng và gia đình nhà chồng, đặc biệt là khi cô làm dâu trong gia đình người Lào.
Tư tưởng Nho giáo và thờ cúng tổ tiên vẫn ảnh hưởng lớn đến người Việt. Trong gia đình, các cô dâu, đặc biệt là cô dâu trưởng có vị thế rất cao. Với vai trò “nội tướng”, “tay hòm chìa khóa” trong cuộc sống hiện thực, cô dâu trưởng là người chỉ đạo việc chuẩn bị nghi lễ cúng tế, cô cùng chồng mình thực hành các nghi lễ trong gia đình, đôi khi cô còn đóng vai trò chính như phải tự tay đơm cơm cúng trong tang ma và thờ cúng bố mẹ chồng. Người Lào không thờ cúng tổ tiên, do đó về mặt tín ngưỡng, cô gái Việt không có vị thế cao khi cô làm dâu trong gia đình người Lào.  
Thay đổi vị thế gắn liền với thay đổi về quyền lợi. So với cộng đồng gốc, vị thế của phụ nữ đã có nhiều cải thiện theo chiều hướng tích cực. Người Việt ở Lào hiện nay thông thường chia thừa kế cho tất cả những người con trong gia đình, cả con trai và con gái. Tuy nhiên con trai được chia phần nhiều hơn. Nếu người con gái Việt lấy rể Lào về để chăm lo cho cuộc sống nhà mình thì trong trường hợp này, cô được bố mẹ chia thừa kế bằng phần với những người con trai khác trong gia đình.
Sự phân biệt giới trong xã hội phụ quyền của người Việt được thể hiện rất rõ trong nghi thức tang lễ truyền thống. Người Việt ở Việt Nam trước đây có tục để tang chồng 3 năm như con để tang cha mẹ. Ngược lại, người chng chỉ để tang vợ một năm. Hiện nay, Việt Kiu quy định việc để tang vợ và tang chồng là bằng nhau, một năm hoặc hai năm. Điều này chứng tỏ vị thế của người phụ nữ Việt ở Lào so với người phụ nữ Việt ở Việt Nam trong quan hệ với gia đình nhà chồng đã được nâng lên.
Người Việt có tục chôn người chết, người Lào có tục hỏa táng và đưa tro cốt ký gửi ở chùa. Đối với tập quán truyền thống của người Việt, người phụ nữ đi lấy chồng là thuộc ma nhà chồng, việc trở lại cộng đồng sinh thành khi chết có thể coi là bị nhà chồng “đuổi về”, là nỗi sỉ nhục của cả dòng họ. Như trên đã đề cập, người phụ nữ Việt làm dâu gia đình Lào thường có nguyện vọng khi chết được làm tang ma theo phong tục truyền thống của người Việt. Tương tự, con dâu người Lào trong gia đình Việt khi chết, theo phong tục của người Việt phải được chôn cất và thờ cúng bên nhà chồng[6]. Tuy nhiên, trong cộng đồng Việt lại có những quy định về việc “trừng phạt” nếu các thành viên không thực hành nghi lễ theo tập quán. Cô dâu người Việt mặc dù chịu tác động của một nền văn hóa khác trong một thời gian dài nhưng trong tâm trí nền văn hóa sinh thành không bao giờ phai nhạt. Mặt khác, cô không muốn mắc lỗi với cộng đồng tộc người sinh thành, bất ổn cho cuộc sống của mình sau khi chết,… Việc trở lại cộng đồng sinh thành sau khi chết cho thấy vị thế của người phụ nữ Việt trong gia đình hôn nhân hỗn hợp chồng Lào vợ Việt về mặt tín ngưỡng chỉ được xác lập “tạm thời”, khác với vị thế khi cô làm dâu trong gia đình người Việt.
Nhìn chung, trong các nghi lễ vị thế của người phụ nữ Việt ở Lào được cải thiện và nâng cao hơn rất nhiều so với vị thế của họ trong các làng quê Việt trước đây. Điều này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân. Có thể là do ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, có thể là do ảnh hưởng của quá trình hội nhập với người Lào, một dân tộc luôn đề cao vị thế của người phụ nữ. Các nghi lễ liên quan đến vòng đời như trên đã phân tích thường phản ánh trực tiếp đến vị thế người phụ nữ trong quan hệ với các thành viên khác trong gia đình. Gia đình là mô hình thu nhỏ của cấu trúc xã hội, từ đó, thể hiện một thực tế là vị thế người phụ nữ Việt ngoài xã hội đã được nâng lên, bình đẳng hơn trong mối quan hệ với nam giới.
  1. Mức độ hội nhập văn hóa ở các thế hệ và các nhóm
Nghi lễ có thể biểu thị các quan niệm khác nhau thuộc về các nhóm tuổi khác nhau. Có một xu hướng phổ biến ở hầu hết các nền văn hóa là người già thường muốn giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống. Đi cúng lễ ở chùa thường là những người cao tuổi, chủ yếu là phụ nữ. Họ là những người có vai trò rất quan trọng trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng người Việt ở Lào. Lớp trẻ có xu hướng ít hào hứng với văn hóa truyền thống. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Hiện nay có rất nhiều các hoạt động văn hóa tinh thần du nhập từ phương Tây vào Lào, lôi cuốn một bộ phận không nhỏ giới trẻ, trong đó có thế hệ những người di cư trẻ tuổi. Mặt khác, những người di cư trẻ tuổi, đặc biệt là những người di cư lao động tự do có rất ít thời gian cho các hoạt động tinh thần. Họ thường phải làm việc vất vả với thời gian làm việc thậm chí hơn  8 tiếng mỗi ngày.
Sự giao lưu văn hóa Việt - Lào diễn ra tự nguyện, không có bất cứ một sự xung đột nào. Do sống tiếp xúc với người Lào, ngày càng có nhiều hôn nhân hỗn hợp giữa người Việt và người Lào. Trong những gia đình hôn nhân hỗn hợp, giao lưu văn hóa Việt – Lào diễn ra nhanh hơn và đậm hơn nhóm gia đình hôn nhân chồng Việt- vợ Việt. Cùng một lúc, họ thực hành cả hai nền văn hóa.
Trong đám cưới chồng Việt – vợ Việt, nghi lễ thực hành hoàn toàn theo truyền thống Việt. Cô dâu, chú rể mặc trang phục truyền thống Việt, váy và vest Tây. Tuy nhiên, đám cưới hôn nhân hỗn hợp Việt – Lào đã có sự pha trộn văn hóa, cô dâu và chú rể thực hành cả hai nghi lễ truyền thống. Khi ở gia đình Việt, họ thực hiện các nghi lễ đám cưới theo phong tục người Việt, khi sang bên gia đình người Lào, cô dâu chú rể thực hành theo nghi lễ phong tục cưới hỏi của gia đình người Lào. Nhà trai ăn cỗ cưới theo kiểu truyền thống cộng đồng tộc người của mình. Nhà gái cũng tương tự như vậy.
Tập quán truyền thống của người Việt quy định cơ trú sau hôn nhân bên nhà trai nhưng tập quán truyền thống người Lào quy định cư trú sau hôn nhân bên nhà gái. Người Việt với tư tưởng phụ quyền rất khó chấp nhận cho con đi ở rể. Vì vậy, trong các gia đình hỗn hợp ngày nay, đôi bạn trẻ thường mua nhà ở riêng.
Trong các nghi thức liên quan đến tang ma, cô dâu Việt hay chàng rể người Việt trong gia đình người Lào chịu tang và cúng giỗ chồng/vợ hay bố mẹ chồng/ vợ đúng theo phong tục của người Lào. Người con trai Việt cũng thực hành các nghi lễ cạo đầu đi tu để cầu phúc cho bố mẹ vợ người Lào, đến chùa Lào cầu siêu cho cho người chết… 
Các thế hệ cao tuổi vẫn còn mối liên hệ với quê hương tại Việt Nam nên khi chết nhiều người thậm chí muốn được đem xác về chôn cất ở quê nhà. Các thế hệ sinh ra đời thứ 2 hoặc 3, 4 trở đi, họ đã coi Lào là quê hương của mình, họ dần dần đã có những chuyển đổi về mặt tâm linh, thực hành nghi lễ giống với người Lào.
Kết luận
Những người nhập cư nói chung có hai lựa chọn ở quốc gia nơi đến, một là hướng nội để đoàn kết nhóm, và hai là hướng ra ngoài để hội nhập văn hóa hay còn gọi là bị đồng hóa (Karst 1986)[7]. Cộng đồng người Việt ở Lào có cả điều kiện thuận lợi cũng như khó khăn trong việc duy trì bản sắc tộc người. 
Trong số 45 kiều bào hiện đang sinh sống tại Lào, đông nhất là người Việt, tiếp đến là người Trung Quốc và người Thái Lan[8]. Quy mô cộng đồng người Việt so với người bản địa là khá cao là điều kiện thuận lợi để giữ gìn bản sắc tộc người. Tuy nhiên, người Việt không sống tập trung mà sống rải rác, xen kẽ với người Lào, dễ dàng tiếp xúc và chịu tác động của văn hóa tộc người bản địa Lào.
Người Việt theo Phật giáo Đại thừa, người Lào theo Phật giáo Nguyên Thủy, người Việt theo chế độ phụ quyền với việc đề cao vai trò của người đàn ông trong gia đình và xã hội, thì người Lào lại có truyền thống coi trọng người phụ nữ. Tôn giáo càng khác biệt người di cư sẽ càng khó thích nghi với văn hóa và xã hội của nước chủ nhà. Trong điều kiện như vậy, bản sắc văn hóa của người Việt cũng khó có thể bị đồng hóa. Mặt khác, người Việt và người Lào lại chịu chung ảnh hưởng của tinh thần từ bi, bác ái của Phật giáo. Điểm này lại khiến cho người Việt dễ hòa nhập với văn hóa Lào.
Cũng cần nói thêm ở đây, các rào cản về tôn giáo nơi nhập cư rất thấp. So với các điểm đến khác trong khu vực, văn hóa Lào rất cởi mở, chính sách Nhà nước Lào quy định về việc tự do lựa chọn tôn giáo tín ngưỡng. Chùa Việt và chùa Lào thường xuyên có những cuộc gặp gỡ trao đổi, giao lưu vào các dịp lễ, tết truyền thống của người Việt cũng như người Lào. Vào Lễ hội Vu Lan hàng năm ở chùa Phật Tích (thủ đô Vientiane) có sự tham dự của đại diện Liên minh Phật giáo Lào, đại diện Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam và một số chùa Lào ở thủ đô Vietiane,… [9] Người Việt ở Lào hoàn toàn được quyền giữ gìn tôn giáo tín ngưỡng truyền thống. Bên cạnh đó, ngày càng nhiều người Việt tham gia phát triển kinh tế, giao lưu hội nhập vào xã hội Lào nên xuất hiện các gia đình hôn nhân hỗn hợp Việt – Lào. Do đó, cơ hội cho những người nhập cư hướng ngoại, hội nhập với văn hóa tộc người bản xứ ngày càng cao.
Mặc dù hướng ra bên ngoài để hội nhập, tiếp biến và thích ứng hướng theo văn hóa của người dân bản địa, nhưng nó có thể không nhất thiết là lưạ chọn mong muốn của người di cư. Để bảo vệ bản sắc văn hóa riêng của mình, cộng đồng di cư người Việt đã đưa ra một lựa chọn là cùng một lúc thực hành cả hai nền văn hóa. Qua nghiên cứu cho thấy dấu ấn Phật giáo đã in đậm trong văn hóa của nhưng người Việt di cư, thể hiện cả Phật giáo Đại thừa, Phật giáo Nguyên Thủy, tạo nên bản sắc riêng của cộng đồng người Việt ở Lào, không giống với cộng đồng gốc và cũng không giống với cộng đồng nơi đến.
Tài liệu tham khảo
  1. Aloy Prinz 2019, Identity Economic Approach, https://content.sciendo.com/view/journals/izajodm/10, Volume 10: Issue 1, 2019.
  2. Chouki El Hamel 2002, Muslim diaspora in Western: The Islamic headscarf (Hijab), the media and Muslim’s integration in France, CLas-H: History, Philosophy and Religious Studies, School of (SHPRS).
  3. David Garbin 2012, Introduction: Believing in the City, Journal Culture and Religion 13 (4) 401-404. doi:10.1111/amet.12008[Crossref][Web of Science ®]
  4. Inger Sjørslev 2007. Ritual, performance og socialitet. En introduktion.  Trong Scener for samvær. Ritualer, performance og socialitet, Inger Sjørslev (ed.), 9–31. Aarhus: Aarhus University Press. 
  5. Karst Kenneth L. (1986). Paths to belonging: The constitution and cultural identity. North Carolina Law Review 64(2): 303-377.
  6. Martha Frederiks 2016, Religion, Migration and Identity – A Conceptual and Theoretical Exploration, Trong Martha Frederiks, Dorottya Nagy (ed.) Methodological and Theological explorations, Published by Brill.
  7. Phạm Thị Mùi (2008), “Nghi lễ vòng đời của người Việt ở Lào và vấn đề giao thoa văn hóa Việt – Lào”. Trong Nguyễn Duy Thiệu chủ biên (2008), Di cư và chuyển đổi lối sống: trường hợp cộng đồng người Việt ở Lào, Nxb Thế giới, Hà Nội.

8. Neil Conner 2018, Religion and The social Integration of Migrants in Dublin, Ireland, Geographycal review, https://onlinelibrary.wiley.com/doi/full/10.1111/gere.12295, truy cập ngày 10/10/2019.
9. Petra Kuppinger 2014, Flexible topographies: Muslim spaces in a German cityscape, Journal Social and Cutural Geography, Volum 15, 2014- Issue 6: Public religion and urban space in Europe.
10. Richard Gale, Simon Naylor 2002, Religion, planning and the city: The spatial politics of ethnic minority expression in British cities and towns, Journal Ethnicities, Volum 2 issue: 3, pages: 387-409.
11. Sara Lei Sparre & Lisa Paulsen Galal 2017, Incense and Holy bread: the sense of belonging through ritual among Middle Eastern christens in Denmark, Journal of Ethnic and Migration Studies 44 (1): 1 -18, 2017. 
12. Steven Slaubaugh 2019, The Role of Religion for Catholic Vietnamese Refugees: enabling Refugee Flouring in the Midst of Adversity , https://www.academia.edu/31122590/The_Role_of_Religion_for_Catholic_Vietnamese_Refugees_Enabling_Refugee_Flourishing_in_the_Midst_of_Adversity?auto=download, truy cập ngày 10/10/2019
13. Vân Thiêng 2008, Cộng đồng người Việt tổ chức Đại lễ Vu Lan báo hiếu tại Lào, VOV Lào, https://baomoi.com/cong-dong-nguoi-viet-to-chuc-dai-le-vu-lan-bao-hieu-tai-lao/c/27447081.epi, truy cập ngày 15/10/2019
14. Thijil Sunier 2014, Domesticating Islam: exploring academic knowledgw production on Islam and Muslims in European societies, Journal Ethnic and Racial Studies, Volume 37, 2014 – Issue 6.
15. Nguyễn Duy Thiệu (cb.) 2008, Di cư và chuyển đổi lối sống: trường hợp cộng đồng người Việt ở Lào, Nxb Thế giới, Hà Nội.
16. Nguyễn Văn Thoàn (2019), Văn hóa Phật giáo trong đời sống của người Việt ở Lào, Nxb. Văn hóa – Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh.
17. Tổng Hội Việt Nam tại CHDCND Lào 2015, Báo cáo Tổng kết 5 năm hoạt động của khóa 1 năm 2015, Thủ đô Vientiane: Tư liệu Tổng hội người Việt Nam tại CHDCND Lào.
18. Trung tâm Thống kê Quốc gia Lào 2015, Kết quả điều tra dân số và cư trú toàn quốc lần thứ 4 năm 2015, Vientiane Lào.  
 
* Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
[1] Chouki El Hamel 2002, Muslim diaspora in Western: The Islamic headscarf (Hijab), the media and Muslim’s integration in France, CLas-H: History, Philosophy and Religious Studies, School of (SHPRS).
Richard Gale, Simon Naylor 2002, Religion, planning and the city: The spatial politics of ethnic minority expression in British cities and towns, Journal Ethnicities, Volum 2 issue: 3, pages: 387-409.
Petra Kuppinger 2014, Flexible topographies: Muslim spaces in a German cityscape, Journal Social and Cutural Geography, Volum 15, 2014- Issue 6: Public religion and urban space in Europe.
Thijil Sunier 2014, Domesticating Islam: exploring academic knowledgw production on Islam and Muslims in European societies, Journal Ethnic and Racial Studies, Volume 37, 2014 – Issue 6.
Steven Slaubaugh 2019, The Role of Religion for Catholic Vietnamese Refugees: enabling Refugee Flouring in the Midst of Adversity , https://www.academia.edu/31122590/The_Role_of_Religion_for_Catholic_Vietnamese_Refugees_Enabling_Refugee_Flourishing_in_the_Midst_of_Adversity?auto=download, truy cập ngày 10/10/2019.
[2] Nguyễn Duy Thiệu (2008), Di cư và chuyển đổi lối sống: trường hợp cộng đồng người Việt ở Lào, Nxb Thế giới, Hà Nội.
Nguyễn Văn Thoàn (2019), Văn hóa Phật giáo trong đời sống của người Việt ở Lào, Nxb. Văn hóa – Văn nghệ, TP. HCM
[3] Tổng Hội Việt Nam tại CHDCND Lào (2015), Báo cáo Tổng kết 5 năm hoạt động của khóa 1 năm 2015, Thủ đô Vientiane: Tư liệu Tổng hội người Việt Nam tại CHDCND Lào, tr1
[4] Trung tâm Thống kê Quốc gia Lào( 2015), Kết quả điều tra dân số và cư trú toàn quốc lần thứ 4 năm 2015, Vientiane Lào, tr.24
[5] Nguyễn Duy Thiệu (2008), sđd, tr196
 
[6] Cô con dâu người Lào trong gia đình người Việt cũng thường có mong muốn sau khi chết được làm tang ma theo nghi lễ truyền thống của người Lào. Một số ít có nguyện vọng làm ma theo kiểu Việt để được nằm bên cạnh người chồng của mình. (Xem thêm Phạm Thị Mùi 2008)
[7] Trích theo Aloys Prinz 2019.
[8] Trung tâm Thống kê Quốc gia Lào (2015), Kết quả điều tra dân số và cư trú toàn quốc lần thứ 4 năm 2015, Vientiane Lào, tr.38
[9] Vân Thiêng 2008, Cộng đồng người Việt tổ chức Đại lễ Vu Lan báo hiếu tại Lào, VOV Lào, https://baomoi.com/cong-dong-nguoi-viet-to-chuc-dai-le-vu-lan-bao-hieu-tai-lao/c/27447081.epi, truy cập ngày 15/10/2019

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây