HOẠT ĐỘNG GẮN KẾT PHẬT TỬ TRONG CÁC NGÔI CHÙA VIỆT TẠI LÀO

Thứ hai - 09/12/2019 01:59
HOẠT ĐỘNG GẮN KẾT PHẬT TỬ TRONG CÁC NGÔI CHÙA VIỆT TẠI LÀO
NCV. Nguyễn Thị Trang*
Tóm tắt:
Một cộng đồng dân tộc khi đi ra nước ngoài, hành trang họ mang theo ngoài những yếu tố vật chất, còn có cả những yếu tố thuộc đời sống văn hóa, tinh thần. Điều này giúp họ duy trì sự cố kết cộng đồng, gìn giữ và quảng bá văn hóa dân tộc ở nơi khác xa quê hương họ về địa lý, điều kiện sống, văn hóa và cả ngôn ngữ. Phật giáo thường là hành trang văn hóa quan trọng để người Việt lưu giữ văn hóa, tìm kiếm điểm tựa tinh thần ở nơi xa xứ. Cộng đồng người Việt tại Lào cũng không phải là ngoại lệ. Trong bài viết nhỏ này, người viết tìm hiểu những hoạt động gắn kết Phật tử trong các ngôi chùa Việt trên đất Lào. Những hoạt động gắn kết này được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và được người viết thu gọn lại trong 3 hình thức chính: Gắn kết thông qua các khoa tu học Phật pháp; Gắn kết thông qua tổ chức các ngày lễ trọng của Việt Nam và của Phật giáo; và gắn kết thông qua các hoạt động khác.
Từ khóa: Hoạt động gắn kết, Phật tử, chùa Việt tại Lào




1. Đặt vấn đề
Trong lịch sử và hiện tại, Lào và Việt Nam có đường biên giới chung khá dài, lại có mối liên hệ chặt chẽ và gắn bó mật thiết với nhau. Vì vậy, Lào trở thành một trong những quốc gia có số lượng đông đảo người Việt sinh sống nhất trên thế giới. Hiện nay, người Việt sinh sống trải rộng ở khắp đất nước Lào với khoảng 100.000 người[1]. Tuy nhiên, nơi tập trung đông đảo người Việt nhất vẫn là cố đô Luang Phrabang, thủ đô Vientiane, tỉnh Savanakhet và Champasak. Bởi đây là những nơi có điều kiện kinh tế bậc nhất nước Lào.
Người Việt đến Lào sinh sống được tác giả Nguyễn Văn Thoàn chia làm ba giai đoạn và nguyên nhân chính[2]: Thứ nhất, từ thời nhà Lê đến nhà Nguyễn để tránh giặc ngoại xâm, tránh nạn đói, thiên tai, sưu cao thuế nặng và kỳ thị tôn giáo... Thứ hai, đây là thời điểm Pháp và Mỹ gây chiến tranh tại Việt Nam. Người Việt Nam sang Lào nhằm để tránh giặc ngoại xâm, phục vụ bộ máy của chính quyền xâm lược tại Lào, khai thác tài nguyên cho chính quyền xâm lược dưới sự bảo hộ của chúng. Thứ ba, từ sau 1975 đến nay. Đây là giai đoạn người Việt di cư sang Lào vì mục đích kinh tế là phần nhiều. Người Việt sang Lào ở giai đoạn này tìm kiếm cơ hội việc làm là chủ yếu. Một điều đáng lưu ý ở giai đoạn này là sự nhập cư trái phép của người Việt sang các vùng biên giới của Lào.
Một cộng đồng người khi đi xa, hành trang họ mang theo ngoài những yếu tố vật chất, còn có cả những yếu tố thuộc đời sống văn hóa, tinh thần. Điều này giúp họ duy trì sự cố kết cộng đồng, gìn giữ và quảng bá văn hóa dân tộc ở nơi khác xa quê hương họ về địa lý, điều kiện sống, văn hóa và cả ngôn ngữ. Phật giáo thường là hành trang văn hóa, tâm linh quan trọng để người Việt lưu giữ văn hóa, tìm kiếm điểm tựa tinh thần ở nơi xa xứ. Cộng đồng người Việt tại Lào cũng không phải là ngoại lệ.
Theo số liệu mới nhất, hiện có tới 14 ngôi chùa Phật giáo của người Việt tại Lào, trong đó 13 ngôi chùa Bắc tông và 1 ngôi chùa thuộc hệ phái Khất Sỹ[3]. Có những ngôi chùa ban đầu do một cá nhân phát tâm xây dựng, rồi sau đó cả cộng đồng cùng góp công sức và trở thành chùa của cả cộng đồng và có chùa hiện nay vẫn còn là chùa tư gia; Có những chùa chỉ có người Việt tham gia sinh hoạt, nhưng lại có những chùa hiện nay có cả người Lào tham gia sinh hoạt và cả tu học...
Năm 2018 là năm đánh dấu bước phát triển quan trọng của Phật giáo Việt Nam tại Lào. Đó là sự ra đời của Ban điều phối Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại Lào do TT. Thích Minh Quang làm Trưởng ban. Sự ra đời của Ban đã tạo sự đoàn kết, thống nhất trong tư tưởng, hành động của Phật giáo Việt Nam tại Lào đồng thời kết nối cho cộng đồng người Việt tại đây[4].
2. Hoạt động gắn kết thông qua các khóa tu học Phật pháp
Nhìn về tổng thể, cộng đồng người Việt tại Lào có rất ít người theo Công giáo, Tin lành hoặc các tôn giáo khác. Họ chủ yếu là những người theo Phật giáo hoặc có cảm tình với tôn giáo này. Do vậy, tín đồ Phật giáo ở đây cần được hiểu theo nghĩa rộng chứ không nên bó hẹp trong phạm vi của những người đã quy y Tam bảo. Đây là một lợi thế lớn của Phật giáo trên con đường hoằng dương Phật pháp tại Lào.
Các khóa tu học Phật pháp tại các ngôi chùa Việt tại Lào hiện nay tập trung vào các đối tượng khác nhau từ thanh thiếu niên cho tới người cao tuổi. Đối với người cao và trung tuổi thường có các khóa tu học Bát Quan Trai hay khóa tu Niệm Phật. Đối với thanh thiếu niên thì được hoạt động tại các câu lạc bộ thanh thiếu niên Phật tử hay Gia đình Phật tử. Các khóa học này được đưa ra nhằm mục đích giúp Phật tử người Việt hiểu biết sâu hơn về Phật pháp, định hướng cho đời sống tâm linh của họ và giúp người Việt gắn kết và gìn giữ nguồn cội.
            Đến mùa An cư Kiết hạ hàng năm, các chùa Việt tại Lào không tổ chức An cư tập trung, nhưng tại mỗi chùa đều có tổ chức an cư tại chỗ. Theo chương trình An cư tại mỗi chùa, các chùa cũng khuyến khích Phật tử thời gian này lên chùa lễ Phật, tụng kinh, thực hành ngũ giới,... Có những Phật tử còn phát nguyện ăn chay liền ba tháng để nuôi dưỡng thân tâm và tích phúc đức. Thậm chí có những Phật tử người Việt còn vào chùa Việt hoặc chùa Lào để tu hành trong suốt thời gian của mùa An cư này.
Khóa tu Bát Quan Trai và khóa tu Niệm Phật cũng được các chùa Việt tại Lào xem như một cách để hướng dẫn Phật tử tu học và hiểu thêm về giáo lý Phật giáo. Tham gia khóa tu Bát Quan Trai, người học phải tuân thủ theo những quy định trong giới luật trong thời gian một ngày đêm. Còn khi tham gia vào các khóa tu Niệm Phật, người tham dự sẽ được thoải mái hơn thông qua việc nhất tâm niệm danh hiệu Phật A Di Đà. Song song với việc hướng dẫn các Phật tử thực hành sao cho đúng với tinh thần Phật giáo, các chùa Việt tại Lào còn tổ chức các buổi giảng pháp nhằm bồi đắp thêm về mặt “lý thuyết” cho các tín đồ. Điều này giúp họ hiểu hơn về đạo Phật, giúp họ duy trì và gìn giữ niềm tin vào Phật giáo. Hoạt động này còn có tác dụng giúp Phật tử hiểu biết thêm về văn hóa Việt Nam, gìn giữ văn hóa Việt trong gia đình và tôn trọng văn hóa của đất nước họ đang sống.
Nếu như các khóa tu Bát Quan Trai thường được tổ chức vào ngày 15 hoặc ngày 30 trong tháng thì các khóa tu Niệm Phật thường được tổ chức linh hoạt hơn và vào ngày chủ nhật đầu hoặc cuối tháng nhằm thu hút tín đồ tới tham dự. Theo tác giả Nguyễn Văn Thoàn[5], các khóa tu Niệm Phật này đơn giản về phương pháp hành trì, phù hợp với thời buổi kinh tế thị trường và với sự mưu sinh của phần đông người Việt tại Lào. Tuy nhiên, cũng giống như các ngôi chùa Việt khác tại Việt Nam, các khóa tu Bát Quan Trai và các khóa tu Niệm Phật trong các ngồi chùa Việt tại Lào thường thu hút đông đảo tín đồ thuộc lớp tuổi từ trung tuổi tới cao tuổi. Trong đó, người cao tuổi, nữ giới chiếm số lượng lớn hơn cả. Ngoài ra, tại một số chùa còn thành lập được các nhóm Phật tử cao tuổi cùng nhau tới chùa tụng kinh Tịnh Độ vào các buổi tối hàng ngày. Sau mỗi buổi tụng kinh, họ thường nán lại trò chuyện, chia sẻ với nhau về cuộc sống hàng ngày. Đây cũng là một cách để Phật tử cao tuổi tìm đến với sự bình an trong tâm hồn lúc tuổi già. Tuy nhiên, số lượng người tham gia cũng chưa đông người tới tụng hàng ngày. Có chùa, vào một số ngày đặc biệt thì lên tới 20-30 người.
 “...Cộng đồng Phật tử chùa Bồ Đề khoảng 20-30 người. Nhưng đến sinh hoạt thường xuyên hàng ngày khoảng hơn 10 người. Thời gian tụng: buổi tối 6-8h Bởi vì chùa không có người trụ trì nên ít người đến...”[6]
“...Ban ngày Phật tử không đến nhưng tối 7h30 là có tụng Tịnh độ..”.[7]
“... Phần nhiều Việt kiều đây họ vô dân Lào nhiều. Đi thường xuyên thì khoảng 10 người, không bao giờ bỏ...”
“...Tụng kinh tịnh độ A Di Đà, ngày 30 mùng 1 thì tụng Phổ môn, ngày sám hối thì tụng Sám hối. Một đêm từ 7h30 - 8h30. Nếu thầy nào tụng chậm thì tới 9h. Thầy tụng nhanh thì 8h30...”[8]
Nhắc tới Gia đình Phật tử là nhắc tới một mô hình đặc trưng trong sinh hoạt Phật giáo của người trẻ ở Việt Nam. Nó được hình thành vào thập kỉ 30 - 40 của thế kỉ 20 tại Việt Nam dưới ảnh hưởng của phong trào chấn hưng Phật giáo. Gia đình Phật tử được thành lập với mục đích giúp con em các gia đình Phật tử đến với Phật giáo để rèn luyện các phẩm chất đạo đức tốt đẹp. Nó như là một cách chống lại những xáo trộn về văn hóa, lối sống trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Tuy nhiên, đến hiện tại, mô hình gia đình Phật tử cũng đang gặp phải những thách thức lớn và một mô hình sinh hoạt mới dành cho thanh thiếu niên tại Việt Nam cũng thu hút được đông đảo thanh thiếu niên tới tham dự và đặc biệt hiệu quả trong môi trường đô thị: Câu lạc bộ thanh thiếu niên Phật tử. Theo tác giả Nguyễn Văn Thoàn[9], thời điểm hưng thịnh của Phật giáo Việt Nam tại Lào cũng đã thành lập được hệ thống Gia đình Phật tử tại các chùa Việt trên khắp nước Lào. Tuy nhiên, hoạt động của Gia đình Phật tử dần dần tan rã từ sau năm 1975 do những biến động chính trị từ Việt Nam.
Gần đây nhất vào năm 2014, tại chùa Long Vân ở Champasak cũng thành lập Gia đình Phật tử. Thời gian đầu có đông con em của đồng bào người Việt tới tham gia sinh hoạt. Tại đây, thanh thiếu niên được tham gia vào các hoạt động văn nghệ kết hợp đạo và đời hay văn nghệ kết hợp giữa bản sắc của người Việt và người Lào, các hoạt động giao lưu với các đoàn sinh của Gia đình Phật tử ở các địa phương khác hoặc về Việt Nam giao lưu kết hợp tham quan du lịch,...  Nhưng hiện nay, Gia đình Phật tử tại chùa Long Vân đã không còn thu hút được thanh thiếu niên tới tham gia sinh hoạt như những ngày đầu. Nguyên nhân được chỉ ra là do: Thứ nhất, thiếu người hướng dẫn tu tập; thứ hai, do thanh thiếu niên còn phụ giúp cha mẹ sau giờ học nên không có thời gian tới sinh hoạt; thứ ba, việc sinh hoạt ca hát tại chùa không phù hợp với văn hóa Lào[10],... Tác giả Nguyễn Văn Thoàn cũng cho biết thêm, mô hình sinh hoạt Gia đình Phật tử tại các ngôi chùa Việt tại Lào đang dần được thay thế bằng mô hình Câu lạc bộ thanh thiếu niên Phật tử. Với hình thức sinh hoạt cũng tương tự như Gia đình Phật tử nhưng thời gian sinh hoạt linh hoạt hơn (chỉ đến chùa vào ngày lễ hội), không đặt nặng vấn đề nguyên tắc,,...
3. Hoạt động gắn kết thông qua tổ chức các ngày lễ trọng của Việt Nam và của Phật giáo
Như đã phân tích, tôn giáo bên cạnh các yếu tố khác như là một chất keo dính gắn kết mỗi cộng đồng người Việt xa xứ. Người ta chỉ cảm thấy gắn kết với cộng đồng khi cùng chia sẻ những giá trị chung nào đó. Văn hóa nói chung và tôn giáo nói riêng bao giờ cũng là thứ dễ gắn kết con người ta nhất. Năm 2018, Đại sứ Quán Việt Nam tại Lào đã tổ chức buổi tọa đàm với tiêu đề: Gắn kết hoạt động văn hóa tâm linh với công tác vận động cộng đồng nhằm mục tiêu tập hợp xây dựng cộng đồng đoàn kết, vững mạnh, đóng góp xây dựng đất nước Lào phồn vinh và hướng về Tổ quốc Việt Nam[11]. Mục đích của buổi tọa đàm nhằm hướng tới việc làm thế nào để các hoạt động văn hóa tâm linh trở thành điểm kết nối xây dựng cộng đồng người Việt tại Lào đoàn kết, gắn bó, tương trợ lẫn nhau. Làm thế nào để hướng người Việt về với nguồn cội nhiều hơn thông qua các hoạt động văn hóa và tôn giáo vốn quen thuộc với người Việt như: Giỗ tổ Hùng Vương, Lễ hội đền Trần, Hội Gióng, Phật Đản, Vu Lan,... Ngoài ra, các bài tham luận cũng chỉ ra rằng, các hoạt động từ thiện, nhân đạo gắn với các hoạt động của các ngôi chùa cũng đã góp phần không nhỏ trong việc tạo cơ hội cho sự gắn kết cộng đồng người Việt tại Lào. Các hoạt động này cũng còn là chiếc cầu nối gắn kết với người Lào. Như vậy có thể thấy, văn hóa tâm linh được coi như là một trong những yếu tố quan trọng góp phần gắn kết cũng như phát triển cộng đồng người Việt tại Lào. Thực tế hoạt động cho thấy, các ngôi chùa của người Việt ở Lào cũng đang tiếp tục thực hiện chủ trương này. Thượng tọa Thích Minh Quang, trụ trì chùa Phật tích cho rằng: “Nếu không nắm vững được văn hóa Việt Nam, sẽ không lôi kéo được người Việt Nam đến chùa. Vì nếu chúng ta chỉ thuần một cái phương pháp tu học Phật giáo thì tất cả bà con của chúng ta – người Việt, gần bản, gần nhà lúc nào cũng có thể làm được... Nhưng nếu muốn bà con Việt Nam ta đến chùa, chúng ta phải duy trì cái văn hóa truyền thống của người Việt Nam. Có những ngày lễ truyền thống có cả ngàn người đến. Một cái đặt biệt, không chỉ phổ biến cho người Việt mà còn hướng tới phổ biến tư tưởng Phật giáo đại thừa Việt Nam cho người bản xứ....” [12].
Như vậy, các hoạt động hướng về nguồn cội được coi là một trong những điểm nhấn quan trọng để từ đó kiến tạo và vun bồi sự gắn kết cộng đồng người Việt tại Lào. Hiện nay, một số chùa của người Việt tại Lào đều có tổ chức một số ngày lễ lớn của Phật giáo và trở thành dịp lễ hội thu hút đông đảo người Việt tới tham dự như: Lễ Phật Đản, lễ Vu Lan, lễ cầu an đầu năm hay lễ rằm tháng mười,... Trong mỗi dịp lễ quan trọng này, ngoài phần nghi thức chủ đạo, các chùa còn tiến hành giảng pháp. Ngôi chùa ngày thường ít Phật tử tới thăm viếng, tu học nhưng những ngày lễ trọng thường thu hút được đông đảo người dân tới tham dự với số lượng tăng đột biến.
“... Thường xuyên tới sinh hoạt khoảng 10 người... Những ngày lễ trọng có khoảng 500 người tới tham dự... Thượng Nguyên, Phật Đản, Vu Lan...”[13].
“...Khi có lễ lớn thì mời Phật tử tới ăn cơm chay. Tầm khoảng 30-40 bàn, mỗi bàn 8 người”[14]
Cũng theo tác giả Nguyễn Văn Thoàn[15], trong dịp lễ Vu Lan nhiều người Việt ở Lào thường ăn chay đến nửa tháng hoặc cả tháng, nhiều người chăm chỉ lên chùa tụng kinh, phóng sinh, bố thí... và hướng dẫn con cháu cùng lên chùa tụng kinh và nghe giảng pháp.
Có thể nói, những ngày lễ lớn của Việt Nam hay những ngày lễ trọng của Phật giáo là một cơ hội tốt để truyền tải các giá trị văn hóa của Phật giáo nói riêng và văn hóa Việt nói chung tới được đông đảo người Việt tại Lào. Từ đó, góp phần không nhỏ vào việc gắn kết cộng đồng, lưu truyền văn hóa truyền thống trong cộng đồng người Việt tại Lào.
4. Hoạt động gắn kết thông qua các hoạt động khác
Những ngôi chùa Việt tại Lào hiện đang thực hiện rất tốt hoạt động nhân đạo từ thiện, hoạt động hỗ trợ cho các gia đình người Việt có tang ma và hoạt động dạy tiếng Việt cho con em người Việt. Những hoạt động này đã và đang trở thành cây cầu nối kết các thành viên trong cộng đồng người Việt tại Lào.
Do hầu hết các ngôi chùa Việt trên đất Lào ban đầu đều do Phật tử đứng ra thành lập và quản lý nên các chùa ban đầu đều không có sư trụ trì tiếp quản. Chùa là chùa của cả cộng đồng. Do đó, muốn duy trì và bảo đảm cho các sinh hoạt Phật giáo tại chùa, đa số các chùa đều thành lập ra một Ban quản trị chùa hay còn gọi là Ban hộ tự[16]. Ban hộ tự này có trách nhiệm xây dựng chùa, trông coi chùa trong thời gian không có tăng ni trụ trì để phục vụ nhu cầu tâm linh của cộng đồng. Mỗi người trong Ban hộ tự, tùy vào khả năng mà được phân công những phần việc khác nhau liên quan tới việc chùa: Nghi lễ, từ thiện, ẩm thực, thủ quỹ,... Theo tác giả Nguyễn Văn Thoàn, mỗi chùa Ban hộ tự có thể có các tiểu ban khác nhau. Nhưng tiểu ban nghi lễ và từ thiện là hai tiểu ban không thể thiếu.
“... Có 8 người làm việc với nhau gọi là Ban quản trị. Ban quản trị do hội trưởng đứng đầu. Vì chùa này là chùa của Phật tử lập lên. Hội trưởng là Nguyễn Minh Quyết, pháp danh Minh Quang. Hội phó kiêm ban nghi lễ Phan Thính, pháp danh Nhuận Vân. Hội phó: Trương Thị Xây – Pháp danh Nguyên Đức, thủ quỹ: Nguyễn Thị Thanh Huyền, bếp trưởng: Nguyễn Thị Bướm, pháp danh Tịnh Thúy, Phó bếp trưởng: Trần Đình Thanh Tâm pháp danh Từ Hải; Trương Thị Nhơn, pháp danh Minh Đạt...”[17]
Trong nghiên cứu của mình, tác giả Nguyễn Văn Thoàn đã chỉ ra rằng, trong nghi lễ tang ma trong gia đình của những người được khảo sát đều có sự góp mặt của các nhà tu hành Phật giáo với tỷ lệ lên tới 96%[18]. Con số này nói lên tầm quan trọng của Phật giáo trong đời sống tâm linh của đại đa số người Việt tại Lào. Hàng ngày họ có thể không tới chùa lễ Phật, học Phật nhưng trong tâm thức của họ, Phật giáo luôn là điểm tựa tâm linh quan trọng giúp họ và gia đình tìm về nương náu.
Hầu hết các chùa Việt tại Lào đều có một Ban hộ niệm. Cũng giống như tại Việt Nam, Ban hộ niệm do các Phật tử quy tụ lại. Mục đích chính nhằm để tụng kinh cầu siêu, trợ niệm cho người quá cố. Ở những chùa không có sư trụ trì, vai trò của Ban hộ niệm cực kì quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu tâm linh của những gia đình có nhu cầu.  Theo Nguyễn Văn Thoàn[19], tại Lào dù người mất dù không phải là Phật tử, nếu gia đình có nhu cầu thì Ban hộ niệm hoặc Tăng ni cũng đến tụng kinh, trợ niệm cho người mất. Những người nghèo khó sẽ được cộng đồng người Việt giúp đỡ từ việc mua áo quan cho đến xây cất mộ phần. Những người neo đơn, 49 ngày sẽ được nhà chùa làm lễ quy vong vào chùa. Họ quan niệm, ngoài việc tích đức cho bản thân và gia đình còn là sự giúp đỡ, chia sẻ nỗi mất mát với gia đình người quá cố cùng dòng máu Việt. Do vậy, thường các hoạt động này được Tăng ni và các thành viên trong Ban hộ niệm tích cực tham gia, bất kể đêm khuya.
 “... Người Việt ở đây trợ giúp nhau. Nếu ai mất, mà gia đình không có, sẽ trợ giúp từ áo quan, đến xây cất mồ mả. Nếu người nào neo đơn, là thầy cũng bảo đến 49 ngày là đem vào chùa, thầy quy vong cho đầy đủ hết... Phật tử nào ốm, đến xin thầy, thầy làm lễ cầu an cho. Người mất đến tìm thầy, thầy làm cho đầy đủ. Nhà nào có người mất, tối đến, đến rước thầy, thầy cũng đi cầu siêu độ. Có lúc một tỉnh ba bốn người chết, đi đến 2-3h đêm cũng có...”[20]
Bên cạnh hoạt động trợ giúp cho những gia đình có tang ma, các hoạt động nhân đạo từ thiện là một trong những hoạt động nổi bật của các ngôi chùa Việt tại Lào. Qua những hoạt động này, ngoài việc tạo dựng hình ảnh tốt đẹp về Phật giáo còn là minh chứng cho sự đoàn kết, tương thân tương ái trong cộng đồng người Việt tại đây. Ngôi chùa đã trở trành cầu nối gắn kết những người Việt xa xứ để cùng làm những việc có ý nghĩa cho cộng đồng. Các hoạt động nhân đạo, từ thiện thiện của các ngôi chùa Việt trên đất Lào tập trung chủ yếu vào việc quyên góp tặng quà cho những người có hoàn cảnh đặc biệt (người nghèo, người bệnh, trẻ mồ côi, người khuyết tật...) vào những dịp lễ Tết (Tết Nguyên đán, rằm tháng giêng, Phật Đản, Vu Lan...). Ngoài ra, một số chùa (Trang Nghiêm, Long Vân, Bảo Quang...) còn tổ chức hoạt động quyên góp ủng hộ đồng bào trong nước gặp thiên tai, hay ủng hộ các hoạt động dành cho các chiến sĩ ngoài biên cương và hải đảo của Việt Nam. Một số chùa còn tổ chức nhận nuôi các cụ già neo đơn, nhận chăm lo phần cuối đời cho họ như chùa Trang Nghiêm, Long Vân, Bảo Quang, Pháp Hoa, Phật Tích, Diệu Giác, Kim Sơn...[21]
Muốn gìn giữ văn hóa Việt, điều quan trọng đầu tiên là phải gìn giữ được tiếng Việt. Có hiểu tiếng Việt, từ đó mới cảm thấy mối liên hệ, gắn bó với cộng đồng, với văn hóa nguồn cội. Nhận thức được điều này, một số chùa đã mở các lớp dạy tiếng Việt cho con em người Việt sinh ra và lớn lên tại Lào. Chùa Bàng Long tổ chức dạy tiếng Việt được duy trì đến tận năm 2000 sau khi các trường học tiếng Việt tại Vientiane do Hội người Việt Nam tại Vientiane được ra đời. Chùa Pháp Hoa ở Savannakhet vẫn đang duy trì lớp dạy tiếng Việt suốt nhiều năm nay và thu được những kết quả nhất định[22].
5. Kết luận
Tác giả Nguyễn Duy Thiệu[23] trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng, người Việt tới Lào có nguyên quán gốc tại nhiều tỉnh thành ở Việt Nam. Trong đó, đông nhất là những người đến từ Quảng Bình, Huế, Ninh Bình... Do đến từ nhiều tỉnh thành như vậy nên văn hóa, lối sống, phong tục của người Việt tại Lào cũng vì thế mà có những điểm không đồng nhất. Hơn nữa, với thành phần xuất thân của người Việt tới Lào chủ yếu là người nghèo, nên văn hóa lối sống so với những tầng lớp khác cũng sẽ có những nét khác biệt. Chính điều này làm sự gắn kết trong cộng đồng người Việt tại Lào có phần không được bền chặt và dễ bị hòa nhập vào lối sống của người Lào. Do đặc điểm như vậy, nên ngôi chùa Việt đã trở thành điểm tựa tinh thần cho phần đông người Việt tại Lào, trở thành điểm gắn kết người Việt tại Lào với nhau và giúp họ gắn bó hơn với quê hương Việt Nam.
Các ngôi chùa Việt tại Lào ý thức được vai trò của gắn kết tâm linh trong phát triển cộng đồng nên đã đưa ra nhiều hoạt động tương đối hiệu quả. Đó là gắn kết người Việt thông qua các khóa tu học Phật pháp dành cho mọi lứa tuổi từ thanh thiếu niên tới người cao tuổi. Người trung tuổi và cao tuổi được tu học qua các khóa tu Bát Quan Trai hay tụng kinh Niệm Phật. Các chùa cũng mở mô hình Gia đình Phật tử hay câu lạc bộ thanh thiếu niên Phật tử nhằm hướng dẫn thanh thiếu niên tu học Phật giáo.
Các ngày lễ quan trọng của Phật giáo như Vu Lan, Phật Đản... hay một số ngày lễ quan trọng của Việt Nam như: Giỗ Tổ Hùng Vương, Hội đền Trần, Hội Gióng... cũng được các chùa tổ chức. Mục đích của những hoạt động này nhằm hướng người Việt tại Lào về những giá trị đạo đức tốt đẹp của Phật giáo nói riêng và văn hóa Việt nói chung. Để từ đó, tạo nên một chất keo gắn kết họ với cộng đồng người Việt, giúp họ nhận ra nền văn hóa và dân tộc họ thuộc về.
Ngoài ra, để gắn kết cộng đồng người Việt tại Lào, các ngôi chùa Việt tại đây còn tổ chức rất nhiều hoạt động nhân đạo, từ thiện nhằm hỗ trợ những gia đình còn khó khăn trong cộng đồng người Việt, những đồng bào chịu ảnh hưởng thiên tai tại Việt Nam, hay ủng hộ các chiến sĩ ngoài biên cương, hải đảo tại Việt Nam,... Thêm nữa, hầu hết các chùa đều thành lập Ban hộ tự nhằm quản lý và hỗ trợ các hoạt động tâm linh của cả cộng đồng. Ban hộ niệm của từng chùa cũng được thành lập nhằm hỗ trợ những gia đình có đám tang, không phân biệt họ có phải là Phật tử hay không. Một số chùa còn tổ chức các lớp dạy tiếng Việt cho con em người Việt với mục đích giữ gìn tiếng Việt chính là giữ gìn văn hóa.


Tài liệu tham khảo
1. Vũ Thị Vân Anh (2007), Nguyên nhân và các đợt di cư của người Việt đến Lào, Nghiên cứu Đông Nam Á, Số 2, tr 37-43.
2. Trần Đình Lưu (2004), Việt Kiều Lào – Thái với quê hương, Nxb Chính trị  Quốc gia.
3. Phạm Đức Thành (2007), Vai trò kinh tế của người Việt ở Lào, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2, tr 19-26.
4. Nguyễn Duy Thiệu (2007), Cộng đồng người Việt tại Lào sinh tồn và gìn giữ bản sắc, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2, tr 3-13.
5. Nguyễn Văn Thoàn (2019), Văn hóa Phật giáo trong đời sống của người Việt ở Lào,  Nxb Văn hóa – văn nghệ.
6. Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn Quốc Gia, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (1994), Tìm hiểu lịch sử- văn hóa Lào (Tập III), Nxb Khoa học xã hội.
7. Kham Pheng Thipmountaly (2007), Yếu tố Việt trong tiến trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa tại Lào, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2, tr 14-18.
Các Website:
1. https://vovworld.vn/vi-VN/nguoi-viet-muon-phuong/xay-dung-cong-dong-nguoi-viet-nam-tai-lao-thong-qua-gan-ket-van-hoa-tam-linh-649170.vov
2. https://www.nhandan.org.vn/chinhtri/item/36552602-gan-van-hoa-tam-linh-voi-phat-trien-cong-dong-nguoi-viet-tai-lao.html
3. https://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/38466602-hoat-dong-cong-dong-tai-lao-dat-hieu-qua-thiet-thuc.html
4. https://tapchilaoviet.com/tin-ngay/nhin-lai-nhung-su-kien-noi-bat-cua-cong-dong-cua-nguoi-viet-tai-lao-nam-2018-2111.html
 
 
* Viện nghiên cứu Tôn giáo, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
[1] Nguyễn Văn Thoàn (2019), Văn hóa Phật giáo trong đời sống của người Việt ở Lào, nxb Văn hóa – Văn nghệ TPHCM, tr 12.
[2] Nguyễn Văn Thoàn (2019), Sđd,tr 36.
[3] Nguyễn Văn Thoàn (2019), Sđd, tr 57.
[5] Nguyễn Văn Thoàn (2019), Văn hóa Phật giáo trong đời sống của người Việt ở Lào, nxb Văn hóa – Văn nghệ TPHCM, tr 158.
[6] PV sâu Phật tử Liên Bảo tại chùa Bồ Đề (Lào) ngày 03/09/2019 của Viện Nghiên cứu Tôn giáo
[7] PV sâu Phật tử Từ Hải, chùa Diệu Giác (Lào) ngày 04/09/2019 của Viện Nghiên cứu Tôn giáo
[8] PV sâu Phật tử Từ Hải, chùa Diệu Giác (Lào) ngày 04/09/2019 của Viện Nghiên cứu Tôn giáo
[9] Nguyễn Văn Thoàn (2019), Sđd,tr 161.
[10] Xem thêm Nguyễn Văn Thoàn (2019), Văn hóa Phật giáo trong đời sống của người Việt ở Lào, nxb Văn hóa – Văn nghệ TPHCM, tr 162.
[12] Băng làm việc ngày 2/9/2019 tại chùa Phật Tích của đoàn công tác Viện Nghiên cứu Tôn giáo tại Lào.
[13] Băng ghi âm làm việc ngày 04/09/2019 tại chùa Diệu Giác, tỉnh Savanakhet (Lào) của Viện Nghiên cứu Tôn giáo
[14] PV sâu Phật tử Từ Hải, chùa Diệu Giác (Savanakhet, Lào), ngày 04/09/2019.
[15] Nguyễn Văn Thoàn (2019), Văn hóa Phật giáo trong đời sống của người Việt ở Lào, nxb Văn hóa – Văn nghệ TPHCM, tr 226.
[16] TheoNguyễn Văn Thoàn, sđd.
[17] PV sâu Phật tử Từ Hải, chùa Diệu Giác (Lào) ngày 04/09/2019 của Viện Nghiên cứu Tôn giáo
[18] Nguyễn Văn Thoàn, sđd, tr 187
[19] Nguyễn Văn Thoàn, sđd, tr 193
[20] PVS Phật tử Từ Hải, chùa Diệu Giác (Lào) ngày 04/09/2019 của Viện Nghiên cứu Tôn giáo
[21] Nguyễn Văn Thoàn, sđd, tr103-111
[22] Nguyễn Văn Thoàn, sđd, tr103-111
[23] Nguyễn Duy Thiệu (2007), “Cộng đồng người Việt tại Lào sinh tồn và gìn giữ bản sắc”, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2, tr 4

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây