HAI BẬC TIỀN BỐI CÓ CÔNG VỚI PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI LÀO

Thứ hai - 09/12/2019 01:32
HAI BẬC TIỀN BỐI CÓ CÔNG VỚI PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI LÀO
 
NNC. Nguyễn Đại Đồng – NCS. Phạm Văn Phượng
 
Tóm tắt:
Kể từ ngôi chùa đầu tiên của Việt kiều được khánh thành vào năm 1942 tại Vientiane thủ đô nước Lào, đến nay Phật giáo người Việt đã có 13 tự viện trên 5 tỉnh thành ở CHDCND Lào.
Có được thành tựu đó, tăng ni, Phật tử Việt kiều luôn nhớ tới công lao của hai vị tiền bối đáng kính là Hòa thượng Thích Nhật Liên và Hòa thượng Thích Trừng Quán.
Từ khóa: Hòa thượng Thích Nhật Liên; Hòa thượng Thích Trung Quán, Phật giáo Việt Nam tại Lào.
 
  1. Hòa thượng Thích Nhật Liên
Ngài thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, pháp tự Thiện Giác, pháp tự Trí Ấn-Nhật Liên, sinh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) trong một gia đình sùng thượng Tam bảo, có 5 người con, ba trai hai gái, quê tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ngài là con thứ hai sau anh trưởng là Diệp Tôn (sư Thích Thiện Liên).
Năm 1928, gia đình ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, mời thầy đồ về nhà dạy chữ Hán cho hai con Diệp Tôn và Diệp Quang. Hai anh em ngài thường được cụ đồ khen là sáng dạ.
Năm 1932, ngài theo học chữ quốc ngữ.
Năm 1935 vốn có túc duyên với Phật pháp, ngài cùng anh trưởng, được sự đồng ý của song thân và dưới sự dìu dắt của thúc phụ cũng là Sư thúc là Hòa thượng Thích Đôn Hậu (1905 – 1992) xuất gia theo Hòa thượng Thích Giác Nguyên (1877-1980) -trụ trì chùa Tây Thiên Di Đà tại Huế. Hai anh em ngài được Hòa thượng truyền thụ Tam qui ngũ giới, đồng thời làm lễ thế độ xuất gia và cho ngài pháp danh là Tâm Khai, tự Thiện Giác, anh trưởng pháp danh là Tâm Hoa, tự Thiện Liên.
Đương thời, phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam đang lên cao, nên chỉ sau một thời gian ngắn nhập đạo, ngài đã được Hòa thượng Bổn sư cho theo học tại Sơ đẳng Phật học đường do Pháp sư Thích Trí Độ (1894-1979) làm Đốc giáo. Những đồng môn cùng ngài lúc bấy giờ là các vị Thích Thiện Siêu, Thích Trí Quang, Thích Thiện Minh…sau này đề trở thành các thạch trụ của Phật giáo Việt Nam.
Từ năm 1940 ngài theo học tại Phật học đường Tây Thiên do Sơn môn Tăng già Thừa Thiên Huế mở, cùng năm ngài được thụ giới Sa di tại giới đàn chùa Tây Thiên.
Năm 1944 sau khi tốt nghiệp Phật học đương Tây Thiên, ngài được cử vào giảng dạy tại Thích học đường của Hội Lưỡng Xuyên Phật học, tỉnh Trà Vinh.
Từ năm 1945-1946, ngài giảng dạy Phật pháp tại chùa Phật Quang ở thành phố Phan Thiết và Phật học đường Long An, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Từ năm 1947 đến 1949, sau khi quân Pháp tái chiếm Quảng Trị ngài về ẩn cư tại chùa Diên Thọ, huyện Hải Lăng. Tại đây ngài cùng huynh trưởng là sư Thiện Liên hoạt động phục hồi Sơn môn Tăng già Quảng Trị.
Từ năm 1950-1953, ngài tham gia giảng dạy tại Phật học đường Nam Việt rồi Hội Phật học Nam Việt, vận động tổ chức Đại hội thành lập Giáo hội Tăng già Nam Việt.
Tại Đại hội lần thứ nhất Hội Phật học Nam Việt nhiệm kỳ 1951-1952 ngài được suy bầu vào Ban Cố vấn.
Năm 32 tuổi (1954), ngài nghỉ việc tại Phật học đường Nam Việt; hai lần vân du sang Campuchia, mở lớp bồi dưỡng giáo lý và mở khóa huấn luyện sư trụ trì cho Tăng già Việt kiều tại chùa Kim Chương ở Phnôm Pênh.
Năm 1955, do Thư Thỉnh nguyện đề ngày 15 tháng 11 năm 1955 của ông Trịnh Văn Phú nguyên Hội trưởng Hội Phật giáo Việt kiều tại Vientiane –thủ đô nước Lào và Đại đức trụ trì lâm thời chùa Bàng Long-Vientiane Thích Thiện Liên.(người đã đem hết tâm lực, vận động thu hồi ngôi chùa Bàng Long bị người địa phương chiếm ở từ năm 1945), gửi Giáo hội Tăng già Trung Việt tại Huế, thỉnh cầu Giáo hội cử một vị Tăng già đức độ đảm nhiệm trị sự Phật giáo Việt Nam tại Lào. Ngài Nhật Liên đã được Giáo hội cung cử ủy nhiệm đảm trách Phật sự quan trọng ấy.
Tại Lào, ngài được toàn thể chư tăng và Phật tử Việt kiều suy tôn lên ngôi Đạo Thống Phật giáo Việt Nam tại Lào, kiêm trụ trì chùa Bàng Long. Trên cương vị này, ngài đã đem hết tâm lực xiển dương Phật pháp, thiết lập hệ thống Phật giáo Việt Nam từ cấp Trung ương xuống các cấp tỉnh, thành. Tại Trung ương có tòa Đạo Thống và Viện Hành pháp. Tại các tỉnh, thị đông đảo Phật tử Việt Nam cư trú, có Ban Đại diện Phật giáo tỉnh.
Tiếp theo bước chân của Hòa thượng Nhật Liên có các Hòa thượng Thích Quảng Thiệp, Hòa thượng Thích Thanh Tuất, Hòa thượng Thích Trung Quán, kẻ trước người sau từ Sài Gòn sang Lào, cộng trú tại chùa Bàng Long. Kể từ đó, hệ thống Phật giáo Việt Nam phát triển lớn mạnh. Ngài Thanh Tuất xây dựng chùa Phật Tích tại Luangprabang, tiếp theo ngài Trung Quán lại tiếp tục mở mang rộng lớn hơn.
Năm 1960, với sự hợp lực của Hòa thượng Trung Quán, ngài phát tâm trùng tu chùa Bàng Long với qui mô rộng lớn, thành lập Phật học viện Huyền Quang, Ni bộ Đại thừa Phật giáo tại chùa Bàng Long. Những năm kế tiếp, ngài đứng ra tu sửa ngôi miếu thờ Phật tại nghĩa địa Việt kiều Vientiane cũ thành am Phật Tích, về sau trở thành ngôi chùa của Ni chúng, thiết lập nghĩa trang Phật giáo; xây dựng chùa Đại Nguyện tại nghĩa trang. Ngài cũng cho trùng tu chùa Bảo Quang (chùa Tăng) và chùa Diệu Giác (chùa Ni) tại Savannakhet, chùa Bồ Đề tại Thà Khẹt,…Bước chân của ngài đi đến đâu đều trang nghiêm Phật cảnh, tiếp Tăng độ chúng và hướng dẫn đồng bào Phật tử theo đúng đường hướng giáo lý của đức Phật.
Do những hoạt động Phật sư của hệ thống Phật giáo Việt Nam tại Lào phát triển mạnh mẽ, và những xung đột giữa nhiều thế lực thù địch, cùng tình hình chiến tranh cục bộ đương thời, cộng thêm những sự kiện vừa kể trên, ngài bị tình nghi là hoạt động cho cộng sản Việt Nam, nên ngài đã bị chính quyền Lào trục xuất về Việt Nam ngày 19 tháng 9 năm 1969 với lý do an ninh quốc gia, để lại trong lòng Tăng ni và Phật tử Việt kiều tại Lào bao nỗi xót xa kính nhớ.
Tại Sài Gòn, trong thời gian làm thủ tục hồi hương, ngài có nhân duyên gặp Cư sĩ Mai Thọ Truyền – Hội trưởng Hội Phật học Nam Việt. Cư sĩ đã mời ngài về lưu trú tại chùa Hội quán-Xá Lợi. số 89 đường Bà Huyện Thanh Quan, quận 3. Việc đầu tiên của Hòa thượng là đánh điện thỉnh cầu Hòa thượng Thích Trung Quán đang trú tại chùa Bàng Long Vientiane hoan hỷ phát tâm đảm nhiệm Phật sự Phật giáo Việt Nam tại Lào, kiêm Quản trị chùa Bàng Long.
Tiếp sau Hòa thượng còn đảm nhiệm nhiều Phật sự khác. Ngài là một nhà lãnh đạo, nhà giáo dục lỗi lạc làm rạng rỡ cho Phật giáo Việt Nam một thời. Cùng đức hạnh và giới luật tinh nghiêm, ngài là một tấm gương ngời sáng cho Tăng ni nhiều thế hệ.
Ngài đã an nhiên niệm Phật đi vào cõi Niết bàn ngày 24 tháng 11 năm Kỷ Sửu (tức ngày 8 tháng 1 năm 2010, tại chùa Long Thọ, tỉnh Đồng Nai. Thọ 87 tuổi, 59 Hạ lạp.
  1. Hòa thượng Thích Trung Quán
Hòa thượng Thích Trung Quán đạo hiệu Thanh Quất, thế danh Vũ Thanh Quất sinh ngày 9 tháng 6 năm 1918, tại làng Hạ Kỳ, phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Ðịnh; xuất gia tại Tổ đình Kim Liên (chùa Đồng Đắc) thuộc xã Đồng Hướng, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Ngài sinh trưởng trong một gia đình thiện lương làm ruộng, gồm bốn người con, hai trai và hai gái, ngài là người con trai thứ hai trong gia đình.
Năm 1936, ngài quyết chí xuất gia tu hành, đến lạy Hòa thượng Thích Đức Nhuận, chùa Quảng Bá, quận Tây Hồ, Hà Nội làm Nghiệp sư. Năm sau, ngài thụ giới Sa di tại giới đàn chùa Bồ Đề, huyện Gia Lâm, Hà Nội.
Năm 1938, ngài thụ Cụ Túc giới tại chốn tổ Lãng Lăng (Kim Sa tự), xã Xuân Đài, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
Năm 1959, Hòa thượng Thích Trung Quán được Hòa thượng Thích Lương Sơn (cụ Thanh Tuất) cung thỉnh sang Lào để hoằng dương Phật pháp và là chủ trì chùa Bàng Long tại thủ đô Vientiane từ năm 1969, sau vụ Hòa thượng Nhật Liên phải về nước vì lý do “an ninh quốc gia” của Lào.
Hòa thượng Thích Trung Quán được rất nhiều bà con người Việt, người Lào mến mộ và tôn xưng là bậc Thượng thủ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại Lào; đồng thời, là một trong số những người đầu tiên truyền bá tư tưởng Phật giáo Đại thừa Phật giáo tại Lào. Trên cương vị trụ chủ trì chùa Bàng Long, Hòa thượng Trung Quán đã chuyên tâm công việc nghiên cứu dịch thuật và hoằng hóa, nhằm nâng cao nhận thức về Phật học cho các Tăng ni và Phật tử; đã mở nhiều khóa tu học tại chùa Bàng Long.Khắp ba miền Thượng, Trung, Hạ Lào, Hòa thượng đã khai sơn cũng như đóng vai trò lãnh đạo tinh thần 10 ngôi chùa người Việt tại Lào. Trong những ngôi phạm vũ huy hoàng đó, nổi bật nhất là chùa Phật Tích tại miền Thượng Lào (Luang Prabang) và chùa Bàng Long tại thủ đô Vientiane.
Đến nay, đồng bào Việt kiều ở xóm Nhà đèn, thị xã Paksé vẫn kể về câu chuyện dựng chùa Long Vân vương vấn chút huyền thoại: Cách đây 70 năm, có một người Pháp tạc một hình tượng của đức Bổn sư ngồi thiền, trên hình rắn Naga. Khi ông này về nước đã bỏ quên pho tượng ở một ngôi nhà trong vùng.
Ông Trần Quế, người làng Vĩnh Xương, tỉnh Thừa Thiên, người giúp việc cho gia đình này, phát hiện tượng và ôm tượng Phật đi lang thang khắp nơi, và thường ngồi dưới gốc cây Bồ đề. Một hôm, có người phát hiện, nơi chỗ đất ông Trần Quế ngồi, phát ra ánh sáng rất linh thiêng. Dân chúng trong vùng cho rằng vùng đất phát ra ánh sáng ấy là linh thiêng, nên cùng nhau xây dựng chùa để thờ Phật. Bà con Phật tử lui tới tu học càng ngày càng đông, chùa đã được Hòa thượng Trung Quán và Hòa thượng Nhật Liên bấy giờ yểm trợ xây dựng nên rất khang trang. Chùa bài trí thờ phụng Phật theo cách chùa Bắc tông Việt Nam tọa lạc trên mảnh đất cụ Nan Khít người Lào phát tâm cúng dường.
Năm 1978, Hòa thượng Thích Trung Quán rời xứ Triệu Voi lên đường sang Pháp do Hòa thượng Thích Chân Thường bảo lãnh, để hoằng dương Phật pháp ở trời Tây.
Trong 20 năm sống ở Pháp, ngài đã thành lập thêm và làm Thày chứng minh của 6 ngôi chùa ở nước Pháp và nước Bỉ.
Sau một thời gian lâm bệnh, ngài đã thâu thần thị tịch ngày 30 tháng 2 năm Quý Mùi (1-4-2003), trụ thế 86 tuổi và 66 Hạ lạp.
Suốt cuộc đời tu hành, Hòa thượng Trung Quán luôn lấy bốn chữ Từ Bi Hỷ Xả làm phương châm cho việc độ sinh. Ngài là cây đại thụ cho hàng tứ chúng đệ tử khắp nơi của Phật giáo Việt Nam tại Hải ngoại.
Trải 23 năm (từ 1955 đến 1978), Hòa thượng Thích Nhật Liên và Hòa thượng Thích Trung Quán đã sống và truyền bá đạo Phật trong đồng bào Phật tử Việt Nam tại Lào. Bằng đức độ và tài năng vận động và thuyết pháp đưa bà con đến với đạo Phật Việt Nam, từ ngôi chùa Bàng Long ban đầu, ngày nay Phật giáo Việt Nam đã có 13 ngôi chùa ở cả ba vùng Thượng, Trung, Hạ Lào với 30 tăng ni và hàng ngàn Phật tử.
Thành tựu xây dựng cơ sở và phát triển Phật giáo Việt Nam tại Lào của quí Hòa thượng Thích Nhật Liên và Hòa thượng Thích Trung Quán là bài học quý báu đối với các nhà truyền giáo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay và mai sau tại nước ngoài.
                                                                                                 NĐĐ&PVP
Tài liệu tham khảo
  1. Báo Đuốc tuệ ra năm 1938 và 1942.
  2.  Thích Đồng Bổn chủ biên(2017), Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX, tập 3, Nxb Tôn giáo, 2017.
  3.  Thích Thái Hòa, Phật giáo Việt Nam tại Lào, Thư viện Cổ Pháp onlines, thứ tư, ngày 30 tháng 11 năm 2011.
 
 
 
 
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây