GIÁ TRỊ CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TẠI LÀO

Thứ hai - 09/12/2019 01:53
GIÁ TRỊ CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI
ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TẠI LÀO
TS. Nguyễn Thị Quế Hương*

Tóm tắt:
Cộng đồng người Việt[1] đã có mặt từ rất sớm tại Lào, trong quá trình di cư, chuyển dịch họ đã mang theo những nếp sống, tín ngưỡng, tôn giáo của mình đến mảnh đất mới. Trải qua thời gian, những tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có Phật giáo đã tác động, ảnh hưởng đến đời sống của họ.
Để tìm hiểu về những giá trị của Phật giáo đối với đời sống cộng đồng người Việt tại Lào; về giá trị của Phật giáo trong duy trì và kiến tạo bản sắc tôn giáo và bản sắc văn hóa Việt; các giá trị của Phật giáo thể hiện với cộng đồng người Việt tại Lào trong đời sống hằng ngày (cá nhân, gia đình); các giá trị Phật giáo thể hiện qua ngôi chùa Việt tại Lào (cộng đồng),... Bài viết tập trung làm rõ các vấn đề sau: 1. Vài nét về cộng đồng người Việt tại Lào; 2. Những ảnh hưởng của giá trị Phật giáo với đời sống của cộng đồng người Việt tại Lào (trong đó nêu một số giá trị cơ bản của Phật giáo cũng như những ảnh hưởng đến đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng của người Việt tại Lào); 3. Một số nhận xét ban đầu.
Từ khóa: Phật giáo, Giá trị Phật giáo, Cộng đồng người Việt, Lào.
 
  1. Vài nét về cộng đồng người Việt tại Lào
Cộng đng ngư­ời Việt Nam ở Lào là cộng đồng đông nhất so với các cộng đồng các nước khác và đ­ược hình thành từ rất sớm. Họ sinh sống rải rác ở khắp các tỉnh thành của Lào. Theo Nguyễn Duy Thiệu, năm 2008 có khoảng trên dưới 40.000 người Việt đang sinh sống tại Lào với 3 cộng đồng khác nhau: Một là người Lào gốc Việt (đã sinh sống từ lâu và đã có quốc tịch Lào); Hai là Việt kiều (là những người chưa có quốc tịch Lào, họ mang quốc tịch Việt Nam); Ba là những người mới sang cư trú tại Lào chưa ổn định[2]. Tuy nhiên, con số thống kê mà Tổng hội người Việt Nam ở Lào cho biết vào năm 2015 có gần 100.000 người Việt đang sinh sống tại Lào, nơi đông nhất là thủ đô Vientiane[3].
Người Việt tại Lào chịu sự chi phối, quản lý của hai hệ thống xã hội: hệ thống hành chính của xã hội Lào (theo pháp luật của Lào) và hệ thống tự quản của người Việt (Hội người Việt Nam tại Lào). Tuy nhiên, các cộng đồng này đều sống rất hòa thuận với người dân Lào do bởi cả hai hệ thống quản lý này bổ trợ cho nhau chứ không bị chồng chéo[4]. Ngư­ời Việt Nam sang và định cư­ ở Lào với nhiều mục đích khác nhau và qua nhiều đợt di cư. Trong lịch sử nhiều nhất là số dân Công giáo sau vụ bình Tây sát đạo của nhà Nguyễn dưới triều vua Tự Đức (1823-1883), rồi sự lánh nạn của người dân dưới thời vua Hàm Nghi (1870-1947) với “phong trào Cần Vương” và cuối cùng phải kể đến các đợt di cư do Pháp đứng ra tổ chức khai thác thuộc địa ở Đông Dương[5]. Như vậy, có 2 nguyên nhân dẫn đến sự hình thành cộng đồng người Việt tại Lào từ xưa cho đến nay đó là do chiến tranh chủ yếu từ các đợt di cư trong lịch sử và do mục đích kinh tế cá nhân ở các đợt di cư những lần về sau.
Cộng đồng ngư­ời Việt Nam ở Lào có đời sống kinh tế đa dạng, phong phú. Họ chủ yếu làm nghề kinh doanh, sản xuất nhỏ, dịch vụ hay công chức ở thành phố, thị xã, thị trấn, ngoài ra còn có nghề nông và nghề khác,... Theo điều tra từ năm 2008 của nhóm nghiên cứu Phạm Đức Thành cho biết: Những hộ kinh doanh, buôn bán, dịch vụ là những hộ có đời sống kinh tế khá giả và giàu có chiếm khoảng trên 10% số người Việt tại Lào. Những hộ có mức sống trung bình chiếm khoảng 60% là những hộ gia đình làm công chức và buôn bán nhỏ hay nông nghiệp. Còn lại những hộ bán hàng dong, làm thuê thì có mức sống khó khăn chiếm khoảng 30%[6]. Đến nay, đại bộ phận ngư­ời Việt Nam ở Lào đã nhập quốc tịch Lào và có cuộc sống khá ổn định, được Nhà nước Lào tạo điều kiện thuận lợi về chính sách trong công việc, sinh sống và học hành. Tuy rằng có nhiều điểm khác nhau trong văn hóa, nhưng cộng đồng người Việt tại Lào luôn hòa đồng, cởi mở cũng vì cùng chung nền văn hóa Phật giáo, tín ngư­ỡng và phong tục, tập quán nhưng họ vẫn giữ được bản sắc văn hóa riêng của người Việt, như người Việt vẫn ăn cơm tẻ, sau hôn nhân, cô dâu về ở nhà chồng và khi chết thì chôn ở nghĩa địa trong khi đó người Lào thì ăn cơm nếp, sau hôn nhân chú rể về ở nhà vợ và sau khi chết thì hỏa thiêu và để hũ tro ở chùa[7].
Cộng đồng người Việt tại Lào theo nhiều tôn giáo khác nhau, trong đó Phật giáo là đông nhất, tiếp đến các tín ngưỡng dân gian như thờ cúng tổ tiên, thờ Đức Thánh Trần, thờ Mẫu Liễu Hạnh,… rồi đến Công giáo. Như vậy, có thể thấy sự hòa hợp, giao thoa giữa cộng đồng người Việt tại Lào với văn hóa Lào đã có những điểm tương đồng mặc dù Phật giáo Việt Nam tại Lào là Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Lào là Phật giáo Nguyên Thủy, nhưng những giá trị Phật giáo đã có ảnh hưởng đến đời sống xã hội của cộng đồng người Việt tại Lào cũng như người dân Lào qua việc người Việt tại Lào cũng đến chùa Lào và ngược lại. Một số người Việt cũng phát nguyện đi tu theo Phật giáo Lào. Người đi tu phải cạo tóc vào chùa tu ít nhất từ 1 đến 3 tháng, có một số người tu đến bậc đại đức (mahả)[8].
Theo Nguyễn Văn Thoàn, Phật giáo Việt Nam có mặt tại Lào từ những năm đầu của thế kỷ 20 được căn cứ trên dữ liệu ra đời của các ngôi chùa Việt tại Lào và quá trình truyền bá Phật giáo Việt Nam trên đất Lào bị gián đoạn vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Song điều đáng quí là ngôi chùa Việt vẫn giữ được nét đặc trưng của ngôi chùa Phật giáo Việt Nam[9]. Từ sự ra đời của những ngôi chùa Việt trên đất nước Lào đã dần hình thành nên Ban Điều phối Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại Lào. Ngày 11/11/2018, Ban Điều phối Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại Lào đã chính thức được thành lập. Có thể thấy, Ban Điều phối Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại Lào ra đời như một quy luật tất yếu, nhằm góp phần hơn nữa vào sự nghiệp xây dựng và phát triển tình đoàn kết hữu nghị giữa hai nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế[10]. Theo số liệu khảo sát thực địa vào tháng 9/2019, Phật giáo Việt Nam ở Lào có tổng cộng 10 Tăng và 8 Ni. Trong số 18 vị Tăng ni, chỉ 2 vị có quốc tịch Lào, 10 vị có thẻ ngoại kiều, 6 vị còn lại mang hộ chiếu phổ thông Việt Nam.
2. Ảnh hưởng của giá trị Phật giáo với đời sống của cộng đồng người Việt tại Lào
2.1. Điểm qua một số giá trị cơ bản của Phật giáo
Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Viện Hàn lâm KHXHVN trong nhiều năm qua đã đi sâu nghiên cứu về hệ giá trị văn hóa và giá trị tôn giáo trong môi trường đa dạng tôn giáo hiện nay, đồng thời với cách tiếp cận thực thể tôn giáo khẳng định tính chất “bản thể” của hệ giá trị tôn giáo, không những tồn tại, mà còn là tác động thực sự như một hợp phần xã hội. Thực thể tôn giáo có vai trò như một phương thức sống khẳng định rằng chỉ có một sự thật tối hậu cho sự tồn tại của thế giới. Có nghĩa, chân lý thực sự có thể tìm thấy ở tôn giáo. Mỗi một tôn giáo đều khẳng định trong giáo lý của nó là nắm giữ sự thật, giải thích được sự thật và có thể trông cậy vào sự thật để định hướng niềm tin của con người như một lý tưởng sống tuyệt đối và hoàn mỹ - đây là giá trị chân lý của thực thể tôn giáo và giá trị chân lý là giá trị cốt lõi nhất của tôn giáo. Giá trị mang tính tập thể trong định hướng các nguyên lý sống, chuẩn mực sống và phong cách sống (lối sống). Đây là khía cạnh thứ hai của nội dung hệ giá trị tôn giáo, hay có thể gọi là giá trị luân lý và đạo đức của thực thể tôn giáo. Một nội dung quan trọng khác của hệ giá trị tôn giáo là trình độ biểu đạt thẩm mỹ và phương cách biểu đạt cái đẹp, cái vĩnh cửu và cái thiện theo giáo lý của các tôn giáo. Thực thể tôn giáo được thừa nhận như một hình ảnh của sự toàn thiện trong con mắt tín đồ. Đây là giá trị thẩm mỹ của thực thể tôn giáo. Một chiều kích quan trọng khác trong cấu phần của thực thể tôn giáo không thể không nói đến là ý thức và tư duy định hướng cho mọi hành vi hằng ngày của cá nhân và cộng đồng tín đồ. Đây chính là giá trị ý thức hệ của thực thể tôn giáo. Ý thức hệ vẫn được diễn tả như một hệ thống học thuyết và niềm tin, phán xét và giá trị, chuẩn mực luân lý. Mọi tôn giáo được biết đến đều khuyến khích đức thiện, lòng thương người và hài hòa với tự nhiên, thậm chí là sợ hãi tự nhiên. Đây chính là giá trị nhân từ của tôn giáo. Một giá trị căn bản nữa của chiều kích cá nhân, cộng đồng, xã hội và của chính thực thể tôn giáo là: luôn có một sự tiếp nối liên tục, bền bỉ và là chỗ dựa được trao truyền cho tình cảm, nhận thức và hành vi  của con người nói chung và của người có niềm tin tôn giáo nói riêng. Đây chính là giá trị truyền thống của thực thể tôn giáo. Ngoài 6 giá trị cơ bản nêu trên, các giá trị khác của hệ giá trị tôn giáo còn có thể được phát hiện và triển khai phân tích như là giá trị thành phần của thực thể tôn giáo, đồng thời cũng là giá trị thành phần của hệ giá trị phổ quát của xã hội hiện đại[11].
Tuy nhiên trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu về hệ giá trị chân lý; luân lý và đạo đức, bởi chuẩn mực đạo đức, tư duy là hai yếu tố góp phần tạo sự bình yên, ổn định xã hội phát triển bền vững. Còn lại các giá trị khác chúng tôi sẽ trở lại vào những nghiên cứu tiếp theo.
Theo tác giả Nguyễn Tài Thư khi tìm hiểu về mối quan hệ giữa tôn giáo và đạo đức cũng như ảnh hưởng của nó đối với cộng đồng dân cư đều cho rằng luân lý, đạo đức tôn giáo góp phần vào việc ổn định trật tự xã hội, duy trì truyền thống luân lý của dân tộc đã nhận định: “thực tế cho thấy quan niệm đạo đức của hầu hết các tôn giáo, ngoài những giá trị đặc thù bảo vệ niềm tin tôn giáo thiêng liêng còn đề cập đến những chuẩn mực đạo đức mang tính nhân loại như: sống hiếu thảo với cha mẹ, trung thực, nhân ái, hướng tới cái thiện, tránh xa điều ác,…”[12].
Bất cứ tôn giáo nào đều có nhu cầu bảo vệtrao truyền về chân lý của tôn giáo mình, và Phật giáo cũng vậy. Bởi lẽ tôn giáo mà không bảo lưu chân lý sẽ rơi vào trạng thái lạc giáo, lạc hướng và tạo ra nhiều rạn nứt hoặc chỉ là một học thuyết, do đó chân lý luôn là một thành tố quan trọng của tôn giáo, nó như một hằng số, một giá trị được bảo lưu bền vững trong các khung cảnh và không gian văn hóa khác nhau. Nằm trong hệ giá trị tôn giáo, giá trị chân lý, giá trị luân lý và đạo đức của Phật giáo được thể hiện qua các kinh điểm của Phật giáo như sau[13]: “Trước hết đó là giá trị chân lý của Phật giáo được thể hiện qua các nguyên lý sau: Nguyên lý vô thường: Nguyên lý vô thường được diễn đạt như sau: mọi sự vật đều hữu hạn, không thường hằng, mau qua chóng hết. Điều này được phản ánh trong vũ trụ luận của Phật giáo, theo đó có một vũ trụ của một không gian và thời gian vô hạn, trong đó vô số các vũ trụ nối tiếp nhau xuất hiện rồi biến mất. Cá nhân mỗi người cũng sinh ra rồi chết đi, không có gì tồn tại tự nó vĩnh viễn. Phật giáo phác lược một thế giới thống nhất, chỉnh thể, trong đó, con người là trung tâm của sự giải thoát cá nhân và tập thể. Sự giải thoát ở đây là giải thoát thì vĩnh viễn, không còn nằm trong vòng quay sinh tử thường tình. Nguyên lý Khổ, Nhân quả: Phật giáo nhấn mạnh đến đặc tính thứ hai của sự tồn tại hữu hạn, đó là sự đau khổ (dukkha). Khổ là chủ đề của một trong những giáo thuyết nổi tiếng nhất của Phật giáo: Tứ Diệu Đế hay Bốn chân lý về sự Khổ và thoát Khổ. Chân lý thứ nhất, và nguyên nhân gây ra đau khổ trong chân lý thứ hai (là sự ham muốn và giận ghét gây ra do ảo tưởng tâm linh sâu xa của chúng ta), thì chân lý thứ ba lại khẳng định vững vàng rằng chúng ta có thể vượt qua sự đau khổ vốn là đặc tính của sự hiện hữu giới hạn của chúng ta. Hơn nữa, chân lý thứ tư bắt đầu mô tả những phương thế nhờ đó mỗi người chúng ta có thể thực hiện được sự biến đổi. Phương thế này chính là Bát Chính Đạo (ryṣṭṅgikamrga), con đường thực hành để dẫn chúng ta đi từ thế giới của đau khổ sang thế giới của kinh nghiệm tự do và hạnh phúc. Nguyên lý Từ bi, Vô ngã: Từ bi và vô ngã là hai khái niệm và phạm trù rất cơ bản của Phật giáo, cả về mặt lý thuyết cũng như thực hành. Từ bi là ban vui và thương xót. Vô ngã là đánh tan cái “tôi” tự cho là duy nhất, là sự tồn tại mãi mãi và không có liên hệ hay tương tác với xung quanh. Chỉ có từ bỏ ngã (vô ngã) mới ban điều vui, đem lòng thương xót kẻ khác (từ bi), và với định hướng sống như thế, người thấm giáo thuyết mới có thể hoàn toàn vô tư trong các mối quan hệ cá nhân, cộng đồng. Đó cũng là một trong những chuẩn mực ứng xử của người văn minh. Như thế, từ bi và vô ngã là hai giá trị cơ bản của Phật giáo, nó sẽ trở thành chuẩn mực ứng xử của cá nhân, nhóm và cộng đồng. Với giá trị luân lý và đạo đức Phật giáo có ảnh hưởng to lớn đến đạo đức con người Việt Nam hiện nay, đây là điều cần khẳng định. Theo Phật giáo, thì con người là trung tâm điểm của vũ trụ và vạn vật, cũng chính vì thế mà con người cần được chuyển hóa và tu dưỡng bản thân cho mình t ý tưởng, đến lời nói, hành động. Đạo đức con người theo quan niệm của đạo Phật có thể coi là một khoa học về sự cải tạo con người từ thân phận yếu hèn, đau khổ thành một nhân vị tự do, hạnh phúc; sự chuyển hóa con người từ kiếp sống vô minh, phiền não để đạt đến đỉnh cao của giác ngộ và giải thoát. Đạo đức Phật giáo cho đến nay vẫn có nhiều điểm tích cực, phù hợp với phát triển giáo dục con người mới hiện đại, phù hợp với khoa học và các quan hệ quốc tế ngày nay. Ngũ giới của Phật giáo đưa ra đó chính là năm nguyên lý chủ yếu cho nếp sống cá nhân. Đạo đức Phật giáo khuyên nhủ con người hãy thực hiện đức thiện, đưa vào đời sống hằng ngày. Trong Thập Thiện Nghiệp Đạo Kinh[14], Đức Phật khuyên con người hãy làm mười điều thiện. Mười điều khuyên đó đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị đối với đạo đức cá nhân con người cũng như trong mối quan hệ con người và xã hội. Từ những chuẩn mực về đạo đức cá nhân, Phật giáo hướng mỗi người phải có những trách nhiệm ràng buộc mật thiết với gia đình, xã hội và cộng đồng. Theo tác giả Nguyễn Hữu Vui, “những chuẩn mực đạo đức này vẫn luôn có ý nghĩa trong đời sống đạo đức của mọi xã hội, trong đó có xã hội của chúng ta ngày nay”[15]. Trong Phật giáo, nguyên tắc để xây dựng nếp sống hòa hợp giữa cá nhân và xã hội có thể tìm trong tư tưởng “Lục hòa”: Giới hòa đồng tu: Hòa đồng trên nguyên tắc kỷ luật; Thân hòa đồng trụ: Hòa đồng trên nguyên tắc hành động; Khẩu hòa vô tránh: Hòa đồng trên nguyên tắc ngôn luận; Lợi hòa đồng huân: Hòa đồng trên nguyên tắc quyền lợi; Ý hòa đồng duyệt: Hòa đồng trên nguyên tắc chí; Kiến hòa đồng giải: Hòa đồng trên nguyên tắc nhận thức”. Những tư tưởng về đạo đức con người theo quan niệm Phật giáo cho tới hiện nay vẫn tỏ ra cập nhật. Một nhà sư đã từng nói: “Đạo đức Phật giáo có khả năng giúp cải thiện cuộc sống của con người hiện tại và xã hội hiện tại”[16]. Đó là cách làm cho Phật giáo thích nghi và đáp ứng được đối với xã hội hiện nay”.
Như vậy, giá trị tôn giáo hay giá trị Phật giáo được thể hiện qua chính việc duy trì niềm tin tôn giáo, (hoạt động truyền giáo, thực hành nghi lễ, thực hiện tình thương). Các giá trị đó ảnh hưởng, tác động đến đời sống xã hội bằng nhiều hình thức khác nhau. Hay, “giá trị của Phật giáo có thể được hiểu là những nguyên tắc năm bắt bản chất của thế giới tự nhiên và con người mà tín đồ, cộng đồng Phật giáo và xã hội thế tục tôn trọng, thừa nhận, tin tưởng và gìn giữ một cách bền lâu nhất; chúng phản ánh tính mục đích và tính ưu tiên trong mỗi hành động và cách ứng xử của tín đồ Phật giáo. Các giá trị của Phật giáo còn có khả năng ảnh hưởng đến cộng đồng và xã hội nói chung”[17].
2.2. Những ảnh hưởng của giá trị Phật giáo với đời sống cá nhân và cộng đồng người Việt tại Lào
2.2.1. Những ảnh hưởng đến đời sống cá nhân
Có thể thấy, giá trị luân lý và đạo đức của bất kỳ tôn giáo nào đều nhằm điều chỉnh nhận thức, tình cảm và hành vi của các tín đồ. Tín đồ tôn giáo phải sống theo những quy phạm chuẩn mực đạo đức phù hợp với giá trị tôn giáo của mình, góp phần duy trì đạo đức xã hội, tự hoàn thiện bản thân hướng con người đến cái chân-thiện-mỹ. Phật giáo với triết lý từ bi, hỷ xả, khuyến khích con người hướng thiện, đã thực sự ăn sâu vào nếp sống truyền thống của dân tộc Việt Nam, ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý, lối sống, phong tục tập quán của con người Việt Nam. Đạo đức Phật giáo góp phần hoàn thiện nhân cách đạo đức, hướng con người đến lối sống vị tha, bình đẳng, bác ái[18].
Những giá trị Phật giáo ảnh hưởng đến đời sống cá nhân mà chúng tôi muốn nói đến đó là từng cá thể con người sống trong một gia đình, vì quá trình hình thành và phát triển nhân cách, đạo đức lối sống của mỗi con người được xây dựng trên cơ sở tiếp nhận kiến thức từ gia đình, nhà trường và cộng đồng xã hội, trong đó, gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên và suốt cuộc đời, định hình nhân cách của mỗi con người. Gia đình chính là môi trường văn hóa đầu tiên mà ở đó mỗi cá nhân từ khi chào đời và suốt quá trình trưởng thành liên tục được tiếp xúc với các chuẩn mực đạo đức từ cha mẹ, ông bà và những người thân. Chính lối sống đề cao trách nhiệm, nghĩa tình, đức hy sinh, tính bản thiện, sự quan tâm tới mọi người và nhân cách cao thượng của ông bà, mẹ cha có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành và phát triển nhân cách của con trẻ. Sự gắn kết bền chặt trong quan hệ hôn nhân, trách nhiệm nuôi dạy con cái và hiếu nghĩa với bậc sinh thành của cha mẹ sẽ là tấm gương để con cái noi theo. Thông qua việc thực hành nghi lễ và giáo lý, cha mẹ đã dạy con em mình những nhiều điều răn dạy của Phật giáo.
Sự nhận thức, ứng xử của cha mẹ trong gia đình sẽ có ảnh hưởng nhất định đến lối sống của từng cá nhân, do đó với người Việt ở Lào cũng vậy, họ vẫn luôn gìn giữ nét văn hóa của Việt Nam trong vòng đời người từ khi sinh ra, rồi trưởng thành và cho đến khi về với tổ tiên. Tư tưởng nhân quả, đạo đức như cha mẹ ăn ở hiền lành, con cái sẽ gặp phúc, do đó trong gia đình mà có người mang thai (cội nguồn của sự sinh) là cả gia đình toàn tâm toàn ý cố gắng tích đức, làm thiện như đến chùa cúng dường, giúp đỡ cho sư và đi tu để mong được bình an cho cả gia đình. Ngoài ra, để được yên lòng khi đang mang thai, phụ nữ người Việt ở Lào thường đến chùa Việt ở Lào (để lễ Phật) và cả chùa Lào (được sư đọc kinh và buộc chỉ may mắn) để mong được bình an, may mắn cho đến khi sinh em bé và nuôi em bé. Bởi trong nhận thức của người Việt thì sư Việt hay sư Lào cũng đều có thể mang lại sự bình an, may mắn cho mọi người. Có thể thấy tư tưởng nhân quả của Phật giáo đã có ảnh hưởng đến lối sống cá nhân, gia đình người Việt tại Lào, góp phần an ủi cho tinh thần của họ được tốt lên tránh xui xẻo cũng là điều dễ hiểu[19].
Một trong những nghi lễ của vòng đời người cũng không kém phần quan trọng đó là hôn lễ. Cũng giống như người Việt trong nước, người Việt ở Lào cũng theo hình thức hôn nhân phụ hệ, tức là sau hôn lễ cô dâu về nhà chồng và con cái lấy họ cha và người thừa kế thừa là con trai không như người Lào là sau hôn lễ chú rể về nhà cô dâu, nhưng con cái vẫn lấy họ cha và người thừa kế thường là con gái. Tuy nhiên ngày nay, việc phân chia của cải đã có sự thay đổi, đã chia đều cho cả nam và nữ[20]. Đối với các gia đình Phật tử người Việt ở Lào thường chọn hình thức tổ chức lễ cưới ở chùa (còn gọi là lễ Hằng Thuận). Điều này nói đến sự gìn giữ nét văn hóa của Phật giáo Bắc tông của người Việt ở Lào và sư Việt ở Lào khi làm lễ chúc phúc cho đôi bạn trẻ. Lễ Hằng Thuận được tổ chức ở các chùa Phật giáo hiện nay là một hoạt động có tác dụng giáo dục đạo đức, lối sống đối với các cặp vợ chồng trẻ, nhằm giáo dục sự thủy chung, đạo lý gia đình trước khi bước vào cuộc sống hôn nhân. Đồng thời, tăng tính liên kết về tâm linh cho một hôn nhân bền vững. Có thể thấy, việc tổ chức lễ Hằng Thuận cho Phật tử cũng thể hiện tính nhập thế của Phật giáo Bắc tông Việt Nam ở Lào. Lễ Hằng Thuận như là cầu nối giữa Đạo và Đời, là sự hòa quyện giữa văn hóa đạo đức với giá trị văn hóa tâm linh của Phật giáo. Góp phần gìn giữ bẳn sắc văn hóa dân tộc, định hướng hành vi, ý thức của con người sống có ích hơn trong xã hội[21].
Với tư tưởng giải thoát của Phật giáo đã ngấm sâu trong tiềm thức của người Phật tử, nên cái chết là một sự giải thoát để chuyển luân sang thế giới khác, do đó nghi lễ cuối cùng trong nghi lễ vòng đời người đó là tang lễ cũng được người Việt ở Lào thực hiện nghiêm cẩn. Sau khi trong nhà có người chết, họ làm các thủ tục như tắm, tẩy uế…, gia đình mời nhà sư đến làm lễ cầu siêu cho người chết, sau đó liệm, rồi lập bàn thờ vong. Nhà sư làm lễ phát tang, rồi bà con, họ hàng đến viếng, sau đó đưa tang. Ở những địa phương tại Lào không có chùa Việt thì có thể nhờ thầy cúng. Người Lào kiêng kỵ đưa tang vào những ngày mồng tám, ngày mười rằm của hai tuần trăng sáng và trăng tối trong tháng theo lịch của Lào, do đó người Việt ở Lào cũng phải tuyệt đối không được đưa tang vào những ngày đó. Người Việt di quan vào buổi sáng thì người Lào chỉ di quan vào buổi chiều[22].
Một nét văn hóa dân tộc đã hằn in trong não trạng của mỗi con người Việt Nam cho dù bất kể ở đâu trên trái đất này đó là đạo Hiếu. Đối với người Việt ở Việt Nam hay người Việt ở Lào, đạo Hiếu được thể hiện qua việc thờ cúng tổ tiên. Đây là, phương diện đạo đức được khích lệ, khuyến khích con cháu làm điều tốt lành, trở nên người hữu ích với dân với nước. Tổ tiên được coi như là thần bản mệnh của gia đình, dòng họ mà những người còn sống có trách nhiệm lo lắng, chăm sóc theo tục lệ như thờ cúng, tưởng niệm, để mong che chở cho con cháu, phù hộ cho con cháu trong cuộc sống đồng thời cũng là bảo vệ duy trì danh dự của dòng họ, gia đình. Thờ cúng tổ tiên của người Việt ở Lào cũng vậy. Sau đám tang họ cũng cúng 49 ngày, rồi 100 ngày, được cúng tại chùa. Rồi giỗ đầu là giỗ quan trọng và thường làm linh đình tại nhà và tại chùa. Bên cạnh đó, người Việt cũng chịu ảnh hưởng từ văn hóa của người Lào đó là việc đi tu báo hiếu gọi là Buột-chủng (chỉ đi tu một thời gian rồi lại về như là vào chùa làm công quả của người Việt ở Việt Nam), thời gian đi tu tính từ sau 49 ngày đi tu 2-3 tháng hoặc phát nguyện đi tu cả đời. Hoặc thực hiện dâng vật phẩm cúng dường sư sãi (tắc-bạt) haybuộc chỉ cổ tay (mặt-khẻn). Như vậy, qua thực tế cho thấy tư tưởng vô thường, giải thoát của Phật giáo đã chi phối mạnh mẽ đến cộng đồng người Việt kể cả Phật tử và không phải Phật tử tại Lào. Thậm chí, có không ít người Việt (thuộc thế hệ thứ 3) có xu hướng thỉnh sư Lào và thực hành theo tập tục Lào khi báo hiếu cha mẹ[23].
2.2.2. Những ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng
Với đời sống cộng đồng ở đây chúng tôi muốn nói đến những hoạt động tôn giáo và hoạt động hướng đến xã hội của cộng đồng người Việt tại Lào. Có thể thấy, những hoạt động tôn giáo như thực hành nghi lễ tôn giáo, giáo dục giáo lý trong cộng đồng cùng một niềm tin chung hướng về đấng thiêng liêng trong tôn giáo của mình đã khiến cho các tín đồ mỗi tôn giáo gắn bó với nhau chặt chẽ hơn trong đời sống cộng đồng, bất chấp sự khác biệt về văn hóa, chủng tộc. Chính sự gắn kết ấy tạo nên một cộng đồng đoàn kết, có sức mạnh. Trong lĩnh vực từ thiện xã hội, phát huy tinh thần sống “tốt đời, đẹp đạo” và truyền thống đoàn kết, nhân ái của dân tộc Việt Nam, những năm qua, các hoạt động từ thiện nhân đạo ngày càng được các tôn giáo chú trọng và dần trở thành một phong trào mang tính xã hội rộng lớn. Hoạt động từ thiện nhân đạo của các tôn giáo đã mang lại hiệu quả thiết thực góp phần chăm lo các hộ nghèo, những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, qua đó góp phần đảm bảo an sinh xã hội[24].
Từ khi Phật giáo Việt Nam du nhập đến đất nước Lào đã được tự do phát triển và cộng đồng người Việt tại Lào cũng được Chính phủ Lào tạo điều kiện thực hành sinh hoạt văn hóa và tín ngưỡng, do đó các hoạt động tôn giáo tại chùa cũng được thường xuyên diễn ra song song với các hoạt động văn hóa với mục đích gắn kết cộng đồng. Ngôi chùa vì vậy trở thành ngôi nhà chung của cộng đồng người Việt tại Lào. Đây là ngôi nhà chung đặt biệt với không gian thiêng, nơi đây là chỗ dựa vững chắc đời sống tinh thần của cộng đồng. Có thể thấy rõ nhất qua khóa tu mùa hạ (An cư Kiết hạ). Vào những tháng này, cộng đồng Phật tử người Việt tại Lào hằng ngày lên chùa tụng kinh, bái sám, học hỏi giáo lý và thực hành Ngũ giới và một số người còn phát nguyện đi tu (nhưng theo tục lệ của Lào) để tăng phúc đức cho gia đình. Bên cạnh đó, chùa còn tổ chức các khóa tu khác như khóa tu Bát Quan Trai Giới và khóa tu niệm Phật. Đây là những khóa tu chủ yếu là người phụ nữ cao tuổi rất gắn bó với chùa, cùng như người Việt có câu trẻ vui nhà, già vui chùa nên người Việt cao tuổi ở Lào thường đến chùa hằng ngày ngoài việc học giáo lý, họ còn chia sẻ ngọt bùi những lúc buồn vui, đoàn kết, như “cái phao” trong đời sống cộng đồng khi về già. Ban Hộ Niệm được thành lập có tránh nhiệm đápp ứng nhu cầu tâm linh với mục đích tụng kinh, niệm Phật và cầu siêu, trợ niệm cho bà con người Việt khi qua đời. Nghĩa cử này, ngoài mục đích trợ lực thêm cho hương linh trên đường tái sinh, tích phúc cho bản thân, còn là sự gắn kết tình đồng bào người Việt trong cộng đồng[25]. Có thể thấy hoạt động này qua ngôi chùa Phật Tích cho biết: “Tối 23/9 tại chùa Phật Tích Lào ở thủ đô Vientiane, hàng trăm tăng ni, phật tử, cộng đồng người Việt đang sinh sống, học tập, làm việc tại thủ đô Vientiane đã dự lễ cầu siêu, tưởng niệm Chủ tịch nước Trần Đại Quang. Trong không khí trang nghiêm, chư tăng, phật tử hai nước Lào-Việt Nam và cộng đồng người Việt ở thủ đô Vientiane đã cùng cầu nguyện cầu mong cho Chủ tịch nước Trần Đại Quang được tịnh độ, siêu thoát. Sau lễ cầu siêu, tưởng niệm Chủ tịch nước Trần Đại Quang, tăng ni, phật tử chùa Phật Tích Lào đã trao 350 phần quà cho các em học sinh Lào bị ảnh hưởng trong sự cố vỡ đập thủy điện Xe Pian-Xe Namnoy vào ngày 23/7 vừa qua tại tỉnh Attapeu, Nam Lào”[26].
Kế thừa tinh thần nhập thế của Phật giáo là xem trọng việc cứ người hơn nghi lễ hình thức. Ở Lào, người dân đã thấm nhuần tu tưởng đạo đức  nhân quả, nghiệp báo nên việc tham gia các hoạt động từ thiện, nhân đạo và cộng đồng người Việt tại Lào cũng vậy, theo khảo sát của Nguyễn Văn Thoàn cho biết có đến 81% số người được hỏi cho rằng có tham gia các hoạt động từ thiện, nhân đạo[27]. Bên cạnh đó họ cũng có các hoạt động nhân đạo gắn với các chùa mà đại diện Hội người Việt Nam thủ đô Vientiane Lê Anh Đức cho biết: “các hoạt động xã hội nhân đạo, từ thiện gắn với các hoạt động của các ngôi chùa người Việt tại Lào có ý nghĩa quan trọng trong sinh hoạt cộng đồng, tạo tiền đề cho sự phối hợp, gắn kết cộng đồng Phật giáo và dân tộc. Các hoạt động này không chỉ tạo cơ hội gắn bó, chia sẻ trong cộng đồng người Việt cùng nhau hướng về quê hương, đất nước, mà còn tạo sự gắn bó giữa cộng đồng người Việt đối với người dân Lào. Ông Lê Anh Đức cho rằng, để hoạt động này đi vào thực chất hơn, cần thành lập ban từ thiện có vai trò liên kết giữa Hội người Việt với các cơ sở Phật giáo của người Việt tại Lào”[28]. Những hoạt động văn hóa tâm linh như này sẽ  thúc đẩy sự gắn kết cộng đồng người Việt đoàn kết, gắn bó, đồng thời cũng là dịp bà con kiều bào gặp gỡ, thăm hỏi lẫn nhau, cùng đàm đạo những vấn đề quan tâm. Nhờ đó, góp phần nhỏ bé vào xây dựng đất nước Lào, đồng thời cũng là hướng về quê hương, đất nước cội nguồn Việt Nam. Như vậy, người Việt và các tu sĩ Phật giáo Việt Nam tại Lào đã cùng nhau chung tay xây dựng và phát triển Phật giáo Việt Nam tại Lào, đồng thời cũng thể hiện tinh thần đoàn kết gắn bó keo sơn người chung một nhà (đồng bào) của dân tộc Việt Nam nơi đất khách quê người.
Tinh thần vì Đạo pháp, vì dân tộc của các vị danh Tăng luôn là tấn gương cho các Phật tử noi theo, như tinh thần của hai sư thầy Thích Minh Quang và Thích Minh Nguyệt tại Phật Tích Linh Ứng tự: “Tu đạo và hướng thiện là con đường mà chúng tôi đã chọn. Chúng tôi không chỉ biết nói bằng lời mà luôn làm tất cả tấm lòng của mình”. TT. Thích Minh Quang khẳng định: Giữ gìn và phát huy tốt mối quan hệ với Giáo hội Phật giáo Việt Nam là trách nhiệm hàng đầu của chúng tôi. Vì thế cứ mỗi lần Giáo hội có cuộc họp nào quan trọng là nhà chùa chúng tôi cũng có sư thầy về dự. Ở đó chúng tôi chia sẻ, bày tỏ tâm tư, nguyện vọng của bà con Phật tử bên này” Điều ấn tượng nhất ở ngôi chùa đặc biệt này đó là tấm lòng vì đất nước của hai vị sư thầy này cũng như tinh thần của Phật Tích Linh Ứng tự, vốn xem mình là một chi nhánh Giáo hội Phật giáo Việt Nam, suốt hàng chục năm qua đã có những hành động thiết thực hướng về quê hương, đất tổ[29].
  1. Một số nhận xét ban đầu
Từ khi di cư đến Lào cho đến nay, cộng đồng người Việt tại Lào đã trải qua nhiều thăng trầm của cuộc sống và bước đầu có những thành quả trong đời sống xã hội và đời sống tâm linh. Cộng đồng người Việt trên đất nước Lào đã biết hòa đồng, dung hợp giữa nền văn hóa Việt Nam với nền văn hóa Lào tạo ra bản sắc riêng nhưng vẫn thấm đượm văn hóa dân tộc, nơi cội nguồn, nơi chôn nhau cắt rốn vẫn tồn tại trong tâm khảm của họ.
Những giá trị của Phật giáo, đặc biệt là giá trị luân lý, đạo đức đã thấm sâu trong mỗi người dân Việt Nam cho dù họ ở bất kỳ nơi nào. Tinh thần tương thân, tương ái, giúp đỡ lẫn nhau được thể hiện qua công tác từ thiện, nhân đạo của bà con hay các tăng, ni người Việt ở Lào đã tạo ra tình đoàn kết, hữu nghị, gắn bó keo sơn trong cộng đồng người Việt  tại Lào cũng như với người dân Lào. Tinh thần vì Đạo pháp, vì dân tộc của Phật giáo Việt Nam từ khi du nhập đến đất nước Lào cho đến nay luôn được các Tăng, Ni cùng Phật tử người Việt tại Lào gìn giữ, phát huy và ứng dụng trong cuộc sống cho thấy tính dung hòa giữa hai truyền thống Phật giáo Bắc tông (Việt Nam) và Nam tông (Lào).
Mặc dù ngôi chùa Việt tại Lào đã có những vai trò, chức năng hiện thức hóa các giá trị Phật giáo vào đời sống trong cộng đồng người Việt tại Lào nhưng cũng còn tồn tại một số vấn đề, như: chưa xây dựng được tiếng nói chung cho Phật giáo Việt Nam ở Lào; phần lớn tăng, ni còn hạn chế về trình độ Phật học cũng như ngôn ngữ bản xứ, dẫn đến khó khăn trong việc phổ cập giáo lý Phật giáo đến bà con Phật tử người Việt ở Lào, nhất là thế hệ đời thứ 4, thứ 5 hiện nay. Nhằm phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động văn hóa tâm linh của người Việt nói chung, công tác cộng đồng Phật giáo Việt Nam tại Lào nói riêng, Thượng tọa Thích Minh Quang đưa ra kiến nghị rằng: “Các tổ chức cộng đồng cần liên hệ, phối hợp với chư tăng, ni, phật tử để thường xuyên tổ chức sinh hoạt văn hóa truyền thống dân tộc, thông qua các chương trình lễ hội tâm linh tại các chùa, để có thể quy tụ bà con kiều bào tham gia; các Cơ quan đại diện Việt Nam tại Lào cần hỗ trợ các cơ sở Phật giáo của người Việt tại Lào về các vấn đề pháp lý có liên quan”[30]. Bên cạnh đó, rất cần những nhóm khuyến nghị nhằm giúp cho Phật giáo Việt Nam tại Lào phát triển đúng vai trò, chức năng đối với đời sống tâm linh người Việt xa quê hương. Hy vọng, với sự chung tay, góp sức của cộng đồng người Việt với các vị tăng, ni; sự quan tâm tận tình của Giáo hội Phật giáo Việt Nam với những chính sách của hai nước Việt - Lào sẽ đưa Phật giáo Việt Nam tại Lào phát triển hơn nữa, tạo sự kết nối giữa cộng đồng người Việt tại Lào với người Việt ở Việt Nam, với người Lào và trên thế giới cũng như tình hữu nghị giữa hai nước Việt - Lào/.
Tài liệu tham khảo
1. Thích Minh Châu (1993), Diễn văn khai mạc hội nghị Đạo đức Phật giáo trong thời hiện tại, trong Đạo đức Phật giáo trong thời đại. Nxb. TP. Hồ Chí Minh.
2. Hoàng Văn Chung chủ biên, (2019). Giá trị và chức năng cơ bản của Phật giáo trong xã hội Việt Nam hiện nay. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội
3. Phạm Đức Thành, (2008), Cộng đồng người Việt ở Lào trong mối quan hệ Việt Nam – Lào. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nọi
4. Nguyễn Lệ Thi (2007), “Chùa của người Việt ở Lào”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2/2007, tr 57-62.
5. Nguyễn Duy Thiệu, (2007) “Cộng đồng người Việt tại Lào sinh tôn và giữ gìn bản sắc”, Tạp chí  Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2, tr 3-13.
6. Nguyễn Duy Thiệu (2008). Di cư và chuyển đổi lối sống trường hợp cộng đồng người Việt ở Lào. Nxb Thế giới, Hà Nội
7. Nguyễn Văn Thoàn, (2016) “Quá tình hình thành và phát triển của Phật giáo Việt Nam ở Lào”, Tạp chí  Nghiên cứu Đông Nam Á, số 12, tr 30-37.
8. Nguyễn Văn Thoàn, (2019). Văn hóa Phật giáo trong đời sống của người Việt ở Lào. Nxb Văn hóa – Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh.
9. Nguyễn Tài Thư chủ biên (1997). Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
10. Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (1994), Tìm hiểu lịch sử - Văn hóa Lào. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
11. Viện Nghiên cứu Tôn giáo, (2015), Phát huy giá trị của tôn giáo nhằm xây dựng và nâng cao đạo đức, lối sống con người Việt Nam hiện nay, đề tài cấp Nhà nước, TS. Nguyễn Quốc Tuấn, chủ nhiệm, Hà Nội, Tài liệu lưu hành nội bộ.
12. Nguyễn Hữu Vui (1994),“Tôn giáo và Đạo đức” trong Những vấn đề tôn giáo hiện nay, Nxb. Hà Nội.
Website:
  1.  http://mattran.org.vn
  2.  https://www.tienphong.vn
  3.  https://vnembassy-vientiane.mofa.gov.vn
  4.  https://giacngo.vn
 
* Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
[1] Người Việt Nam ở Lào có nhiều cộng đồng tộc người khác  nhau như kinh, Hmông,… tuy nhiên, trong khuôn khổ của bài viết, chúng tôi chỉ khảo cứu cộng đồng người Việt (là người kinh) hiện đang sinh sống tại Lào. Cộng đồng người Việt theo Phật giáo là chính.
[2] Nguyễn Duy Thiệu,(2008). Di cư và chuyển đổi lối sống trường hợp cộng đồng người Việt ở Lào. Nxb Thế giới, Hà Nội, tr 193-194.
[3] Nguyễn Văn Thoàn, (2019), Văn hóa Phật giáo trong đời sống của người Việt ở Lào. Nxb văn hóa – Văn nghệ, TP. HCM, tr 38.
[4] Nguyễn Duy Thiệu, (2008),Sđd, tr 207.
[5] Nguyễn Duy Thiệu, (2008), Sđd, tr 194.
[6] Phạm Đức Thành, (2008), Cộng đồng người Việt ở Lào trong mối quan hệ Việt Nam – Lào. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr 80.
[7] Nguyễn Duy Thiệu, (2007), “Cộng đồng người Việt tại Lào sinh tôn và giữ gìn bản sắc”, Tạp chí  Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2, tr 3-13.
[8] Phạm Đức Thành, (2008), Sđd, tr 187.
[9] Nguyễn Văn Thoàn, (2019), Sđd, tr 43-63.
[11] Viện Nghiên cứu Tôn giáo, (2015). “Phát huy giá trị của tôn giáo nhằm xây dựng và nâng cao đạo đức, lối sống con người Việt Nam hiện nay„đề tài cấp Nhà nước, TS. Nguyễn Quốc Tuấn, chủ nhiệm, Hà Nội, Tài liệu lưu hành nội bộ, tr 35-48.
[12] Nguyễn Tài Thư chủ biên. Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997, tr. 104
[13] Phần này chúng tôi tổng hợp lại nghiên cứu của TS. Nguyễn Quốc Tuấn viết trong Viện Nghiên cứu Tôn giáo, (2015). Sđd, tr 79-89.
[14] Thập Thiện Nghiệp Đạo Kinh  gồm: 1. Không sát sinh, bằng cách bất bạo động và thực hiện lòng từ bi với tất cả chúng sinh; 2. Không trộm cắp, bằng cách sống lương thiện; 3. Không tà dâm, bằng cách thực hành hạnh thanh tịnh; 4. Không nói dối, bằng cách sống thành tín; 5. Không nói thêu dệt, bằng cách nói năng cởi mở; 6. Không nói hai chiều, bằng cách nói thân hữu; 7. Không nói ác khẩu, bằng cách nói lịch sự và cao đẹp; 8. Không tham lam, thực hiện hạnh bố thí; 9. Không hận thù, thực hiện lòng khoan dung, kiên nhẫn; 10. Không si mê, thực hiện trí tuệ trong sáng.
[15] Nguyễn Hữu Vui (1994),“Tôn giáo và Đạo đức” trong Những vấn đề tôn giáo hiện nay, Nxb. Hà Nội, tr.155.
[16] Thích Minh Châu (1993), Diễn văn khai mạc hội nghị Đạo đức Phật giáo trong thời hiện tại, trong Đạo đức Phật giáo trong thời đại. Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, tr.1.
[17] Hoàng Văn Chung chủ biên, (2019). Giá trị và chức năng cơ bản của Phật giáo trong xã hội Việt Nam hiện nay. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr37.
[18] Viện Nghiên cứu Tôn giáo, (2015). Sđd, tr 161-162.
[19] Nguyễn Văn Thoàn, (2019). Sđd, tr 173-174.
[20] Nguyễn Duy Thiệu, (2008). Sđd, tr 335.
[21] Nguyễn Văn Thoàn, (2019), Sđd, tr 183.
[22] Nguyễn Văn Thoàn, (2019), Sđd, tr 190.
[23] Nguyễn Văn Thoàn, (2019), Sđd, tr 203-210.
[24] Viện Nghiên cứu Tôn giáo, (2015), Sđd, tr 172-178.
[25] Nguyễn Văn Thoàn, (2019). Sđd, tr 154-169.
[27] Nguyễn Văn Thoàn, (2019), Sđd, tr 104.
[28] https://vnembassy-vientiane.mofa.gov.vn/.../Gắn-văn-hóa-tâm-linh-
[29] https://giacngo.vn/tuvien/chuavnnuocngoai/2008/11/20/77421A/
[30] https://vnembassy-vientiane.mofa.gov.vn/.../Gắn-văn-hóa-tâm-linh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây