ĐƯỜNG VỀ CÕI PHẬT

Thứ hai - 09/12/2019 01:48
                                                    ĐƯỜNG VỀ CÕI PHẬT
                                                                       Đại tá Trần Phong*
                                                                                                      
   Chiến trường xưa Luang Prabang luôn gắn bó với Thiếu tướng Bùi Minh Thứ, Cựu đại đội trưởng đại đội pháo binh 168 - Quân khu Tây Bắc. Nơi đây, miền đất cổ Lào - Lạm Xạng là địa danh đã để lại cho anh nhiều ấn tượng sâu sắc trong thời gian làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào. Những ký ức trận mạc luôn khắc sâu trong tâm trí anh. Niềm vui thắng trận và cả những khoảng khắc bi hùng luôn đeo bám anh suốt cuộc đời binh nghiệp. Khi được nghỉ hưu, người cựu đại đội trưởng pháo binh lại càng đau đáu nỗi nhớ thương với những người đồng đội vẫn chưa thể trở về!
   Tình đất, tình người, tình bạn chiến đấu của những trận đánh năm xưa, đặc biệt là trận phối hợp giữa pháo binh với đặc công đánh vào sân bay Luang Prabang đã trở thành nỗi nhớ khôn nguôi với anh. Gần nửa thế kỷ qua, những ký ức ngày ấy luôn thôi thúc anh trở lại, thôi thúc anh hãy làm cái đó cho những người đồng đội vẫn chưa trở về!
   Hôm nay anh đã đưa chúng tôi trở về cố đô nước Bạn, anh tâm sự:
   "… Rạng sáng ngày 21/3/1971 đúng giờ “G”, hỏa lực của đại đội anh đã cấp tập trút lửa đạn vào sân bay quân sự của địch tại Luang Prabang. Cách đó không xa, bộ đội đặc công tập kích căn cứ Phu San nơi đồn trú của một tiểu đoàn địch bảo vệ sân bay. Đai đội đặc công 3[1] được tăng cường do tiểu đoàn trưởng Trương Mực chỉ huy và anh Hoàng Trọng Xén là đại trưởng đã ra lệnh cho bộ đội từ vị trí áp sát mục tiêu đồng loạt xung phong. Thủ pháo, lựu đạn được các chiến sỹ đặc công bất ngờ tung vào các công sự vào ổ đề kháng của địch. Những ánh chớp, những tiềng nổ liên tục, liên tục đan sen chùm lên các mục tiêu địch. Ít phút sau các anh đã nhanh chóng làm chủ trận địa. Kết thúc trận đánh, ta làm thiệt hại nặng tiểu đoàn địch bảo vệ sân bay tại Phu San, diệt 64 tên. Hướng sân bay của địch, trên 50 sỹ quan và lính địch bị diệt, 7 máy bay bị trúng đạn pháo, toàn bộ các kho bom đạn, xăng dầu của địch bị phá hủy, ta không có bất cứ thương vong nào. Trên Phu San, trong lúc 12 tay súng đặc công đang tiến hành thu dọn chiến trường, địch bất ngờ dùng một lực lượng lớn phản kích, các chiến sỹ đặc công đã ngoan cường chiến đu quyết liệt, phía sau ta đã nỗ lực chi viện nhưng gặp nhiều bất lợi. Do tương quan lực lượng quá chênh lệch, trận địa bị địch khống chế. 7 chiến sỹ của ta đã anh dũng hy sinh, 1 bị thương, 4 người còn lại buộc phải mở “đường máu” thoát ra. Trên đường lui quân, 2 người được phân công cõng 2 đồng đội[2]. Hai người còn lại làm nhiệm vụ mở đường vừa đánh trả địch vừa bảo vệ cho cả tổ rút ra an toàn.
   Chiến tranh qua đi, nổi khắc khoải, niềm thương tiếc đồng đội cứ day dứt khôn nguôi trong lòng những người còn sống. Sáu đồng đội hy sinh còn nằm lại trận địa năm xưa . Nhiều năm sau, thiếu tướng Bùi Minh Thứ cùng đồng đội đã nhiều lần trở về nơi đây để thăm hỏi, tìm kiếm đồng đội. Vẫn biết là tìm trong vô vọng, ký ức về trận đánh năm xưa cứ đeo bám mãi anh… Làm gì cho đồng đội?
   Trăn trở, nghĩ suy nhiều đêm không ngủ, anh luôn ấp ủ ý tưởng tri ân đồng đội theo phong tục Phật giáo. Bàn bạc với anh em đồng đội thưở ấy còn lại sau chiến tranh và được sự đồng thuận cao của mọi người. Với vai trò là trưởng Ban liên lạc quân Tình nguyện Hà Nội anh và mọi người cùng góp công sức, tiền bạc và thời gian, vận động những người hảo tâm hỗ trợ tổ chức đưa đón thân nhân các gia đình liệt sỹ cùng các Cựu chiến binh quân Tình nguyện trở về Phu San dâng hương, làm lễ vái vọng, cầu siêu và đưa bài vị của 6 liệt sỹ vào thờ tại chùa Phật Tích.
   Chùa Phật Tích - ngôi chùa Việt ở cố đô Luang Prabang cũng giống như hàng trăm ngôi chùa khác trên đất nước Triệu Voi, có khác là sư ông chủ trì ngôi chùa lại là người Việt Nam. Ông và các Phật tử rất trân trọng tấm lòng của những người lính con dân đất Việt. Khi thiếu tướng Bùi Minh Thứ đặt vấn đề gửi các liệt sỹ vào thờ cúng nơi đây. Vị sư ông rất xúc động và ông luôn tận tâm, tận lực, suốt cả trước, trong và sau lễ cầu siêu đưa liệt sỹ vào an nghỉ nơi đây. Sáu bài vị thờ sáu liệt sỹ quân tình nguyện Việt Nam được ông xếp đặt trang trọng trong một gian riêng của ngôi chùa đã nói lên sự trân quý những giá trị cao đẹp của cả người sống và những người đã khuất núi vì nghĩa lớn. Cũng từ năm tháng đó, nhiều đoàn cựu chiến binh quân tình nguyện Việt Nam cũng như các đoàn khách từ Việt Nam đến Luang Prabang thăm viếng, hay đi công tác đều dành thời giờ tới chùa Phật Tích thắp hương dâng lễ để tưởng nhớ các anh hùng liệt sỹ. Bà con Việt kiều làm ăn sinh sống ở cố đô Luang Prabang và các vùng lân cận cũng như các cháu lưu học sinh Việt Nam tại Luang Prabang cứ ngày rằm, mồng một lại cùng nhau đến dâng hương lễ chùa, ai cũng dành đồ lễ riêng để tri ân những người lính Tình nguyn Việt Nam đã vì nhiệm vụ quốc tế cao cả mà hy sinh quyên mình cho hai tổ quốc Việt Nam và Lào.  Xin cầu mong cho linh hồn các anh được siêu thoát nơi cõi Phật!
   Cũng chính trong buổi lễ tổ chức dâng hương vái vọng trên núi Phu San, và sau là lễ cầu siêu đưa các liệt sỹ từ Phu San trở về chùa Phật Tích, thiếu tướng Bùi Minh Thứ đã nghẹn ngào gọi tên đồng đội của mình:
“Đích; Bình; Bái; Bỉnh; Lựu; Cấu ơi?
Siêu thoát vong hồn hiện về hương khói!”
   Máu các anh đã đổ, nỗi mất mát không gì bù đắp nổi nhưng hồn thơ của người lính già khi khóc bạn đã không bi lụỵ, vẫn như thì thầm thủ thỉ động viên nhau, xem như bạn đang trong giấc ngủ và có lời hát ru của sông, của núi trên đất nước Triệu voi!
“Phu San ơi đất ấm các anh nằm
Sông núi nước Lào ru hát ngàn năm”
Khi đã đưa được bài vị các liệt sỹ về với chùa Phật tích, phần nào anh cũng tạm yên lòng:
“Giờ đây đất đã hồi đất đã hồi sinh
Hương hồn liệt sỹ sinh linh địa đàng
Nay về cõi phật khai quang
Ngàn thu tọa lạc thiên đàng mãi xanh”
Thơ anh đọc lên, trái tim những người lính già thổn thức, mắt cay ngấn lệ, tâm trí như đang bồng bềnh trong chốn tâm linh. Thơ anh đưa những người lính trận, bạn bè cùng các thế hệ trẻ trở về những năm tháng bi tráng. Không có cuộc chiến nào, dẫu là bên thắng trận cũng không thể không để lại máu xương trên chiến trường và cướp đi bao nước mắt và cả sự mòn mỏi đợi chờ của những người mẹ mất con, vợ mất chồng, con mất cha, anh em xa cách. Đồng đội còn lại sau cuộc chiến, luôn canh cánh trong lòng nỗi nhớ thương những người đồng chí đã không thể trở về. Sự hy sinh của các anh là những cái chết hóa thành bất tử. Các anh đã xứng đáng đội quân Cụ Hồ, các anh đã góp phần thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Giúp bạn là tự giúp mình” 
“Dòng Mê Kong song dạt dào vỗ nhẹ
Nhạc chiêu hoonfhai tổ quốc ghi công”
Thơ anh đã nói lên tất cả!
   Hai bài thơ: “Lên Phu San viếng đồng đội” và “Về với cõi phật” ra đời trong một tâm thức như thế. Ngày 10/4/2016 trong chuyến trở lại chiến trường xưa, thiếu tướng Bùi Minh Thứ đã đưa chúng tối tới thăm chiến trường năm xưa và trở về dâng hương tại chùa Phật Tích. Đứng trước gian thờ 6 bài vị liệt sỹ quân tình nguyện, anh đã đọc cho chúng tôi nghe hai bài thơ viết về 6 liệt sỹ đó.
Trân trọng giới thiệu với các Cựu chiến binh và CGQS Việt Nam cùng bạn đọc hai bài thơ của thiếu tướng Bùi Minh Thứ:

LÊN PHU SAN VIẾNG ĐỒNG ĐỘI
Trận đánh đêm tháng ba, bảy mốt
Tiểu đoàn đặc công diệt "chốt" Phu San
Mũi đánh chủ công từ phía Nậm Khàn
Lực ta mỏng địch tăng quân phản kích
Sáu liệt sĩ bị rơi vào tay địch

Chiến tranh lùi xa nay đã bao năm
Trở lại Phu San nơi các anh nằm
Thắp nén nhang mà hận lòng vì muộn
Khói nhang bay thơm cả cánh rừng
Rượu quê thuốc trà hoà vào với đất
Chút quà quê và tấm lòng chân thật
Lúc xung trận chẳng nghĩ xuy còn mất
Chiến trường đi nếm mật nằm gai
Tổ quốc bình yên thương các anh nằm lại
Đêm ấy Phu San nhớ mãi không quên
Xin các anh cho đồng đội gọi tên
Đích, Bình,Bái, Bính, Lựu, Cấu ơi?!
Siêu thoát vong hồn hiện về hương khói
Cho thoả cõi lòng bao năm mong đợi
Đã bốn mươi năm trở lại hôm nay

Bình minh lên Mường Luông ngày mới
Dòng Mê Kông vẫn mãi chảy suôi
Chở phù xa về đồng quê đất Việt
Nơi các mẹ mắt mờ, tóc rụng, chân run
Vẫn mỏi mòn chờ tin con tháng năm

Phu San ơi đất ấm các anh nằm
Sông núi nước Lào ru hát ngàn năm
Mai đồng đội trở về đất Việt sa xăm
Gió, cát, bụi cũng theo về quê mẹ
Bên gốc Chăm Pa khấn cầu khe khẽ
Phút chia xa hàng lệ ngập tràn mi
Đồng đội Việt Lào đang làm tất cả
Mong các anh sớm về đất tổ quê cha
Các anh là rừng hoa tươi thắm
Thơm mãi ngàn năm đất Bắc Lào
Dòng Mê Kông sóng dạt dào nhẹ vỗ
Nhạc chiêu hồn hai tổ quốc ghi công!
(Phu San, mùa Thu 2011 - Thiếu tướng Bùi Minh Thứ)


Bài thơ: VỀ VỚI CÕI PHẬT

Non cao tỏa bóng nậm U
Bắc Lào hoa Cúc rừng thu rực vàng
Bốn mươi năm lẻ muộn màng
Vẫn chưa về với nghĩa trang quê nhà

Đường sang nước bạn bao xa
Nhớ thương đồng đội thân hòa cỏ cây
Bon thù còn vọng đâu đây
Chuông ngân trầm mặc hương bay vọng lầu
Vong hồn tọa lạc những đâu
Nhập về bài vị, lễ cầu thoát siêu
Cõi chùa Phật Tích tịnh liêu
Sư ông dâng sớ thỉnh điều tâm linh
Giờ đây đất đã hồi sinh
Hương hồn liệt sỹ sinh linh địa đàng
Nay về cõi phật khai quang
Ngàn thu tọa lạc, thiên đàng mãi xanh
Mường Luang đất phật an lành
Ở nơi cõi phật tuổi xanh đời đời
Bao năm cách biệt đất trời
Thỏa lòng đồng đội một thời thương đau
Chiến tranh lùi đã xa lâu
Nhĩa tình đồng đội ân sâu bồi hồi
Mai về quê mẹ bạn ơi
Dân an quốc thái muôn nơi tự hào
Bạn ơi vĩnh tại Bắc Lào
Thiên thu luôn có mẹ Lào bên con
Mai sau đất có vuông tròn
Nghĩa tình đồng chí mãi còn bên nhau.
(MƯỜNG LUÔNG, mùa thu 2011  - Thiếu tướng: Bùi Minh Thứ)
 
 
* Cựu chiến binh Trung đoàn 866
[1] c3- thuộc tiểu đoàn 41 Quân khu Tây Bắc
[2] Liệt sỹ Nguyễn Văn Mao, quê Đan Phương - Sơn Tây, hài cốt anh sau này được quy tập đưa về mai táng ở nghĩa trang Tông Khao Điên Biên; chiến sỹ bị thương là Lù Bình người dân tộc Thái ở Sơn La hiện anh còn sống

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây