CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở VIÊNG CHĂN GIAI ĐOẠN CUỐI THẾ KỶ XIX – NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

Thứ hai - 09/12/2019 01:55
CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở VIÊNG CHĂN  GIAI ĐOẠN CUỐI THẾ KỶ XIX – NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở VIÊNG CHĂN
GIAI ĐOẠN CUỐI THẾ KỶ XIX – NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
 
TS. Đinh Văn Viễn
 
Tóm tắt
Cộng đồng người Việt ở Lào nói chung, ở Viêng Chăn nói riêng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, xã hội Lào, là cầu nối cho mối quan hệ Việt – Lào. Việc di cư của người Việt tới Lào đã diễn ra từ lâu trong lịch sử. Từ thời phong kiến đã có người Việt di cư sang Lào nhưng mang tính tự phát, diễn ra lẻ tẻ, số lượng ít. Từ cuôi thế kỷ XIX, việc di cư của người Việt sang Lào diễn ra mạnh. Từ đó hình thành nên công đồng người Việt ở Viêng Chăn khá đông đảo. Đến năm 1943, số người Việt ở Viêng Chăn đông đảo, chiếm tới 53% dân số của thành phố.
Cộng đồng người Việt ở Viêng Chăn đến từ nhiều địa phương của Việt Nam nhưng đã đoàn kết, thành lập các làng, xóm của người Việt. Tại các làng xóm này, cư dân người Việt đã đoàn kết, giữ gìn văn hóa của mình, được thể hiện qua việc dùng tên các danh nhân, địa danh của Việt Nam để đặt tên đường, hình thành bộ máy quản lý làng xóm, thành lập ra các Hội để tương trợ và giúp đỡ nhau,… đặc biệt, người Việt ở Viêng Chăn giữ gìn văn hóa truyền thống của mình, tôn giáo tín ngưỡng của mình. Chùa Bàng Long, chùa Phật tích,… được thành lập. Các ngôi chùa này trở thành trung tâm sinh hoạt, đoàn kết của người Việt tại Viêng Chăn, tại Lào, là sợi dây kết nối họ với quê hương, bản quán Việt Nam.
Từ khóa: Cộng đồng người Việt, Viêng Chăn, Phật giáo, cuối 19 nửa đầu thế kỷ 20


1. Khái quát về Viêng Chăn
Viêng Chăn theo nguyên gốc tiếng Lào có nghĩa là "mặt trăng", "thành phố của Mặt Trăng". Qua nghiên cứu của các nhà sử học, Viêng Chăn được xác định ban đầu là nơi định cư của người Khmer cổ, sống tập trung quanh một ngôi đền Hindu.
Ở các thế kỷ XI và XII, khi người Thái thâm nhập vào vùng Đông Nam Á từ phía Nam Trung Quốc, một số người Khmer còn lại trong vùng đã xua đuổi khỏi đó. Năm 1354, khi vua Phạ Ngừm lập nên vương quốc Lan xang và Viêng Chăn là một thành phố quan trọng. Đến năm 1560, Viêng Chăn chính thức thủ trở thành thủ đô của vương quốc Lan xang. Năm 1713, khi Chămpaxắc tuyên bố tách ra thì nước Lạn Xạng bị chia thành ba tiểu vương quốc gồm Viêng Chăn, Luổng Phạbang và Chămpaxắc[1]. Năm 1779, Viêng Chăn bị viên tướng Ayuthaya là Phraya Chakri chinh phục và biến thành một chư hầu của Ayuthaya. Đầu thế kỷ XVIII, Chậu A Nụ tiến hành khởi nghĩa chống lại Ayuthaya. Cuộc khởi nghĩa thất bại, Viêng Chăn bị xâm chiếm vào năm 1827. Dân cư bị người Ayuthaya bắt, biến thành nô lệ và vì thế Viêng Chăn bị bỏ hoang, tiêu điều. Thời cận đại, thực dân Pháp thực hiện xâm lược Đông Dương. Thôn tính xong Campuchia (1863) và Việt Nam (1883), thực dân Pháp tiếp tục xâm lược Lào. Ngày 3 tháng 10 năm 1893, Hiệp ước Pháp - Xiêm được ký. Xiêm nhường cho Pháp tất cả lãnh thổ phía đông tả ngạn sông Mê Kong. Vậy là sau 115 năm bị Xiêm đô hộ thì Lào lại bị chia cắt làm đôi, phần lớn lãnh thổ vẫn bị Xiêm cai trị, còn các mường ở phía tả ngạn sông Mê Kong bị sát nhập vào Liên bang Đông Dương thuộc Pháp. Năm 1899, Lào trở thành một xứ nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Pháp. Viêng Chăn trở thành thủ phủ của xứ Lào. Trải qua quá trình đấu tranh gian khổ chống Pháp, chống Mỹ, đất nước Lào hoàn toàn độc lập vào năm 1945. Theo quyết định của chính phủ Lào, thành phố Viêng Chăn là thủ đô của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
Thành phố Viêng Chăn nằm ở tả ngạn sông Mê Kông ở miền Trung nước Lào, phía Bắc, phía Đông của  Viêng Chăn giáp với các huyện Xa na kham, Phơn Hông, Thụ lạ khôn thuộc tỉnh Viêng Chăn và Thả phạ bất, tỉnh Bơ li khăm xay.
Hiện nay, Viêng Chăn có diện tích 3.920 km2 chiếm 1,7% diện tích nước Lào với 9 huyện là: Chanthabuly, Sikhottabong, Saysettha, Sisantanak, Hadsaifong, Fakngum, Naxaithong, Sangthong, Saythany.  Đây là nơi sinh sống của 46 dân tộc, trong đó có ba bộ tộc lớn là Lào Sủng, Lào Thâng và Lào Lùm. Lào Lùm chiếm 96,26%, Lào Sủng là 2,44% và 0,82% là dân tộc Lào Thâng . Người nước ngoài chiếm 0,46%[2]. Theo kết quả Tổng điều tra dân số năm 2015,  Viêng Chăn có dân số là 820.940 người[3].   
Về tôn giáo tín ngưỡng, ở Viêng Chăn hiện nay có tới 89% dân số theo đạo Phật. Hàng loạt các ngôi chùa lớn đẹp nhất Lào như: chùa Sisaket, chùa Ong Teu Mahavihan, chùa Sỉ Muông, Hor Phra Keo,....
2. Cộng đồng người Việt ở Viêng Chăn cuối thế kỷ XIX – nửa đầu thế kỷ XX
Việc di cư của người Việt tới Lào đã diễn ra từ lâu trong lịch sử. Sử sách có ghi chép về việc người Việt di cư đến Lào dưới thời phong kiến nhưng mang tính tự phát, diễn ra lẻ tẻ, số lượng ít. Vì thế, phải đến cuôi thế kỷ XIX, từ khi thực dân Pháp đặt ách thống trị ở Lào thì việc di cư của người Việt sang Lào diễn ra mạnh với số lượng đông đảo.
Dưới thời cai trị của Toàn quyền Paul Doumer (1902 – 1907), chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất đã được triển khai ở Đông Dương. Do Lào là một xứ có dân cư thưa thớt, dân cư lại sống chủ yếu ở vùng nông thôn, miền núi nên Pháp rất cần lượng lớn lao động phục vụ cho việc khai thác thuộc địa, quản lý ở Lào. Đồng thời, để thực hiện chính sách “chia để trị” của mình, thực dân Pháp đã tuyển lính, viên chức người Việt để xây dựng lực lượng quân đội, cảnh sát, làm thư ký, thông ngôn, giáo viên, … tại Lào. Vì vậy, người Việt làm việc ở Lào tăng lên nhanh chóng.
Năm 1908, quân số lính khố xanh ở xứ Lào là 690, trong đó người Việt là 300, người Lào là 390. Lính lính khố xanh người Việt đóng ở Thượng Mê Công là 70 lính, Saravane là 70 lính, Viêng Chăn 40 lính, còn lại một số ít có mặt ở khắp các tỉnh của Lào, Luông Pha Băng, Trấn Ninh, Mường Hou, Sầm Nưa, Savanakhẹt, Khăm Muộn, Attôpư, Bassac, Khổng[4]. Những người Việt tham gia vào đội ngũ lính khố xanh, khố đỏ phục vụ ở Lào có nguồn gốc chủ yếu ở vùng Bắc Bộ, đặc biệt là những vùng quê nghèo, đất chật người đông như Nam Định, Thái Bình, Hưng Hóa. Trong hồ sơ lưu trữ của chính quyền thực dân còn lưu lại danh sách những người lính tình nguyện sang Lào ở các làng quê này. Khi đến Lào, lính khố xanh người Việt tập trung ở Thượng Mê Công, Saravane, Viêng Chăn còn các thư ký, giáo viên y tá tập trung ở một số thành phố lớn như Viêng Chăn, Thà Khẹt, Savanakhẹt.
Cho đến năm 1910, “người Việt hiện nay mới chỉ có tất cả 4.000 người trong tất cả các tỉnh của Lào, tuy nhiên sẽ tăng lên một số lượng lớn vào một ngày nào đó có con đường sắt cho phép họ vận chuyển từ sông Mê Công sang Trung Kỳ”[5]. Năm 1921, số người Việt ở Lào là 9500 người[6]. Năm 1931 là 19.000 người, năm 1936 là 27.000 người. Năm 1943, số lượng người Việt ở Lào đã tăng lên gấp hơn 10 lần so với năm 1910 lên đến 44.500 người[7]. Như vậy thời kỳ thuộc Pháp người Việt chiếm số lượng không nhỏ trong dân số Lào đây là đặc điểm xã hội Lào từ thời Pháp thuộc. Tính đến năm 1969, số Việt-kiều sinh sống tại hai nước Miên và Lào là 438.250 người gồm 400.000 người ở Miên và 38.250 người ở Lào[8].
Sau khi thực dân Pháp rút khỏi Lào, thời kỳ thuộc Mỹ số lượng người Việt sinh sống tại Lào khó thống kê chính xác. Thời bình theo thỏa thuận giữa hai Chính phủ Việt Nam và Lào Chính phủ Việt Nam đã điều động một số cán bộ người Việt sang Lào thực hiện nhiệm vụ giúp Lào xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng khi các công trình hạ tầng một bộ phận nhỏ công nhân đã chủ động xin định cư tại Lào. 
Như vậy, nếu như tính từ năm 1921 ở tỉnh Viêng Chăn có khoảng 3.200 người trên tổng số 9500 người Việt sinh sống ở Lào trong năm này[9]. Đến năm 1935, nhận thấy xu thế sống tập trung thành làng xóm của người Việt khi di cư đến Lào, Khâm sứ Lào đã ban hành Nghị định số 598 ngày 31/05/1935, quyết định việc thành lập các làng của người Việt ở các địa phương của Lào. “Tại Viêng Chăn, thành lập 03 làng đó là: làng Ylay – Kèo, thuộc Tà xẻng Nakha, Mường Viêng Chăn; làng Nakha – Kèo, Tà xẻng Nakha, Mường Viêng Chăn; làng Paksane – Kèo, Tà xẻng Patsoum, Mường Viêng Chăn”[10]. Năm 1936, "theo bản thống-kê của tòa Khâm sứ Ai lao thì dân số thủ đô Viêng Chăn lên tới 80.000 người mà người Việt đã chiếm tới 23.000 người gồm nhiều thành-phần như trí-thức, thương-gia và lao-động"[11]. Đến năm 1943, số người Việt ở Viêng Chăn đông đảo, chiếm tới 53% dân số của thành phố[12]. Theo thống kê của Đại sứ quán Việt Nam cộng hòa tại Viêng Chăn vào năm 1966 thì tổng số người Việt tại Ai-Lao có thể ước chừng 35.000 người ở rải rác khắp nơi, trong đó ở Viêng Chăn là 15.000 người[13]. Số người Việt sống tại Lào vào năm 2012 là 30.000 người[14]. Và tính đến năm 2018, số người  Việt ở Viêng Chăn là 8.000 người[15], cư trú rải rác ở 11 địa điểm xung quanh thủ đô Viêng Chăn, đó là Wat chăn, Thông conkhăm, Xỉ xawắt, Sỉ Mong, Bản Phai (Đông Pala), Phôn Xavẳn, Khủa Luổng, Wat Tầy, Noỏng Tên, Phôn Xay, Thả Ngỏn.
Người Việt đến định cư ở Viêng Chăn có nguyên quán từ nhiều tỉnh khác nhau của Việt Nam. Ví dụ ở miền Bắc từ các tỉnh Hà Tây (cũ), Hà Nam, Sơn Tây, Hải Phòng, Hải Dương. Miền Trung và miền Nam có các tỉnh như Thừa Thiên - Huế, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Sài Gòn, Quy Nhơn….  Đặc điểm cư trú của người Việt ở Viêng Chăn cũng như nhiều địa phương khác ở Lào sống cụm lại với nhau thành những làng, xóm. “Làng đầu tiên được thiết lập ở Lào là làng Xiềng Vang tại huyện Nỏng Bốc, tỉnh Khăm Muộn”[16]. Theo tác giả Tùng Vân cho biết: “Người Việt ở Viêng Chăn được chính quyền dành cho một khu ở tây bắc thành phố, lập thành một làng lấy tên là Làng An Nam. Sau đó, tuy không còn làng, nhưng ở Viêng Chăn hình thành những cụm dân cư của người Việt:
Xóm Si Mương, ở gần khu chùa Si Mương, tại trung tâm Viêng Chăn, còn có tên là Xóm Đạo. Tại đây có hơn 400 gia đình Công giáo, phần lớn là những gia đình người Việt sinh sống ở Lào nhiều đời. Sau năm 1945, một số giáo dân ở Bùi Chu, Phát Diệm cũng di cư sang đây.
Xóm Khua Đinh nằm cạnh Chợ Sáng, có 600 gia đình thuộc nhiều thành phần như : Công chức, giáoviên, công nhân. Một phần theo Công giáo và phần lớn theo Phật giáo. Đa số người Việt ở xóm Khua Đinh là công nhân nghèo, cuộc sống khó khăn.
Xóm Chợ Mới (Chợ Sáng) có gần 300 gia đình, sống quanh Chợ Mới, hầu hết là các gia đình tiểu thương sống bằng việc mua bán hàng rong tại Chợ.
Xóm Tân Ấp ở ngay phía bắc Viêng Chăn, cạnh Sở Vô tuyến điện nên còn gọi là khu Sái Lôm. Xóm Tân Ấp có 200 gia đình, chủ yếu là công nhân.
Xóm Xiêng Khoảng ở ngay trung tâm Viêng Chăn, đối diện với xóm Tân ấp. Xóm được thành lập vào năm 1957, có hơn 100 gia đình người Việt từ Xiêng Khoảng di cư đến. Cư dân đều là tiểu thương, viên chức.
Xóm Chợ Chiều ở về phía tây bắc Viêng Chăn, gần chợ nhỏ thường họp vào buổi chiều (tiếng bản Lào là Talat Leng). Xóm Chợ Chiều có gần 500 gia đình, ở đan xen với người Lào. Đa số người Việt ở xóm Chợ Chiều là tiểu thương, bán hàng tại chợ.
Xóm Đông Palane là một xóm mới được lập sau sự kiện Đại úy Kong-Le cướp chính quyền vào năm 1962. Có tới 120 gia đình người Việt sống ở đây.
Tại các xóm này, người Việt đặt tên các con đường bằng những tên địa danh của Việt Nam để tưởng nhớ quê hương mình. “vết-tích cũ như các con đường trong khu nầy vẫn còn mang những tên thuần-túy Việt-Nam như: đường Sài gòn, đường Tourane, đường Hải Phòng, đường Hà-Nội,…”[17].

Lược đồ thủ đô Viêng Chăn, có những xóm của người Việt ở[18]
Quản lý mỗi làng là các chức Hương trưởng, Chánh Tổng, Bang trưởng. Những chức này do người Việt nắm giữ. Các Hương trưởng, Chánh Tổng và Bang trưởng này lại đặt dưới quyền của Tà xẻng, Nai bản và Chậu Mường người Lào. “Những người An Nam cư trú trong chu vi thành phố Viêng Chăn được cử một Bang trưởng làm đại diện bên nhà cầm quyền”[19]. Tiêu chuẩn chọn Bang trưởng là các cựu viên chức, cư trú tại Viêng Chăn tối thiểu 5 năm, có trình độ học vấn, từ 25 tuổi trở lên, không mắc tiền án, tiền sự. Bang trưởng có hai vị phó trợ giúp đặt dưới quyền trách nhiệm thực thi quyền hạn của ông ta về các công việc. Bang trưởng có quyền chọn, giới thiệu Bang phó để Công sứ, Đốc lý ra quyết định bổ nhiệm[20].
            Không chỉ tập trung thành xóm làng để sống, những người Việt sinh sống trên đất Lào còn tập trung thành các Hội để tương trợ và giúp đỡ nhau. Điển hình nhất trong các tổ chức Hội này là “Hội Ái hữu các viên chức người Việt làm việc trong các công sở hành chính ở Lào” được thành lập năm 1919, tại Viêng Chăn với mục đích là: “phát triển giữa các Hội viên tình cảm đoàn kết, tương trợ và thắt chặt giữa họ những mối quan hệ lợi ích tương hỗ. Bảo vệ các lợi ích chung của các hội viên. Giúp đỡ các gia đình của họ. Tổ chức tang lễ cho các gia đình. Quan tâm chăm sóc các phần mộ. Tổ chức từng bước các hội nghị mở mang dân trí”[21]. Năm 1924, Hội Ái hữu các viên chức người Việt làm việc trong các công sở hành chính ở Lào  công bố điều lệ của Hội[22] với 51 điều và những quy định rõ ràng về mục đích của Hội, thành phần của Hội, các hoạt động của Hội, những quy định về Ban lãnh đạo – Ban quản trị của Hội, quyền hạn của các Ủy viên Ban Quản trị, việc thu hồi những khoản phí đóng góp của các hội viên, Hoạt động của Ban Quản trị và Đại hội đồng, các quỹ xã hội, nghĩa vụ của các thành viên đối với Hội, nghĩa vụ của Hội đối với các hội viên, sự đi lại của hội viên trong các địa phương khác nhau ở Lào, công trình mộ phần.
Theo tác giả Tùng Vân biết, tại Viêng Chăn, người Việt còn lập ra một số hội như:
An Nam tương tế thể thao hội (Association Mutuelle et Sportive des Annamites au Laos viết tắt là AMUSPORTA),
            Hội Ái hữu Việt kiều (được thành lập năm 1948, theo Nghị định số 209/Ap ngày 7 tháng 5 năm 1948 của Bộ Nội vụ Chính phủ Hoàng gia Lào cấp) qui tụ hầu hết người Việt tại Viêng Chăn để tương trợ nhau trong các dịp vui buồn, nhất là khi gia đình gặp tang ma. Hội Ái hữu Việt kiều đã mua được một khu đất rộng hơn 70.000 m2 để làm nghĩa trang cho Việt kiều tại Viêng Chăn[23].
            Năm 1962, Hội Ái hữu Việt kiều và Hội Thanh niên thể thao Việt kiều sát nhập làm một.
            Hội Phật giáo Việt Nam được thành lập, giai đoạn đầu do Trịnh Văn Phú làm Hội trưởng, để chăm nom về công việc trùng tu,  xây dựng chùa.
             Hội Ái hữu Công giáo tập hợp những giáo dân theo Công giáo ở Viêng Chăn.
            Hội Phụ nữ Việt kiều do các chị, các bà nội trợ ở Viêng Chăn lập ra để tham gia công tác cứu tế xã hội tại địa phương.
            Hội thân hữu Việt - Lào do một người Lào bản xứ làm Chánh hội trưởng để  nuôi dưỡng tình thân hữu giữa hai dân tộc.
            Điều này chứng tỏ, người Việt ở Viêng Chăn nói riêng, ở Lào nói chung có tinh thần tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau.
            Người Việt ở Viêng Chăn hoạt động rất đa dạng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội.
            Trong bộ máy chính quyền ở Viêng Chăn có số lượng khá lớn các viên chức người Việt. “Ở các Tòa Khâm sứ, Kho bạc, Sở công chính, Sở cẩm của Chính phủ và trong Sở hiến binh của Viêng Chăn có một số lượng lớn các viên thư kí thông ngôn và ký lục người Việt. Trong các Sở y tế, trạm cấp cứu của Lào cũng có một bộ phận người Việt làm thầy thuốc, y tá chính, y tá tập sự, thư kí; trong các Sở giáo dục của Lào, người Việt cũng làm thư kí hoặc làm giáo viên. Bên cạnh đó người Việt còn làm lính khố xanh, khố đỏ, cảnh sát, mật thám trong Đội lính khố xanh và trong các Đội hiến binh ở các tỉnh của Lào”.[24] “Tính đến thời điểm năm 1937, người Việt chiếm 47% số vị trí các công chức cao cấp người bản xứ trong bộ máy hành chính tại Lào”[25].
            Hoạt động kinh tế của người Việt chủ yếu trong lĩnh vực buôn bán, thủ công nghiệp, làm công nhân trong các nhà máy, ở các hầm mỏ, xây dựng, làm đường,… Số người làm nông nghiệp rất ít. “Hiệu buôn nào không phải là của Hoa kiều thì là của Việt kiều. Không có hiệu buôn nào của người Lào cả… Ra ngoài chợ thì thấy ai là người bán hàng? Lại chỉ là người Việt,… Mà rau quả trồng ra không phải do người Lào trồng mà lại do người Việt trồng. Như ở Viêng Chăn, ngoài cây số 2, trồng rau, su hào, bắp cải, xà lách… để cung cấp cho thành phố Viêng Chăn là do người Việt”[26]. “Công việc làm đường (Savanakhẹt, Thà Khẹt, Viêng Chăn) 1400 lao động, trong đó có 1100 người An Nam và 300 người Lào. Thượng Lào: - Đường quốc lộ số 7 (Xiêng Khoảng), 800 lao động, trong đó 200 người An Nam, 400 người Lào, Khạ, Mèo”[27]. Một số người trở thành các nhà tư bản, như chủ nhân các hãng thầu kiến thiết, xưởng đóng đồ mộc, xưởng chữa máy… Đối với các nghề như “thợ như thợ máy, thợ điện, hớt tóc… và dân buôn bán từ các cửa hàng tại phố xá đến các sạp bán tại chợ như : thịt heo, thịt bò, người Việt đã chiếm đa số tại các thị trấn lớn tại Lào như: Vientiane, Savannakhet, Thakhet, Paksé (Riêng tại Vientiane có 20.000 người Việt trên tổng số 300.000 dân)[28].
            Về mặt giáo dục, người Việt tại Lào nói chung, ở Viêng Chăn nói riêng đã mở các trường tư thục mẫu giáo và tiểu học để dạy học cho con em người Việt, người Lào. Số học sinh là người Việt có thời kỳ chiếm tỷ lệ lớn so với tổng số học sinh của nước Lào. “Vào năm 1935, số lượng học sinh người Việt ở bậc sơ học là 1083 người, số lượng học sinh người Việt ở bậc tiểu học là 554; tỉ lệ phần trăm số học sinh được nhận chứng chỉ tiểu học Pháp – bản xứ người Việt chiếm 68%, còn lại 32% là cấp cho những học sinh người Lào[29].
            Theo lời cụ Trịnh Văn Phú[30] vào năm 1914, tại Viêng Chăn chỉ có 1 trường tiểu học gọi là “Ecole Franco-Laotienne” gồm 5 lớp, có hơn 100 học trò, lớp nhất (cours supérieur) chỉ có 15 học sinh, các lớp khác cũng chỉ khoảng hơn 20 học sinh, trong số đó có tới 40% học sinh người Việt. Trường cả thảy có 5 giáo viên, chỉ có một giáo viên người Lào tên Khou Kham, còn tất cả là người Việt, gồm các ông: Lê Văn Ngôn, Trịnh Thới Giao, Nguyễn Hữu Hạnh và Trịnh Văn Phú. Năm 1924, trường “Franco-Laotienne” phân chia làm hai trường: “Ecole Franco-Annamite” và “Ecole Franco-Laotienne”. Trường Franco-Annamite toàn học sinh Việt gồm 5 lớp học, có tới 200 học sinh và 5 thầy giáo Việt mà Trịnh Văn Phú là hiệu trưởng[31]Theo thống kê, năm 1966 của Phan Trọng Nhân, ở Viêng Chăn có 10 trường tiểu học tư thục. Riêng trường Nguyễn Du tại Vientiane gồm: 4 lớp, 5 giáo viên, 200 học sinh[32].
            Trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, người Việt ở Viêng Chăn vẫn duy trì tôn giáo, tín ngưỡng của mình nhất là việc thờ cúng tổ tiên. Ở mỗi gia đình đều có bàn thờ tổ tiên. “Đền thờ Thánh (thánh Mẫu và Đức Thánh Trần) và chùa thờ Phật lại rất phổ biến trong mọi khâu quần cư của người Việt trên đất Lào”[33].  Song song với tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên và thờ thánh Người Việt cũng theo Phật giáo. Mặc dù Phật giáo mà người Việt theo là Phật giáo Đại thừa, còn Phật giáo ở Lào là Phật giáo Nguyên thủy. Hai dòng Phật giáo này khác nhau nên khi nhờ việc di cư đến Lào họ phải tự xây dựng chùa để thờ tự. Thống kê vào những năm 60 của thế kỷ XX, số tín đồ Phật giáo ở Lào là hơn 5.000 người[34].
Người Việt tại Viêng Chăn đã xây dựng những ngôi chùa đáp ứng đời sống tâm linh của cư dân. Đó là các chùa Phật tích, chùa Bàng Long,… Chùa Bàng Long được xây dựng từ năm 1942, tại xóm Sỉ-hỏm (nay là xóm Hải-Xộc), quận Chăn-thạ-bu-ly, thủ đô Viêng Chăn. Ngôi chùa được xây dựng nên nhờ sự tín tâm của Việt Kiều đứng đầu là hai ông Trịnh Văn Phú và Đỗ Đình Tảo đã mua đất, quy hoạch và xin phép kiến lập chùa, dưới sự chứng minh chỉ đạo của Hòa Thượng Tố Liên ở chùa Quán Sứ (Hà Nội), với mục đích làm nơi tín ngưỡng tâm linh, chỗ dựa tinh thần cho kiều bào Việt Nam tại thủ đô Viêng Chăn nói riêng và nước Lào nói chung. Cuối năm 1942, xây xong ngôi nhà Tổ nhưng do khó khăn về tài chính và chiến sự xảy ra nên mãi tới năm 1945 ngôi chùa mới được khánh thành. 
            Ở Viêng Chăn, người Việt còn xây dựng một ngôi đền thờ một vị Lãnh binh của triều đình Việt Nam cử lên giúp Hoàng gia Ai-Lao. Dân chúng thường gọi là Đền Quan Lãnh. Trước đây, hằng năm chính-quyền địa phương thường cấp cho một trâu và một “mưn” nếp để cúng tế vào dịp rằm tháng bảy. Gần khu chợ Chiều của Viêng Chăn, người Việt còn dựng lên đền Đức Thánh Trần Hưng Đạo và hàng năm đến ngày giỗ, dân chúng đều tổ chức cúng tế linh đình để tưởng niệm công đức của vị anh hùng dân tộc.
            3. Đôi lời tạm kết
Nhìn chung, cộng đồng người Việt tại Viêng Chăn nói riêng, trên đất nước Lào trong giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX có số lượng đông đảo, thực sự là cộng đồng mạnh cả về kinh tế, văn hóa, xã hội. Cộng đồng người Việt ở Viêng Chăn là trung tâm của cộng đồng người Việt trên đất Lào, đã đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng đất nước Lào, được nhân dân Lào tin tưởng, gọi là bằng một danh từ cao quý là “Khôn Keo”, theo nghĩa tiếng bản xứ là “người ngọc”[35].
Cộng đồng người Việt trên đất Viêng Chăn giai đoạn cuối XIX nửa đầu thế kỷ XX bên cạnh việc tuân thủ luật pháp, hội nhập với văn hóa Lào vẫn duy trì những nét văn hóa của người Việt, trong đó việc thờ cúng tổ tiên, Phật giáo là những nét nổi bật nhất. Thờ cúng tổ tiên, Phật giáo như là sợi dây kết nối những người Việt khi sinh sống ở Lào và cũng là sợi dây kết nối họ với quê hương, bản quán Việt Nam.
Trong giai đoạn hiện nay, việc duy trì phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng người Việt tại Lào là cần thiết. Trong đó việc gìn giữ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, phát triển Phật giáo mạnh mẽ hơn trong cộng đồng người Việt tại thủ đô Viêng Chăn cần GHPGVN coi trọng. Qua đó nhằm xây dựng, phát triển cộng đồng người Việt ở Viêng Chăn, kết nối với các cộng đồng người Việt ở các tỉnh trên khắp đất nước Lào, tạo sự gắn kết và tăng cường tình hữu nghị Việt Nam – Lào trong bối cảnh mới.
Việc nghiên cứu về cộng đồng người Việt ở thủ đô Viêng Chăn, đặc biệt trên phương diện tín ngưỡng, tôn giáo. Trong đó, Phật giáo trong cộng đồng người Việt là một điểm then chốt cần được tìm hiểu, nghiên cứu bài bản sẽ tạo tiền đề cho việc hoạch định chiến lược phát triển Phật giáo Việt Nam trong cộng đồng người Việt Nam xa xứ của GHPGVN, đồng thời là cầu nối quan trọng giữa Chính phủ và nhân dân hai nước.  
                                                                                                Hà Nội, tháng 10 năm 2019

Tài liệu tham khảo
  1. Vũ Thị Vân Anh (2007), "Nguyên nhân và các đợt di cư của người Việt đến Lào", Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2
  2. Cục Thống kê Thủ đô Viêng Chăn (2000), Niên giám Thống kê Thủ đô Viêng Chăn 2000.
  3. Eric Pietrantoni, La population du Laos en 1943 dans son milieu géographique, Bulletin de la Société des Études Indochinoises (Sai Gon), tome XXXII, No.3, 1957.
  4. Eric Pietrantoni, La population du Laos de 1912 à 1945, Bulletin de la Société des Études Indochinoise, tome XXVIII, No.1, 1953.
  5. Gouvernement général de l’Indochine, Rapport sur la situation administrative, économique et financière au Laos durant la période 1931 - 1932, Imprimerie G.Taupin et Cie , Ha Noi, 1932.
  6. Indochine française (1924), Association amicale des employés Annamites des divers services administratifs au Laos, Ha Noi, Imprimerie Mac Dinh Tu.Phan Linh, Hồi ký của đồng chí Phan Linh (tức Phan Dị), Ghi âm ngày 24/2/1967, Tư liệu Viện lịch sử Đảng.
  7. Mahả Xila Viravông (1957), Lịch sử Lào từ thượng cổ đến giữa thế kỷ XIX, Nxb. Bộ Giáo dục, Viêng Chăn (Bản dịch lưu tại Thư viện Viện Nghiên cứu Đông Nam á).
  8. Phạm Trọng Nhân (1969), "Việt kiều tại Ai Lao", Tập san Sử - Địa, số 16, Sài Gòn.
  9. Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2016), Quá trình di cư và hoạt động chính trị - xã hội của người Việt ở Lào, Luận án tiến sĩ Lịch sử, ĐHSP Hà Nội.
  10. Hãn Nguyên (1969), "Vai trò của người Việt tại bán đảo Đông Dương", Tập san Sử - Địa, số 16, Sài Gòn.
  11. République française, Bulletin administratif du Laos année 1907, Imprimerie du Gouvernement Laos.
  12. République française, Bulletin administratif du Laos année 1934, Imprimerie du Gouvernement Laos.
  13. Nguyễn Duy Thiệu (2008), Di cư và chuyển đổi lối sống – trường hợp cộng đồng người Việt ở Lào, Hà Nội, Nxb Thế giới, Hà Nội.
  14. Nguyễn Duy Thiệu (2007), "Cộng đồng người Việt trên đất Lào sinh tồn và giữ gìn bản sắc", Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 02
  15. Tùng Vân (1969), "Việt kiều tại Ai Lao qua các thời kỳ lịch sử", Tập san Sử - Địa, số 16, Sài Gòn.

Địa chỉ liên hệ:

Đinh Văn Viễn
Trường Đại học Hoa Lư,
Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình

Đt: 0949797915; Email: dvvien@hluv.edu.vn

Tài khoản: 106005296448
Chủ tài khoản: Đinh Văn Viễn
Ngân hàng Công thương, Chi nhánh Ninh Bình
 
 
[1] Mahả Xila Viravông (1957), Bản dịch lưu tại Thư viện Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Lịch sử Lào từ thượng cổ đến giữa thế kỷ XIX, Nxb. Bộ Giáo dục, Viêng Chăn, tr.66
[2] Cục Thống kê Thủ đô Viêng Chăn (2000), Niên giám Thống kê Thủ đô Viêng Chăn 2000
[4] Répulique française, Bulletin administratif du Laos année 1907, Imprimerie du Gouvernement Laos, tr. 198.
[5] Gouvernement général de l’Indochine, Rapport au conseil supérieur session ordinaire de 1910, Imprimerie d’Extrême - orient, Ha Noi – Hai Phong, 1910, tr.236
[6] Gouvernement général de l’Indochine, Annuaire statistique de l’Indochine, première volume 1913 – 1922, Imprimerie d’Extrême - orient, Ha Noi, 1927, tr. 38-39.
[7] Eric Pietrantoni, La population du Laos de 1912 à 1945, Bulletin de la Société des Études Indochinoise, tome XXVIII, No.1, 1953, tr.34.
[8]Thống kê tính đến ngày 27/1/1969 của Bộ Ngoại giao VNCH trong tờ trình của Nha Văn Hóa Pháp Lý số 5467/BNG/VHPL/VK ngày 2/7/1969
[9] Gouvernement général de l’Indochine, Annuaire statistique de l’Indochine, première volume 1913 – 1922, Imprimerie d’Extrême - orient, Ha Noi, 1927, tr. 38-39.
[10] Répulique française, Bulletin administratif du Laos année 1936, Imprimerie du Gouvernement Laos, trang 150.
[11] Statistique du Laos – Résidence Supérieure du Laos I936; dẫn lại theo: Tùng Vân (19690, "Việt kiều tại Ai Lao qua các thời kỳ lịch sử", Tập san Sử - Địa, số 16,tr. 105.
[12] Eric Pietrantoni, La population du Laos en 1943 dans son milieu géographique, Bulletin de la Société des Études Indochinoises (Sai Gon), tome XXXII, No.3, 1957, trang 8.
[13] Tùng Vân (1969), "Việt kiều tại Ai Lao qua các thời kỳ lịch sử", Tập san Sử - Địa, số 16 cho biết số người Việt ở Lào cụ thể như sau: Viêng Chăn là 15.000 người, Paksé : 6.500, Savannakhet : 4.000, Luang Prabang : 1.500, Thakhek : I.500, Seno : 800, Xieng Vang : 500, Paksong : 400, Saravane : 200, Khong Sedone : 150, Attopeu : 96, Paksane : 50, Champassak : 30.

[14] Cộng đồng người Việt tại Lào mừng lễ Vu Lan

https://vov.vn/nguoi-viet/kieu-bao/cong-dong-nguoi-viet-tai-lao-mung-le-vu-lan-223176.vov

[15] Hội người Việt Nam tại Vientiane tổ chức Đại hội đại biểu khóa X

https://baoquocte.vn/lao-hoi-nguoi-viet-nam-tai-vientiane-to-chuc-dai-hoi-dai-bieu-khoa-x-74732.html
[16] Nguyễn Duy Thiệu (2008), Di cư và chuyển đổi lối sống – trường hợp cộng đồng người Việt ở Lào, Nxb Thế giới, Hà Nội, tr199.
[17] Tùng Vân (1969), "Việt kiều tại Ai Lao qua các thời kỳ lịch sử", Tập san Sử - Địa, số 16, tr.106.
[18] Dẫn theo: Tùng Vân (1969), sđd, tr.110
[19] Répulique française, Bulletin administratif du Laos année 1934, Imprimerie du Gouvernement Laos, tr.1052.
[20] Répulique française, Bulletin administratif du Laos année 1934, Imprimerie du Gouvernement Laos, tr.1052.
[21] Indochine française (1924), Association amicale des employés Annamites des divers services administratifs au Laos, Ha Noi, Imprimerie Mac Dinh Tu, tr.5.
[22] Indochine française (1924), Association amicale des employés Annamites des divers services administratifs au Laos, Ha Noi, Imprimerie Mac Dinh Tu, tr.5.
[23] Phạm Trọng Nhân (1969), "Việt kiều tại Ai Lao", Tập san Sử - Địa, số 16, tr.135.
[24] : Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2016), Quá trình di cư và hoạt động chính trị - xã hội của người Việt ở Lào, Luận án tiến sĩ Lịch sử, ĐHSP Hà Nội, tr.56.
[25] Vũ Thị Vân Anh (2007), "Nguyên nhân và các đợt di cư của người Việt đến Lào", Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2, tr. 39.
[26] Phan Linh, Hồi ký của đồng chí Phan Linh (tức Phan - Dị), Ghi âm ngày 24/2/1967, TL.Viện lịch sử Đảng, tr.6-7.
[27] Gouvernement général de l’Indochine, Rapport sur la situation administrative, économique et financière au Laos durant la période 1931 - 1932, Imprimerie G.Taupin et Cie , Ha Noi, 1932, tr.46.
[28]  Hãn Nguyên (1969), "Vai trò của người Việt tại bán đảo Đông Dương", Tập san Sử - Địa, số 16, tr.151.
[29] Geoffrey C. Gunn (1990), Rebellion in Lao: Peasant and Politics in a colonial Backwater, New York, Westview Press, pg.38.
[30] Trịnh Văn Phú sinh 1892, người Lê Sơn, Quảng Bình, cựu học sinh trường Bười. Sau khi tốt nghiệp Thành chung năm 1914, sang dạy ở trường  Ecole Franco-Laotienne . Hồi Nhật đảo chính ở Đông Dương, chính phủ hoàng gia Lào đã mời Cụ Trịnh Văn Phú làm Giám đốc Học Chánh (Directeur de l’Enseignement du Laos), thay ông Thao Nhouy từ ngày 2-6-I945. Chức Giám đốc Học chánh này lãnh đạo giáo dục tại AiLao vì lúc đó Lào chưa đặt chức Tổng trưởng. Đến ngày 18-9-1945, cụ Trịnh Văn Phú xin từ chức, nhưng không được vua Lào chấp thuận. Tới đầu năm I946,  cụ mới được chấp thuận về hưu. Sau về sống ở Sài gòn, mất tại đó. Dẫn theo: Hãn Nguyên (1969), "Vai trò của người Việt tại bán đảo Đông Dương", Tập san Sử - Địa, số 16, tr.156.
[31] Hãn Nguyên (1969), sđd, tr.153
[32] Phạm Trọng Nhân (1969), sđd, tr.136
[33] Nguyễn Duy Thiệu (2007), sđd, tr. 11
[34] Tùng Vân (1969), sđd,tr.111.
[35] Danh từ Khôn Keo (người ngọc) xuất phát từ mối quan hệ, sự giúp đỡ của nước ta với Lào từ thời phong kiến. Cư dân Lào còn truyền tụng về câu chuyện: "Vào thế kỷ thứ I7, sau khi thống nhất sơn hà, mở rộng bờ cõi, … Quốc vương SOULIGNA VONGSA liền cử sứ giả qua cầu thân cùng Vua Lê Thần Tôn ưng thuận gả Công  Chúa Ngọc Nữ cho quốc vương Ai-Lao. Để làm lễ đính hôn, Quốc vương SOULIGNA VONGSA đã hiến tặng cho Việt Nam hai tỉnh Sầm Nưa và Xiêng Khoảng. Khi qua Ai Lao theo chồng, Công chúa Ngọc Nữ đem theo một nhóm tùy tướng và thị nữ để hầu cận. Những người này được dân chúng địa phương rất nể và tặng cho danh hiệu là “Người của Công chúa Ngọc Nữ” (Khôn Khóong Nàng Kẹo). Dần dần danh từ này được gọi tắt là “Khôn Kẹo”. Thời gian trôi qua, danh từ này được truyền khẩu trong dân gian, được thay đổi theo giọng nói từng vùng nên danh từ “Khôn Kẹo” đã bị đọc trẹo ra là “Khôn Keo”.  Nguồn dẫn: Tùng Vân (1969), sđd, tr.102.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây