15. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT HUY CỘNG ĐỒNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI LÀO

Chủ nhật - 08/12/2019 22:24
MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ NHẰM
PHÁT HUY CỘNG ĐỒNG PHẬT GIÁO VIỆT
NAM TẠI LÀO
 
PGS. TS. Hoàng Thị Thơ*
Từ ngày 1-7/9/2019 lãnh đạo Ban Văn hóa TƯGHPGVN đồng phối hợp tổ chức với Ban Điều phối (viết tắt BĐP) GHPGVN tại Lào[1] tổ chức một chuyến đi khảo sát các ngôi chùa Việt cũng như gặp gỡ, tìm hiểu, chia sẻ với cộng đồng Phật giáo Việt Nam tại Lào. Đoàn khảo sát đã tới thăm 9 ngôi chùa PGVN và 4 Ban trị sự Phật giáo Lào tại một số tỉnh thành của Lào. Đây là một chuyến đi hiếm có và mang ý nghĩa đặc biệt, và còn trùng với nhiều lễ trọng của cả Việt Nam và Lào như: Quốc khánh Cộng hòa XHCN Việt Nam (2/9); ngày giỗ Chủ tịch Hồ Chí Minh (3/9), và Quốc khánh Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào (5/9).
Chuyến đi xuyên Lào này đã cho thấy bức tranh sơ bộ về Phật giáo Việt Nam tại Lào và phần nào thấy được thực trạng đời sống tâm linh của bà con Phật tử Việt Nam tại Lào với những thế mạnh cần phát huy và cả những vướng mắc cần được hỗ trợ, khắc phục của các cấp có thẩm quyền bởi hai nước Việt Nam và Lào, nhằm giúp cho PGVN tại Lào phát triển đúng vai trò, chức năng đối với đời sống tâm linh người Việt xa quê hương, và phát huy vai trò kết nối hai nước, hai dân tộc, hai nền văn hóa láng giềng truyền thống tốt hơn nữa, trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Trên cơ sở tiếp thu nhiều thành tựu đi trước về vấn đề Phật giáo Việt Nam ở Lào, đặc biệt là cuốn sách mới xuất bản tháng 9/2019 của Nguyễn Văn Thoàn với tiêu đề Văn hóa Phật giáo trong đời sống của cộng đồng người Việt ở Lào, cùng những gì thu thập được trong chuyến đi khảo sát vừa rồi, bài viết xin đưa ra một số đề xuất và kiến nghị nhằm củng cố và phát huy tốt cộng đồng Phật giáo Việt Nam tại Lào, theo một số nhóm vấn đề như sau:
1. Những đề xuất, kiến nghị về đất nước, con người và Phật giáo Lào như đối tác chiến lược toàn diện của Việt
Nam
Thứ nhất, Lào là một đất nước Phật giáo Nam tông (Theravada) ở trung tâm của bán đảo Đông Dương. Phật giáo Nam tông có mặt ở Lào từ thế kỷ 8 và tiếp tục du nhập nhiều lần từ Cambodia, Thailand và Srilanka, sau này thêm Phật giáo Bắc tông chủ yếu theo cộng đồng Việt Nam di cư sang sống ở Lào. Thế kỷ 14, vua Phà Ngừm (Fa Ngum) (1316 – 1373) đã chọn Phật giáo Thượng tọa bộ (Theravada) làm quốc giáo để thống nhất tín ngưỡng tâm linh và văn hóa của toàn dân tộc Lào, với chế độ quân chủ tập quyền. Sau khi giành độc lập (1953), quốc vương Sisavang Vong (1885 –1959) xây dựng chế độ Quân chủ lập hiến (1953 - 1975) và vẫn duy trì Phật giáo
Nam tông làm quốc giáo. Hiện tại là chế độ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào do Đảng Nhân dân Cách mạng Lào cầm quyền, tuy không có văn bản quy định vè quốc giáo, song Phật giáo Nam tông vẫn tiếp tục giữ vai trò chính. Phật giáo Lào có tính thuần nhất về hệ phái và gần như duy trì được liên tục vị trí quốc giáo về tâm linh, văn hóa, đạo đức của dân tộc Lào đến nay.
Chính vì vậy, chúng tôi cho rằng trong bối cảnh hiện nay cần chú trọng chính sách ngoại giao đặc biệt với Lào (nhất là ngoại giao tôn giáo) vừa như bạn, đồng chí, vừa như đồng minh chiến lược lâu dài không thể coi nhẹ của Việt Nam. Bởi vì Lào có chiều dài lịch sử cùng chia sẻ nhiều đặc điểm chung về tâm linh, văn hóa của các nước trong khối Đông Dương; nhất là chia sẻ đặc điểm chính trị với Việt
Nam trong cùng khối các nước XHCN. Do vậy, Phật giáo sẽ là một trong những kênh kết nối và chia sẻ ngoại giao tôn giáo một cách hòa bình, thiện chí, hiệu quả, bền vững giữa hai nước XHCN hiện nay và cả trong tương lai. 
Thứ hai, Người dân Lào có đạo và rất chân thật, hiền hòa, không bon chen, đố kỵ khiến họ dễ gần và dễ tin tưởng. Phật tử Lào chiếm đa số trong tổng dân số, họ đều thọ trì Tam quy, Ngũ giới rất cẩn mật và vẫn trân trọng cúng dường các nhà sư đi khất thực mỗi buổi sáng theo truyền thống từ nguyên thủy Phật giáo. Nhà của người Lào không quá to đẹp, nhưng chùa Lào rất cầu kỳ và trang nghiêm. Chùa Lào là các bảo tàng di dản văn hóa-tôn giáo, thường được trân trọng giữ gìn trong mỗi địa phương. Sư tăng Lào vẫn giữ hạnh khất thực vào buổi sáng, tạo nên hình ảnh đất nước, con người Phật giáo rất đẹp và bình yên.
Do vậy, đây là điểm mạnh nổi trội của con người, đất nước Phật giáo Nam tông Lào mà người Việt Nam cũng như Tăng ni, Phật tử Việt Nam ở Lào nên chú ý nhấn mạnh, tôn vinh, trân trọng và học hỏi trong các giao lưu giữa hai nước.
2. Những đề xuất, kiến nghị về người Việt
Nam (Phật tử Việt Nam) tại Lào
Hiện nay có 10 vạn người Việt
Nam ở Lào[2]. Có thể tạm chia thành ba nhóm: 1) Người Việt ở Lào, tức người mới sang và chỉ có hộ chiếu phổ thông, xu hướng nhóm này đang tăng lên; 2) Người Lào gốc Việt, tức người sang định cư từ lâu và đã có nhiều thế hệ, đã có quốc tịch Lào; 3) Việt kiều, tức người sang tương đối lâu, đã định cư và có thẻ Việt Kiều. Người Việt Nam sang Lào sinh sống, làm ăn (và cả lánh nạn) như là sang láng giềng gần và thân thiết nhất. Ba nhóm người này đều có những nhu cầu, mục đích ở những mức độ khác nhau gắn với tâm linh người Việt Nam nói chung và với Phật giáo Việt Nam nói riêng.
Nhóm 1 có nhiều vấn đề đáng quan ngại nhất, và cũng cần nhiều sự giúp đỡ nhất. Trong số đó không khỏi có những thành phần sang Lào do chạy trốn pháp luật Việt
Nam, họ không định cư mà lạm dụng sự gần kề và mối quan hệ thân thiết để lách luật vào Lào buôn lậu, tội phạm, gây thiệt hại cho cả hai nước,… Tuy nhiên, trong nhóm 1 gồm cả một số Tăng ni Việt Nam mới sang Lào vì mục đích hoằng Pháp, (sẽ nói thêm về họ ở các phần liên quan sau).
Nhóm 2 và 3 đa phần[3] thiện cảm với Phật giáo, một số là Phật tử trước khi sang định cư ở Lào đã đem theo tín ngưỡng Phật giáo khi họ sinh sống, định cư ở Lào lâu dài (Người Việt Nam ở miền Bắc và miền Trung mang theo Phật giáo Bắc tông, người miền Nam mang theo Phật giáo Nam tông và hệ phái Khất Sĩ). Đầu thế kỷ 20 một số Phật tử cùng với các nhà sư Việt Nam đã dựng thảo am, chùa (tư nhân) để tu tập, truyền đạo Pháp, hướng dẫn và giúp bà con Phật tử Việt Nam có nhu cầu tâm linh truyền thống trong cuộc sống hàng ngày ở Lào. Đến nay các thảo am, chùa tư nhân đều đã được tôn tạo, mở rộng diện tích thành chùa khang trang.
Phật tử Việt
Nam (nhóm 2 và nhóm 3) ở Lào nói chung đều được các cấp chính quyền và Giáo hội Liên minh Phật giáo Lào (viết tắt:GHLMPGL), các Ban trị sự GHPG Lào có thiện cảm. Trong lịch sử họ đã giúp đỡ ủng hộ người Việt Nam được phép mua đất/ thuê nhà tạo dựng cuộc sống ổn định căn bản như làm nhà, làm cửa hàng, xưởng sản xuất, trang trại chăn nuôi, chế biến,… đặc biệt là được phép mua đất xây am, chùa, rồi tái thiết chùa lớn hơn,… cũng như sự ủng hộ từ phía người dân Lào và các cấp chính quyền khi cùng chia sẻ các sinh hoạt, lễ hội truyền thống của người Việt Nam, các lễ trọng Phật giáo Việt Nam đầy đủ và long trọng.
Việt kiều (nhóm 2 và nhóm 3) từ trước 1938 đã lập Hội Khuyến thiện ở Vientiane như một trong những tổ chức xã hội tự nguyện (dân sự) nhằm qua tổ chức PGVN để giúp đỡ bảo vệ bà con người Việt trong cuộc sống tha hương trên nhiều phương diện. Các hiệp hội người Việt Nam tại Lào ngày càng đa dạng như Hội Việt kiều, Hội Phật giáo Việt kiều Viêng Chăn, Hội Việt kiều Viêng Chăn, Hội Khuyến học, Hội Từ thiện, Hội nghề…  mở rộng liên kết không chỉ chính thức với GHPGVN mà còn với các tổ chức Phật giáo trên thế giới. Chẳng hạn, năm 1987 Hội Phật tử châu Âu đã thỉnh Hòa thượng Thích Trung Quán, lúc đó đang trụ trì chùa Bàng Long sang Pháp để hoằng Pháp. Cũng qua các hiệp hội này, ngày càng nhiều các Hòa thượng, Thượng tọa về thuyết Pháp tại các chùa Việt Nam ở Lào trong các dịp lễ hội, lễ trọng của Phật giáo Việt Nam.
Nhu cầu học và dậy tiếng Việt đối với nhóm người Việt
Nam đã định cư ở Lào vẫn không ngừng tăng. Đến nay đã có 12 trường và trung tâm dạy tiếng Việt (tiếng Việt được sử dụng làm phương tiện giảng dạy) cho thanh thiếu niên Việt kiều và cả người Lào. Trong đó có những trường uy tín như trường Song ngữ Lào - Việt Nam Nguyễn Du; trường THPT hữu nghị Lào - Việt Nam; Trường Trung học phổ thông Hữu nghị Vientiane - Hồ Chí Minh. Nhưng đến nay nhiều tỉnh vẫn chưa có trường tiếng Việt cho con em Việt Nam theo học, hoặc chỉ có trường cấp 1, không có trường cấp 2 nên sau khi biết đọc biết viết, lên cấp 2 các em lại quên tiếng Việt; Đặc biệt thiếu giáo viên có trình độ, kinh nghiệm và thiếu nhiều sách giáo khoa tiếng Việt phù hợp với các trình độ học sinh Việt kiều, khiến công tác dạy và học tiếng Việt ở Lào chưa được như mong muốn. Từ những đặc điểm vừa trình bày ở trên, chúng tôi có một số kiến nghị, đề xuất như sau:
Thứ nhất, đề nghị Chính phủ hai nước cùng xây dựng chính sách linh hoạt với từng nhóm người Việt Nam nói trên, vì tính chất, mục đích và nhu cầu của các nhóm không hoàn toàn giống nhau. Chính phủ hai nước cần thường xuyên phối kết hợp kiểm tra, đánh giá, phân loại nhân thân của nhóm 1 - người mới sang Lào - ngay từ các cửa khẩu và tới tận các địa phương mà họ xin tạm trú, qua đó nắm vững hoạt động và mục đích của người dùng hộ chiếu phổ thông thường xuyên qua lại cửa khẩu để nhập lại vào Lào.
Thứ hai, nên có tổ chức nghiên cứu, ghi chép một cách hệ thống về lịch sử di cư và định cư của người Việt Nam ở Lào, cũng như lịch sử du nhập và phát triển Phật giáo Bắc tông, Nam tông và Khất Sĩ đến Lào. Các dòng di cư này có tương tác với nhau như thế nào, đến nay có thể tiếp thu và phát triển tương tác đó ra sao ở nhóm người Việt
Nam đã định cư (nhóm 2 và nhóm 3) đối với người Việt Nam mới sang (nhóm 1).
Thứ ba, PGVN ở Lào cần tiếp tục hoàn thiện và chính thức hóa các giấy tờ về quyền sở hữu chùa Việt Nam, cũng như xin cấp phép sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống của người Việt Nam tại các chùa Việt Nam ở Lào qua sự hỗ trợ của GHLMPGL, BĐP GHPGVN tại Lào cũng như các cấp có thẩm quyền tại Lào và của Lào để Phật tử Việt Nam ở Lào ngày càng yên tâm tu dưỡng và hoạt động tín ngưỡng tâm linh khi phải sống xa quê hương.
Thứ tư, Tương lai sẽ có thêm các hiệp hội hoạt động về khoa học, môi trường, du học sinh, kinh doanh,… gắn với hoặc liên quan tới Phật giáo cần sự ủng hộ và hỗ trợ của BĐP GHPGVN tại Lào cũng như các cấp liên quan ở cả hai nước. Các Hiệp hội này rất cần thiết trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa tôn giáo, đó là các bộ phân không tách rời GHPGVN ở Lào và Việt
Nam. BĐP GHPGVN tại Lào nên coi đây là lực lượng dự bị hùng hậu rất năng động và hiệu quả của PGVN tại Lào.
Thứ năm, Chính phủ hai nước và các cấp liên quan nên mở rộng tổ chức dạy và học tiếng Việt (mẹ đẻ) liên thông để Việt kiều được học không thể quên, và nên dạy ngay từ cấp mầm non, mẫu giáo vì càng nhỏ học càng hiệu quả; Có thể dạy thí điểm tiếng Việt cấp mầm non, mẫu giáo ở những khu có cộng đồng người Việt Nam (Lào gốc Việt) (nhóm 2 và 3) đông, nếu thành công và hiệu quả thì nhân rộng với sự chấp thuận, đồng tình của chính quyền sở tại Lào; Nên đầu tư nghiên cứu xây dựng bộ sách tiếng Việt cho việc dạy và học tiếng Việt liên thông các cấp cho con em người Việt Nam ở Lào; Nên mở thêm hình thức hỗ trợ suất học bổng dành cho Việt kiều (học giỏi) từ Lào về nước học tập không chỉ tiếng Việt mà cả các môn học khác; TƯGHPGVN cũng như BĐP PGVN ở Lào và các tổ chức có liên quan nên ủng hộ sáng kiến đưa lớp học tiếng Việt vào khuôn viên chùa (đang được thí điểm ở một số chùa Việt Nam), nhưng phải kiểm tra được chất lượng giáo viên, giáo trình và chất lượng học sinh đầu ra như trong hệ thống giáo dục chung.
3. Những đề xuất, kiến nghị về chùa Việt
Nam và sư tăng Việt Nam ở Lào
Hiện nay có 15 chùa Việt
Nam, nhưng chưa thống kê được chính xác số lượng Phật tử Việt Nam ở Lào. Chùa Việt Nam ở Lào đang có xu thế phát triển “từ cấu trúc đơn giản với vật liệu thô sơ đến kiến trúc trang nghiêm, vật liệu xây dựng mới” (ý kiến của TT Thích Minh Quang). Có thể tạm chia thành bốn loại chùa Việt Nam ở Lào: 1) Chùa của dòng họ (chùa tư nhân) thường có tư cách pháp nhân và quyền sở hữu rõ ràng và có sư trụ trì liên tục; 2) Chùa của cộng đồng Lào gốc Việt và Việt Kiều định cư ở Lào thường theo hệ phái (Bắc tông,Nam tông, Khất Sĩ), tông phái, sơn môn (Tào Động, Lâm Tế,…) do Tăng hoặc Ni trụ trì. Loại chùa này đang nổi lên vấn đề quyền sở hữu, truyền thừa, chọn sư trụ trì cần được các cấp có liên quan giúp đỡ; 3) Chùa chung cho cả hai cộng đồng Lào –Việt cũng đang nổi lên vấn đề truyền thừa vị trí trụ trì như thế nào để có thể tiếp tục duy trì danh nghĩa chùa Việt Nam; 4) Tại Lào đang hình thành loại chùa mới, tức chùa ở khu nghĩa trang để chăm coi linh phần người Việt Nam được chôn cất tại đó[4]. Hiện tại ở Vientiane và Luong Phrabang đều có chùa trong khuôn viên nghĩa trang. Ở Vientiane, chùa nghĩa trang được đặt tên là chùa Đại Nguyện và hiện tại không có người trụ trì. Còn ở Luong Phabang, vẫn tạm gọi là chùa Nghĩa Trang và cộng đồng người Việt Nam đang cần có sự tư vấn hướng phát triển của loại chùa này. Vì vậy:
Thứ nhất, cần truyền thông rộng tới tất cả người Việt Nam ở Lào về mục tiêu phát triển Phật giáo Việt Nam tại Lào mà Thượng tọa Thích Minh Quang đã nêu trong buổi ra mắt BĐP GHPGVN tại Lào: 1) Tôn trọng phương châm, Điều lệ, Hiến chương của Phật giáo hai nước; 2) Tuân thủ và chấp hành nghiêm túc chủ trương, chính sách và pháp luật của nước sở tại về công tác tôn giáo; 3) Đưa các hoạt động (chỉ đạo, phương hướng, mục tiêu) của Phật giáo Việt Nam tại Lào về một mối thống nhất nhằm phát huy vai trò là cầu nối giữa Giáo hội Phật giáo hai nước Việt Nam-Lào. Đặc biệt cần đầu tư thêm cho chùa Bàng Long và chùa Phật Tích -Linh Ứng Tự, vì đó là những ngôi chùa có vị thế Tùng lâm (tựa như chùa Quán Sứ, chốn tổ) của Phật giáo Việt Nam ở Lào, gánh vác vai trò ngoại giao tôn giáo giữa hai nước Lào - Việt Nam.
Thứ hai, tham khảo lịch sử các chùa ở Vientiane như chùa Bàng Long[5], chùa Phật Tích (Linh Ứng Tự)[6] và Tịnh xá Ngọc Tâm[7], cho thấy Phật tử Việt Nam ở Lào luôn giữ được hai nguyên tắc: Giữ quan hệ chặt chẽ với TƯGHPG ở Việt Nam (tên xưa cũ thời Pháp thuộc là các Hội Phật giáo Bắc kỳ[8], Trung kỳ và Nam kỳ), và  thực hiện đầy đủ các thủ tục về pháp lý để được chính quền sở tại hai nước (thời đó là Toàn quyền Đông Dương - Pháp, nay là Chính phủ Lào, ĐSQVN tại Lào, Ban trị sự GHPGL và BĐP-GHPGVN tại Lào) cùng chứng nhận quyền sở hữu hợp pháp của Việt Kiều ở Lào đối với các chùa Việt. Đây là nguyên tắc mà TƯGHPGVN cần thống nhất trong toàn thể PGVN ở Lào. Đó là cơ sở chính trị để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của Phật giáo Việt
Nam ở Lào trong quan hệ ngoại giao tôn giáo với nước chủ nhà.
Thứ ba, các chùa Việt
Nam ở Lào đều có nhu cầu khẳng định tư cách pháp nhân về quyền sở hữu (chùa và đất đai, tài sản,…) chính thức của Việt kiều bởi Chính phủ Lào và các cấp hành chính địa phương cũng như Ban trị sự Phật giáo địa phương. Vì từ đó sẽ nhận được sự chấp thuận, ủng hộ rộng rãi của cộng đồng Phật tử hai nước tại Lào. Sự kiện ra mắt Ban Điều Phối GHPGVN tại Lào là thành công bước đầu của sự khẳng định tư cách pháp nhân của Tăng ni Việt Nam cũng như một số chùa Việt Nam ở Lào cho đến nay.
Do vậy, đề nghị TƯGHPGVN và BĐP GHPGVN tại Lào nên có hướng dẫn, quy định và thể lệ rõ ràng về các bước thủ tục hành chính để các chùa được chứng nhận tư cách chùa Việt
Nam ở Lào. Về phía các chùa, cần hệ thống lại lịch sử hình thành đất đai chùa (người đứng tên mua đất chùa, diện tích đất, định danh, các bước xây dựng, sửa sang, nâng cấp chùa…). Hiện nay, BĐP GHPGVN tại Lào là đơn vị có đủ chức năng, quyền hạn để hỗ trợ Việt kiều và Tăng ni làm các thủ tục đó. Ngoài ra mỗi chùa cần tập hợp tài liệu ghi chép về lịch sử các tổ trụ trì nhằm giúp khẳng định tư cách pháp nhân của các chùa Việt Nam ở Lào được dễ dàng hơn; BĐP GHPGVN tại Lào nên có danh sách các số điện thoại (hotline) để Việt kiều cũng như các Tăng ni Việt Nam ở Lào có thể xin tư vấn về những vấn đề pháp lý tôn giáo khi cần thiết.
Thứ tư, một số chùa Việt Nam ở Lào hiện không có sư tăng trụ trì (chùa Đại Nguyện, chùa Bảo Quang và chùa Bồ Đề), hoặc bị gián đoạn, hoặc không có sư kế tục, hoặc đặc biệt như chùa Pháp Hoa (ở Khammouane) có sư trụ trì nhưng nhiều năm vẫn phải dùng hộ chiếu phổ thông nên tư cách pháp nhân chưa ổn định, gây hoang mang lo không giữ được sư trụ trì, mất chùa. Cũng vì thiếu sư trụ trì và thiếu sự phân công người chăm lo việc chùa khi có việc (các lễ, lễ hội, lễ trọng,…) nên bà con Phật tử tham gia tình nguyện, song cũng do vậy mà nhiều nơi vai trò của Phật tử khá tùy tiện, không có tiêu chuẩn, mục tiêu, cách thức thống nhất cho nên tâm lý sợ mất chùa cũng nảy sinh từ đây. Nguyện vọng của Phật tử Việt Nam tại một số chùa như Đại Nguyện ở Vientiane, Bồ Đề và Pháp Hoa ở Khammouane, Bảo Quang ở Savannakhet, Phật Tích ở Luong Phrabang muốn thỉnh sư Việt Nam sang Lào trụ trì và kế thừa quyền trụ trì các chùa Việt Nam; hay Phật tử chùa Bảo Quang ở Savannakhet có mong muốn thỉnh Đại Đức Thích Huệ Dũng thuộc tổ đình Tường Vân, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh Thừa Thiên-Huế sang trụ trì… cần được đáp ứng để thực hiện theo đúng quy trình pháp lý của cả hai nước.
Trước yêu cầu này, TƯGHPGVN cùng BĐP GHPGVN cần có chỉ đạo tuyển chọn sư trụ trì đủ tiêu chuẩn có trình độ am hiểu giáo lý, có kinh nghiệm truyền pháp, có đủ hạnh và tuệ; Đặc biệt đối với sư trụ trì chùa Việt Nam ở Lào cần phải thêm tiêu chuẩn thông thạo tiếng Lào và am hiểu văn hóa Lào [sẽ trở lại vấn đề này khi bàn về giáo dục đào tạo liên thông giữa hai nước].
Thứ năm, trong cuộc khảo sát tại chùa Bảo Quang, thị xã Cay-xỏn Phôm-vi-hản, tỉnh Savannakhet, ngày 4/9/2019, ông Cục phó Cục Nội vụ Savanakhet có ý kiến là vẫn có trường hợp người Việt Nam cũng như sư tăng Việt Nam ở Lào chưa tuân thủ quản lý nhân sự của Lào. Ví dụ trường hợp tạm trú của Đại đức Thích Huệ Dũng ở chùa Bảo Quang phải dưới sự quản lý của Ban trị sự Phật giáo Lào và các cấp hành chính địa phương Savannakhet. Sau đó ông có hứa Bộ Nội vụ và An ninh cùng Phật giáo Lào sẽ tạo điều kiện tối đa giúp các thủ tục chính thức để sư Việt
Nam có thể hoạt động Phật giáo Việt Nam tại Lào. Các cấp Phật giáo Lào từ TƯ đến địa phương đều đã quán triệt tinh thần “đồng chí – anh em”. Như vậy, những ý chưa thống nhất giữa Phật giáo hai nước, cần trao đổi và làm rõ ngay từ đầu để tránh hiểu lầm gây tổn hại về sau. Các vi phạm từ phía sư Việt Nam về tư cách pháp nhân khi vào các chùa Việt Nam ở Lào, dù nhỏ cũng phải sửa chữa ngay (ý kiến của TT Thích Minh Quang) và tổ chức có thẩm quyền các bên cùng phải kết hợp để có chính sách, quy định rõ ràng về vấn đề này.
Thứ sáu, hiện nay có những chùa đã hơn 60 năm tuổi đang bị xuống cấp, đang cần trùng tu, mở mang khang trang hơn trước cũng cần sự ủng hộ của các cấp có thẩm quyền hai nước. Đây là xu thế chung và cũng là nhu cầu chính đáng của các chùa được Phật tử cả 2 nước Việt
Nam và Lào ủng hộ.
4. Đề xuất, kiến nghị về trao đổi song phương hoằng Pháp giữa Phật giáo hai nước
Trong chiều dài lịch sử Phật giáo Việt
Nam và Phật giáo Lào luôn giữ được quan hệ tốt đẹp. Trong bối cảnh toàn cầu hóa tôn giáo đang phát triển nhanh mạnh nhờ các phương tiện giao thông, công nghệ, kỹ thuật… thì Lào và Việt Nam còn có thêm thuận lợi vì liền kề biên giới và cùng có Phật giáo. GHPGVN và BĐP PGVN tại Lào cùng GHLMPGL có thể bàn và cùng xây dựng chương trình giao lưu song phương, thỉnh sư Việt Nam và sư Lào hoằng pháp, trao đổi Phật Pháp tại các chùa Việt Nam ở Lào hoặc tiến tới có thể tại các trung tâm Phật giáo Nam tông ở Việt Nam. Xa hơn nữa sẽ là thỉnh sư các nước như ở Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc,… đến thuyết Pháp, giảng kinh hoằng pháp tại các chùa Việt Nam ở Lào, cũng như tại các chùa của Lào. Tương lai sẽ là tổ chức giao lưu thuyết pháp cả các chùa tại Việt Nam.
5. Những đề xuất, kiến nghị về trao đổi song phương khoa học về Phật giáo, Giáo dục - đào tạo Tăng tài, mở rộng tầm quốc tế
Thứ nhất, các chuyến đi khảo sát, nghiên cứu về PGVN ở Lào cũng nên được lặp lại và các kết quả đánh giá của lần khảo sát (9/2019) này cần phải được so sánh, đối chiếu với các lần sau để tăng thêm tính khoa học (tựa như một dự án nhiều kỳ), với sự tham gia nhiều ngành, nhiều bên, cùng nhiều HTKH báo cáo thành tựu nghiên cứu khảo sát; Thậm chí có thể mời các chuyên gia nước ngoài cùng tham dự để tăng thêm tầm ảnh hưởng quốc tế của Phật giáo hai nước.
Thứ hai, hai nước Lào và Việt Nam cùng trao đổi các bộ sách về lịch sử Phật giáo mỗi nước, và tiến tới dịch thuật in thành sách hai thứ tiếng để phổ cập hơn kiến thức về Phật giáo hai nước. Việt
Nam nên đầu tư sách giới thiệu lịch sử PGVN (về các chùa, các tổ, nghệ thuật, hoằng pháp, lễ nghi, lễ hội…) ở Việt Nam, Lào cũng như ở Cambodia (khối ba nước Đông Dương). Trước mắt là viết sách và các bài nghiên cứu về PGVN ở Lào trên các tạp chí Phật học hoặc chuyên ngành để thông tin được truyền rộng rãi hơn trong xã hội Việt Nam và Lào. Bước tiếp theo, đưa dần tri thức này vào nội dung chương trình đào tạo và trao đổi tăng sinh của các trường Phật giáo ở hai nước.
Thứ ba, các cấp Nhà nước, GHPGVN và BĐP GHPGVN cần chú ý hơn tới nhu cầu tiếp tục tu học thường xuyên và nâng cao của chư Tăng ni Việt Nam tại Lào. Đây là lực lượng kế cận đầy tiềm năng – có tính chiến lược - của GHPGVN ở Lào trong bối cảnh hiện nay.
Chính phủ và TƯGHPG hai nước chuẩn bị các bước cần thiết cho việc trao đổi đào tạo và đào tạo liên thông lưu Tăng sinh (trẻ) ở các trường Trung cấp Phật giáo và Học viện Phật giáo giữa hai nước Lào – Việt trong khuôn khổ các chương trình song phương, đa phương, vì hình thức này đã có ở nhiều nước trên thế giới.
Bộ giáo dục và TƯGHPG hai nước cùng xây dựng hệ thống trao đổi đào tạo (Tăng sinh du học) song phương hoặc kết nghĩa ở các cấp học của Phật học. Hoặc xây dựng hệ thống đào tạo tăng tài Việt
Nam liên thông giữa các trường Phật học ở Việt Nam với các trường ở Lào. Hiệu quả là sau quá trình đào tạo, tăng sinh sẽ không chỉ được kiến thức Phật học mà còn được cả tiếng Lào, văn hóa Lào. Thực ra, hệ thống trao đổi lưu học sinh Lào và Việt Nam đã có từ lâu, nay chỉ là mở rộng thêm sang đối tượng Tăng sinh Lào và Việt Nam.
Nên tổ chức trao đổi thực hành tiếng Lào và tiếng Việt của tăng sinh trẻ (đang học tiếng Lào) giữa các chùa hai nước Lào – Việt qua các hình thức du học, du học liên thông, hoặc thăm quan du lịch kết hợp giao lưu giữa chư Tăng Phật giáo hai nước. 
Thứ tư, nên có các trao đổi song phương (thường niên hoặc định kỳ) nghiên cứu và các HTKHQT về Phật giáo hai nước, hoặc kết hợp giữa hai nước và mở rộng thêm với quốc tế. Đây sẽ là sự hỗ trợ đặc biệt trên phương diện khoa học, truyền thông đối với PGVN ở Lào trên trường quốc tế trong bối cảnh hiện nay.
6. Những đề xuất, kiến nghị về giao lưu các dịp lễ, lễ hội, du lịch hành hương Phật giáo hai nước Lào –Việt
Thứ nhất, điểm tương đồng về tôn giáo (Phật giáo) trong bối cảnh toàn cầu hóa là điều kiện lý tưởng để triển khai các hợp tác giao lưu ngoại giao hai nước kết hợp lồng ghép với nội dung tôn giáo. Chính phủ và GHPG hai nước có thể mở rộng khai thác thêm các hình thức trao đổi song phương Lào –Việt qua các dịp lễ, lễ hội, và lễ trọng cũng như qua hình thức du lịch hành hương (tâm linh) Phật giáo giữa hai nước. Thậm chí lồng ghép nội dung văn hóa Phật giáo với du lịch, hội chợ, lễ hội, các hội nghề,… ở Lào và Việt
Nam.
Thứ hai, các chùa Việt
Nam ở Lào hiện nay (và vốn đã) không thống nhất về nghi lễ do khác nhau về tông phái, hệ phái và vùng miền ngay khi còn ở Việt Nam. Đã có ý kiến nên có sự chấn chỉnh, thống nhất theo chỉ đạo của TƯGHPGVN về vấn đề này để tiến tới khẳng định một văn hóa Phật giáo Việt Nam tại Lào. Trước hết, BĐP GHPGVN tại Lào cùng TƯGHPGVN nên có các bước nghiên cứu một cách hệ thống về nghi lễ của Phật giáo Việt Nam, đồng thời có so sánh với nghi lễ của Phật giáo Nam tông Lào, để từ đó có đường lối chung về vấn đề này, thậm chí một số nghi lễ chỉ làm ở phạm vi cho phép khi chú ý tới tính nhậy cảm trong khác biệt văn hóa Phật giáo (VD: nên chú ý sự khác biệt giữa Phật giáo Bắc tông với Nam tông về quan niệm đối với người chết và nghi thức tang lễ hay cách thức tưởng nhớ người đã mất,…) để khỏi gây những hiểu nhầm hay phản cảm đáng tiếc.
7. Những đề xuất, kiến nghị về xây dựng các chính sách tôn giáo và ngoại giao tôn giáo giữa hai nước
BĐP GHPGVN tại Lào (thành lập năm 2018) là một bước tiến về tổ chức ngoại giao của TƯGHPGVN tại Lào. Tổ chức này góp phần tạo thêm sức mạnh đoàn kết, thống nhất trong tư tưởng, hành động, tiếng nói chung cho Tăng ni và toàn bộ cộng đồng Phật tử Việt
Nam ở Lào.
Thứ nhất, chức năng của BĐP nên được phổ biến rõ ràng thành nội dung cụ thể để không chỉ Phật tử Việt Nam mà cả người Việt Nam ở Lào có thể cùng góp sức, góp trí cho sự hoàn thiện và thực hiện chính sách hoạt động tôn giáo của hai nước; BĐP là một địa chỉ có đủ tư cách pháp nhân để nhận và ở mức độ nào đó có thể xử lý, hoặc chuyển lên cấp cao hơn các kiến nghị, đề xuất cụ thể từ Tăng ni, Phật tử Việt Nam ở Lào về việc đạo cũng như trong cuộc sống và các việc có liên quan tới Phật giáo hai nước vì sự phát triển ổn định của Phật giáo Việt Nam ở Lào. BĐP GHPGVM tại Lào nên lập danh sách điện thoại và địa chỉ nóng (hotline) để tăng ni Việt
Nam và bà con Việt kiều có thể dễ dàng liên hệ và nhận được sự hỗ trợ của BĐP khi cần. Việc này có thể làm ngay.
Thứ hai, Hiện nay có tình trạng một số Tăng ni Việt Nam trú (hoặc trụ trì) tại chùa Việt Nam ở Lào song vẫn sử dụng hộ chiếu phổ thông (trong thời gian dài phải quay lại cửa khẩu để đóng dấu hộ chiếu định kỳ,…) gây tâm lý không tốt (lưu trú bất hợp pháp) không chỉ cho nhà sư đó, mà còn ảnh hưởng tới chữ tín về sự thực thi các chính sách của Phật giáo Việt Nam tại Lào. Đề nghị Đại sứ Việt Nam, BĐP GHPGVN tại Lào cùng Ban trị sự Phật giáo Lào tại các địa phương và các cấp có liên quan cùng phối kết hợp kiểm tra, thanh tra và hệ thống lại các trường hợp sư tăng Việt Nam có nhu cầu ở lại Lào mà chưa có thẻ Việt kiều (chỉ có Hộ chiếu phổ thông) từ đó đưa ra các quy định, chính sách, điều kiện cụ thể để xem xét cấp thẻ Việt kiều cho các sư tăng, hoặc trục xuất… Một mũi tên được nhiều đích…
Thứ ba, trước đến nay đã có Tổng Hội Tuyên truyền, Giáo dục về Văn hóa Việt Nam (viết tắt THTTGDVHVN) cho thế hệ trẻ Việt Nam và người Việt Nam ở Lào thấy rõ tầm quan trọng của mối hệ hữu nghị đặc biệt giữa hai dân tộc Lào – Việt Nam. Chúng tôi cho rằng, nội dung giáo dục của THTTGDVHVN nên thêm mảng văn hóa Lào. Có nghĩa không chỉ tuyên truyền giáo dục về văn hóa Việt Nam, mà là cả văn hóa Lào trong khối ba nước Đông Dương cho thanh thiếu niên Việt Nam ở Lào; THTTGDVHVN nên cập nhật thêm các phương tiện truyền thông hiện đại nhất để tuyên truyền nhanh hơn, rộng hơn, hiệu quả hơn về vai trò, trách nhiệm của lớp Việt kiều trẻ ở Lào, vì họ là lực lượng nòng cốt trong việc giữ gìn, phát huy mối quan hệ hữu nghị đặc biệt này thì hiệu quả sẽ sâu rộng và bền vững hơn.
***
Báo cáo này là bước đầu thu thập và nhận định nhanh qua một đợt khảo sát về thực trạng và triển vọng phát triển của Phật giáo Việt Nam ở Lào, từ đó khái quát thành 7 nhóm với 22 đề xuất và kiến nghị. Mong qua HTKH này sẽ được các nhà khoa học, các nhà quản lý và bà con Việt Nam ở Lào tiếp tục bổ sung, góp ý thêm nhằm phản ánh được đúng và kịp thời các nhu cầu thiết thực vì sự phát triển tốt hơn của PGVN ở Lào./.
                                                                    


Tài liệu tham khảo
  1. Lê Thị Hồng Diệp (2007), Đời sồng văn hóa của người Việt định cư ở thành phố Vientiane (Lào), Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học, Trường ĐH Khoa học xã hội & Nhân văn TP. HCM.
  2. Đào Minh Châu, Chùa Bàng Long - Quá Khứ và Hiện Tại, link: www.sangdaotrongdoi.vn/chua-bang-long-qua-khu-va-hien-tai
  3. Trịnh Huy Hòa (biên dịch, 2002), Đối thoại với các nền văn hóa – Lào, Nxb Trẻ, Hà Nội.
  4. Nguyễn Đại Đồng (2008), Biên niên sử Phật giáo miền Bắc (1920 - 1953), Nxb Tôn giáo, Hà Nội
  5. Nguyễn Đại Đồng (2017), “Bàng Long: Ngôi chùa của Việt kiều ở thủ đô Vientianee”, Nguyệt san Văn hóa
  6. Hệ phái Khất Sĩ (1993), Chơn lý, Thành hội Phật giáo TP. HCM. 
  7. Hệ phái Khất Sĩ (2012), Nghi thức Tụng niệm, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội
  8. Thích Thái Hòa, Phật giáo Việt Nam tại Lào, link:
  9. hoangphap.info/Page.aspx?
  10. Kỷ yếu Hội thảo “Phật giáo Nguyên Thủy trong kỷ nguyên toàn cầu hóa” tại TP. HCM tháng 01/2014
  11. Thích Thọ Lạc và Đào Minh Châu (biên soạn, 2017), Lược sử chùa Bàng Long. Tài liệu lưu hành nội bộ.
  12. Trần Hồng Liên (2000), Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ -Việt Nam từ thế kỷ XVII đến 1975, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội
  13. Lương Ninh (chủ biên, 1996), Đất nước Lào: Lịch sử và Văn hóa, Nxb. Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội.
  14. Người Việt tại Lào, link: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.
  15. Thanh Phong, Chùa Việt trên đất bạn Lào, link:www.baoxaydung.com.vn/.../chua-viet-tren-dat-ban-lao.html.
  16. Thích Gia Quang, “Mối quan hệ giữa Phật giáo ba nước Đông Dương”, link: chuaadida.com/chi-tiet-moi-quan-he-giua-phat-giao-3-nuoc-dong-...
  17. Sang Lào đi chùa Việt (2008), link:  www.phattuvietnam.net › PGVN › Cửa thiền.
  18. Xuân Sơn & Phạm Giang, Gắn văn hóa tâm linh với sj phát triển cộng đồng người Việt tại Lào, link: https://vnembassy-Vientianee.mofa.gov.vn/.../Gắn-văn-hóa-tâm-linh.
  19. Nguyễn Lệ Thi (2007), “Chùa của người Việt ở Lào”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2/2007, tr. 57.
  20. Nguyễn Văn Thoàn (2005), “Văn hóa Phật giáo trong đời sống cư dân Lào”, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. HCM.
  21. Nguyễn Văn Thoàn, Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam ở Lào (trường hợp Tịnh xá Ngọc Tâm), link: https://vbgh.vn › Trang nhất › Tin tức › Hệ phái Khất Sĩ.
  22. Nguyễn Văn Thoàn (2019), Văn hóa Phật giáo trong đời soongscuar người Việt ở Lào. Nxb Văn hóa Văn nghệ TP. HCM.
  23. Xuân Tú-Phạm Kiên (2018), Thành lập Ban điều phối giáo hội phật giáo Việt Nam tại Lào, link: https://www.msn.com/...giáo...phật-giáo-việt...lào/ar
  24. Vietnam Plus (2012), Nhiều hoạt động của cộng đồng người Việt tại Lào [Many activities of the Vietnamese community in Laos], số Ngày 17 tháng 2 năm 2012, truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2012.
  25. Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (1994), Tìm hiểu lịch sử - Văn hóa Lào. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nôiị
  26. Voice of Vietnam (2012) Cộng đồng người Việt tại Lào mừng lễ Vu Lan [Vietnamese community in Laos celebrates Ghost Festival], số Ngày 31 tháng 8 năm 2012, truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2012.

 
 

* Viện nghiên cứu Tôn giáo, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
[1] Ngày 11/11/2018, tại chùa Phật Tích ở thủ đô Vientiane, Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức lễ công bố quyết định và ra mắt Ban Điều phối Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại Lào.
 
[2] Nguyễn Văn Thoàn (2019), Văn hóa Phật giáo trong đời soongscuar người Việt ở Lào. Nxb Văn hóa Văn nghệ Thành phố. Hồ Chí Minh, tr. 12.
[3] Tôi nói là đa phần, vì trong lịch sử di cư sang Lào của người Việt Nam, còn có những cộng đồng người Việt Nam theo Công giáo, và họ cũng khá thành công ở Lào, ví dụ như làng Công giáo của người Việt có từ những năm 1960 tại Bản Xieng Wang, Savannakhet.
[4] Chôn cất và làm các nghi thức mai táng theo cách của người Việt Nam
[5] Xin xem: Đào Minh Châu (2014) Chùa Bàng Long - Quá Khứ và Hiện Tại, Link: www.sangdaotrongdoi.vn/chua-bang-long---qua-khu-va-hien-tai; Nguyễn Đại Đồng (2017), Bàng Long: Ngôi chùa của Việt kiều ở thủ đô Vientiane, link: Nguyệt san>> Văn hóa; Xuân Sơn, Phạm Giang (2017), Chùa Bàng Long của người Việt tại Lào, link: nhandan.com.vn/chinhtri/item/32440502-chua-bang-long-cua-nguoi-viet-tai-lao.html
[6] Thanh Phong: Chùa Việt trên đất bạn Lào, link: www.baoxaydung.com.vn/.../chua-viet-tren-dat-ban-lao.html; Dân Trí: Sang Lào đi chùa Việt, link: https://giacngo.vn/tuvien/chuavnnuocngoai/2008/11/20/77421A/; Chùa Phật Tích (Viêng Chăn), link: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.
[7] Nguyễn Văn Thoàn (2014) Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam ở Lào (trường hợp Tịnh xá Ngọc Tâm), link: https://vbgh.vn › Trang nhất › Tin tức › Hệ phái Khất sĩ
[8] Ngày 26 tháng 8 năm 1938 (tức mồng 2 tháng 7 nhuận năm Mậu Dần), đáp thư của Hội Khuyến thiện của Việt kiều ở Vientiane, thủ đô Vương quốc Lào, Hội Phật giáo Bắc Kỳ đã cử Thượng tọa Thích Trí Hải và Hòa thượng Thích Đại Hải (Đỗ Danh Giao, trụ trì chùa Dâu, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) sang Vientiane, làm lễ cầu siêu và quy y cho các kiều bào.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây