48 ĐÓNG GÓP CỦA PHẬT GIÁO CHO VẤN ĐỀ TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY

Thứ năm - 01/08/2019 00:32
ĐÓNG GÓP CỦA PHẬT GIÁO CHO VẤN ĐỀ TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY

TT.TS. Thích Nguyên Hạnh *

ĐNG GÓP CỦA PHẬT GICHO VẤN ĐỀ TOÀN CẦU HÓA ḤN NAY



TT.TS. Thích Nguyên Hạnh *



 
  1. DUYÊN KHỞI
Ton cầu hóa (globalization) là một thuật ngữ đã trở thnh một trong những xu hướng chủ đạo và tất yếu của thế k 21. Hiện nay, ton cầu hóa đang tác động và chi phối sâu sắc đến các quốc gia và dân tộc trên thế giới trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, môi trường,hội… vậy, như một hệ qu tất yếu, ton cầu hóa lm cho biên giới giữa các quốc gia, dân tộc ngy cng mờ đi trong thế giới hiện đi, chúng ta ngy cng gần với nhau hơn và đi đến việc tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau nhiều hơn, và cng tất nhiên, mối tương tác giữa con người, giữa các quốc gia, dân tộc ngy một sâu sắc hơn, phụ thuộc lẫn nhau hết sức chặt chẽ.
Xu thế ton cầu hóa đó, không thể khôngmặt của Phật giáo với vai tr hộ php an dân. Đức Phật từng tuyên bố Ny cc Tỳ kheo, xưa cũng như nay Ta chỉ ni lên sự khổ v sự diệt khổ (Trung Bộ I, 140), lời tuyên bố xác nhận Ngi ch dy cho loi người biết đến khổ và sự diệt khổ trong suốt 45 năm thuyết php của Ngi. Chúng ta được biết trong kinh Chuyển Php Luân, bn kinh đầu tiên của Ngi thuyết php cho 5 vị trước kia cùng tu khổ hnh với Ngi, Ngi đã tuyên bố: “Ðây là khổ, đây là khổ cần phi được biết, đây là khổ đã được biết; đây là khổ tập, đây là khổ tập cần được đon diệt; đây là khổ diệt, đây là khổ diệt cần phi chứng ngộ, đây là khổ diệt, đây là khổ diệt đã được chứng ngộ; đây là con đường đưa đến khổ diệt, đây là con đường đưa đến khổ diệt cần phi hnh trì, đây là con đường đưa đến khổ diệt đã

--------------------------------------------------------
* Ủy viên HĐTS GHPGVN, Ủy viên Thường trực Ban Hoằng pháp Trung ương.
 

được hành trì. Không những vy, Ngài còn khuyên các đệ tử xut gia của Ngi: Ny cc Tỳ kheo, hãy du hnh, hạnh phúc cho quần sanh, an lạc cho quần sanh, lòng thương tưởng cho đời, lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên v loi người (Tương Ưng I, 128).
Những lời tuyên bố trên của Đức Phật nêu r hoi bão tha thiết của Ngi là cứu khổ độ sanh, diệt khổ ưu, đem li h lạc cho tất cả loi hữu tình. Nói như vậy gii quyết vấn đề ton cầu hóa, Phật giáo đã có vai tr đóng góp tích cực trong việc thực hnh dân chủ và đạo đức. Gio nhà Phậtđầy đủ tố chất để gii quyết các vấn đề trong phm vi ton cầu.
  1. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ C̣C SNG
Trong cuộc sống, con người thường thói quen than trời trch đất, không ngừng hỏi do ti sao mình li có cuộc sống khốn khổ đã cố gắng nỗ lực rất nhiều. Thời xưa đã có người từng hỏi Phật: “Con nghèo quá, không có gì để bthí cả. Pht trả lời: Không ai nghèo đến mức không có một hạt cơm để btcho con kiến. Sự cố gng chia sẻ thiếu thốn với người khó khăn hơn mình là phước đức rất lớn, là qu tặng của đất trời ban tặng cho người nghèo. Nhờ vậy m cuộc sống sẽ được tốt dần lên.
Khi đề cập đến kế hoch lợi ích kinh tế cuộc sống không ch được nhấn mnh như một phần trch nhiệm của những người lãnh đạo quốc gia, m cn là sự kiên trì nỗ lực của mỗi người. Ðức Phật nói rằng Khi m lợi ích kinh tế được p dụng thích hợp thì dân chúng sẽ răm rắp tuân thủ v sẽ không còn lo lắng về mặt ny nữa, thu nhập quốc gia sẽ gia tăng, đất nước sẽ hon ton thanh bình v phồn thịnh. Mọi người chung hưởng hạnh phúc, ca múa với trẻ con, v khi ngủ không cần phi đóng cửa.Trong Mahavastu Ðức Pht dạy: “Thế gian dựa trên hai nền tảng: sự đạt được giu c v giữ gìn nhữngđã đạt được. vậy, để c được sự giu c v để bảo tồn nhữngđã c, vị ấy phải nỗ lực kiên trì trong phm vi chân chính.”
Sự nỗ lực kiên trì trong phm vi chân chính là sự nỗ lực chuyển hóa thân tâm và thi độ quan tâm đến với người khác. Đức Phật phân con người thnh bốn loi trên cơ sở thi độ và sự quan tâm đến với người khác. Loại người đầu tiên được gi là người chấp nhận một lối sống m không phi phúc lợi của chính mình, cng như phúc lợi của người
 

khác (nevaattahitāyapaipanno no parahitāya). Loại người thứ hai là người chấp nhận một cch sống không đem li phúc lợi của chính mình nhưng li dẫn đến phúc lợi của người khác (parahitāyapaipanno no attahitāya). Loại thứ ba thông qua cch sống dẫn đến phúc lợi của chính mình chứ không phi đến phúc lợi của người khác (attahitāyap- aipanno no parahitāya). Người thứ tư là một trong những người chấp nhận cch sống m dẫn đến phúc lợi của chính mình và phúc lợi của người khác, (attahitāyacapaipannoparahitāyaca). Theo Đức Phật, loi người thứ tư chấp nhận cch sống m dẫn đến phúc lợi của chính mình và phúc lợi của người khác là đng khen ngợi nhất.
Nhữngngườithườngxuyênquantâmđếnphúclợichongườikhác, đặt phúc lợi của người khác như phúc lợi của chính mình đó chính là hnh động cao đẹp nhất. H khả năng phục vụ xã hội với một thi độ hon ton trong sng, và không động thầm kín, nhưng hon ton thông qua lng bi mẫn đối với quần chúng đau khổ. Đức Phật và các đệ tử của Ngi đã cam kết phục vụ xã hội trong suốt cuộc đời của mình theo nghĩa ny. Do đó, vẫn cn giá trị cho đến ngy nay. Đây là sứ mệnh thiêng liêng cao cả nhất m Phật tử có thể lm cho nhân loại trên tinh thn “Phụng sự chúng sanh tức cúng dường cPht.”
  1. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ KHNÃO PH̀N LỤY
Đức Phật luôn nhấn mnh nếp sống đạo đức, đề cao vị trí con người và chứng minh rằng con người có khả năng đt đến gii thot tối thượng ra khỏi phiền lụy nếu con người có đủ ý chí và nỗ lực của mình, nếu con người tăng trưởng được niệm lực, định lực và thiền lực của con người, nếu con người pht huy được tuệ lực, gii thot lực của con người. Bước thêm bước nữa, đạo đức Phật giáo là một nếp sống trong sch, thanh tịnh và lnh mnh,chmột đời sống thanh tịnh mới bảo đm được một đời sống hnh phúc.
Trong kinh Dụ Tấm Vi (Trung Bộ I, số 7), Đức Phật xác nhận một tấm vi cấu uế đem nhuộm sẽ được một mu nhuộm không tốt đp. Cng vậy, ci ác chờ đợi một tâm cấu uế. Tri li, một tấm vi thanh tịnh, trong sch đem nhuộm sẽ được một mu nhuộm tốt đp. Cng vậy, ci thiện chờ đợi một tâm thanh tịnh. Như vậy hnh phúc ch đến với một tâm trong sch, không đến với một tâm cấu uế. Rồi Đức Phật kể 16 cấu uế tâm, trong ấy tham - sân - si là chính, cần phi tẩy sch và đon trừ, nhờ lng tịnh tín bất động đối với Ba Ngôi Bu
 

(Tam Bảo), nhờ chứng được nghĩa tín thọ và php tín th. Từ nơi đây, hân hoan liên hệ đến php sanh; từ hân hoan, hỷ khởi lên. Từ hỷ thân được khinh an. Thân khinh an, cảm gic được lạc thọ. Với lạc thọ, tâm được thiền định. (Trung Bộ I, 37a-37b). Vnhư vy một tâm trong sch chờ đợi là hnh phúc, an lạc; một tâm cấu uế chờ đợi là khổ đau, sầu muộn. Nói đến cấu uế tức là nói đến bất thiện, nói đến trong sch tức là nói đến thiện lnh, như biết bao nhiêu lời dy của Đức Phật về vấn đề ny.
Thông điệp Phật giáo không có hứa hn rằng có thể lm gim hết bệnh khổ của nhân sinh trong những phương cch nền tng no đó với các tổ chứchội rộng lớn. Phật giáo tuyên bố rằng sự gii thot là công việc cá nhân và ch có thể đt được do đức hnh và sự rèn luyện chuyển hóa tâm thức. Ton bộ lời dy của Ðức Phật đã được Ngi tóm tắt như sau: Không lm mọi điều c, Thnh tựu cc hạnh lnh, Tâm ý giữ trong sạch, Chính lời chư Phật dạy. (Php 183)
Phật giáo gii thot mi rng buộc, mở đầu là các rng buộc đối với năm dục trưởng ỡng tức là sắc đp, tiếng hay, hương thơm, vị ngon, xúc êm dịu. Ðức Phật thường hay ch r sự nguy hiểm của dục:Sợ hãi, ny cc Tỳ kheo, l đồng nghĩa với cc dục. Bệnh, ny cc tỳ kheo, l đồng nghĩa với cc dục... Cục bướu... tham dính... bùn lầy, ny cc tỳ kheo, đồng nghĩa với cc dục. V ny cc tỳ kheo,sao sợ hãi l đồng nghĩa với cc dục? Ny cc tỳ kheo, say đắm bởi tham dục, bị tri buộc bởi tham muốn, ngay trong hiện tại không thot khỏi sự sợ hãi, đời sau cũng không thoát khi sợ hãi. Do vy sợ hãi lđng nghĩa với dc.” (Tăng Chi II, 309).
  1. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ MÔI SINH
Các vấn đề m nhân loi đang đối mặt thì rất nhiều như: Lương thực, kinh doanh, lao động, tiền lương, thất nghiệp,hội không đồng đều, khong trống giữa có và không có. Chúng dường như rất phức tp nhưng kht vng của người bình thường thật ra ch là một điều gin dị. Con người ch ước ao được sống trong an bình và hnh phúc trong sự tự do kiến tạo một thế giới nhỏ bé của riêng mình và trong khả năng của mình.
Ðức Phật dy không có điều xy ra mà không có nguyên nhân. Một khi nguyên nhân đã được nghiên cứu và nhận dạng, thì các giải
 

php có thể được tìm thấy. Ðo đức Phật gio đã là một nếp sống hi hòa với thiên nhiên, đồng thời cũng là một nếp sống hi hòa với con người. Cho nên ta không lấy làm lạ, khi thấy Dandapàni hỏi Ngi quan điểm thế nào và giảng dy những gì, Đức Phật đã trả lời: Theo lời dạy của Ta, trong thế giới với chư Thiên, c ma và Phạm thiên, với cc chúng Sa môn, Bà la môn, chư Thiên, và loi người, không c tranh lun với một ai ở đời.(Trung Bộ III, 109-109a). Hoc “Này các Tkheo, Ta không c tranh chấp với đời, chỉ c đời tranh chấp với Ta. Ny các Tỳ kheo, người ni php không tranh chấp với một ai ở đời” (Tương Ưng III, 165)
Đức Phật đã tuyên bố r rng rằng, Ngi ch dy hai vấn đề: Sự khổ và con đường diệt khổ. Ô nhiễm môi trường dẫn đến ph vỡ sự cân bằng hệ sinh thi đem đến đau khổ. Hnh động để cứu môi trường ra khỏi tình trng hiện nay nghĩa là chấm dứt đau khổ. Đức Phật của chúng ta chmột hnh nguyện duy nhất, đó là dùng giáo đầy chất liệu của yêu thương để chuyển hóa con người theo con đường của ha bình, an lạc trong một môi trường trong sch. Chính vì thế m đạo Phật không phi ch là một tôn gio, đạo Phật không phi ch có niềm tin, hay gin đơn là một sự cầu nguyện cho một tương lai no đó, m đạo Phật cn là một kho tng tuệ giác với những phương php rất cụ thể có thể giúp nhân loi tháo gỡ, chuyển hóa những khó khăn, những khổ đau trong bn thân, gia đình và ngoihội. Đó chính là nền tng đng chú ý nhất đối với trch nhiệm khắc phục tình trng môi trường hiện nay, đem li sự yên vui cho nhân loi. Đạo Phật là con đường chuyển hóa đưa tới gii thot giác ngộ và an lc. Muốn tìm con đường ấy thì đi hỏi mỗi người chúng ta không những chăm lo cho những nền tng của hnh phúc cá nhân m cn phi tích cực tham gia vào công tác bảo vệ môi trường sống hiện nay. V một trong những phương php để thực hiện điều đó chính là Tm chi phần của con đường chân chnh. Công năng của giáo Bt Chnh Đạo hon ton xứng đng là phương thuốc gii quyết những vấn nn ton cầu, trong đó có vấn nn môi trường.
  1. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ HÒA BÌNH THẾ GIỚI
Trong hội hiện đi vấn đề về quyền con người vẫn chưa được thực thi trn vn. Vẫn cn đó nhiều bất công, p bức, phân biệt k thị chủng tộc mu da, giới tính và sự giu nghèo. Tính mng của con
 

người bị xem nh. Hng năm, hng chục nghìn người chếtnhững nguyên nhân như bạo lực, chiến tranh v khủng bố. Đây thực sự l những vấn đề nhức nhối lớn nhất m con người phi đối mặt. Bên cnh đó, do sự pht triển bùng nổ cc ngnh công nghệ, kỹ thuật số, mng lưới ton cầu hóa, sự khủng hong về thông tin lm cho con ngườinhững nhìn nhận không đúng với sự thật, gây tác hi đến đời sống.
Nguyên nhân không nằm ngoi lng tham lam, sân hận và si của con người. Ðức Phật dy rằng: Sân hận không bao giờ được dập tt bởi sân hn, mchbởi lòng từ bi mới dp tt được sân hn mthôi.” Hơn nữa,Chiến thắng pht sanh hận thù, xâm lăng mang đến đau kh.Trong nhiều quc gia khác trên thế giới hiện nay, mây đen chiến tranh bao phủ gần kề. Không gian trn đầy bạo lực của thân - khẩu - ý.
Ha bình không ch đơn thuần là sự vắng mặt của chiến tranh. Ha bình là một qu trình chủ động, ton diện của việc tìm kiếm nền tng thông qua giao tiếp cởi mở và đưa vào thực hnh một triết không gây hi và chia rẽ, tạo ra một nền văn hóa hòa bình là một qu trình tích cực thực hiện lâu di và bền b. Bình đẳng, khả năng duy trì tính công bằng rộng rãi của tâm trí giữa cuộc sống là điều kiện thay đổi; một trong bốn phẩm chất tuyệt vời; và là một trong by yếu tố của sự giác ngộ.
Ðức Phật dy rằng cch duy nhất để đt an lạc là loi trừ nguồn gốc chiến tranh - tham, sân, si. Ngy nay thế giới đã phân chia con người thnh những ý thức hệ khác nhau, với khối ý thức hệ của mình thì người ta đã cống hiến tất cả tâm và lực vào việc mua bn thô bo, độc ác, tiêu cực chết chóc của chiến tranh. Thế giới sẽ có hòa bình nếu các dân tộc và quốc gia từ bỏ lng tham ích k, từ bỏ tính kiêu ngo về chủng tộc và lm trong sch tâm tham muốn về quyền sở hữu và sức mnh. Sự phân chia ý thức hệ thường gây ra mâu thuẫn. Ý thức hệ có nhiều hình thức khác nhau - chính trị, kinh tế, tôn gio,hội và giáo dục. Ý thức hệ trốn trnh thực ti. khiến con người hung ác và cột chặt con người vào sự lệ trong của điên cuồng và bạo động.
Sự mâu thuẫn ý thức hệ được sanh ra trong tâm con người là kết qu của sự căng thẳng và chiến tranh. Nếu các xung đột ny được loi bỏ thì nhân loi có thể trn đầytưởng hòa hợp và ha bình. Ðức Phật tuyên bố rằng tâm là cội nguồn, là yếu tố chủ đạo tất cả, thiện
 

hoặc ác. Khi tâm được thanh lọc các điều xấu, an lạc hnh phúc hòa bình sẽ ngự trị khắp nơi.
  1. KẾT LUẬN
Sau khi thnh tựu đạo qu dưới cội Bồ đề, Đức Phật tìm thấy con đường ra khỏi sanh, già, bệnh, chết. Con người từ nay sẽ không cn lo âu sầu muộn bởi nỗi khổ niềm đau. Phật giáo nhận định cuộc đời là biển khổ, nhưng không đưa tới quan niệm tiêu cực, bi quan, yếm thế, chn đời. Đức Phật dy chúng ta nhận định như vậy để thức tỉnh, để tìm phương cch gii thot, không cn chìm đắm trong những cơn vui giả tm, ngắn ngủi, những danh vng, quyền tước, vật chất của thế gian. Cng như một vị thầy thuốc chẩn bệnh, định bệnh để tìm ra nguyên nhân gây bệnh và tìm cch chữa trị. Cho nên, ngay sau đó, Đức Phật ch r nguyên nhân gây ra khổ đau. Trong Kinh Viên Gic, Đức Phật có dạy: “Con người minh cho nên c hai thứ chấp: chấp ngã v chấp php. Đó l hai nguyên nhân chính gây ra phiền não v khổ đau của cuộc đời”. Khi no hiểu được một cch r rng và ph trừ được hai nguyên nhân chính gây ra khổ đau, chúng ta sẽ tìm được an lạc hnh phúc thực sự trong cuộc sống hiện ti.
Trong giai đon ton cầu hóa, sự kết nối giữa con người với con người và với từng quốc gia, lãnh thổ li trở nên rất gần gi. Tất cả mi vấn đề của cuộc sống đều được chia sẻ phổ biến một cch nhanh chóng. Đó là cơ hội cng là sự thch thức đối với Phật giáo trong việc góp phần nh hưởng tích cực đến ton thể nhân loi. Phật giáo được xem như là phương thuốc hữu hiệu nhất trong việc gii quyết vấn đề ton cầu hóa hiện nay. Theo như nhà khoa học Albert Einstein đã pht biểu về đạo Phật như sau: Tôn gio tương ai sẽ l tôn gio ton cầu, vượt lên trên mọi thần linh, gio điều, thần học. Tôn gio ấy phải bao qut cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, pht xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong ci nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật gio sẽ đp ứng được cc điều kiện đ. (The religion of the future will be a cosmic religion. It would transcend a person God and avoid dogmas and theology. Cover- ing both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sense, arising from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism answers this description). Thật vậy, Phật giáo có khả năng trong việc hn gắn những vết thương, và xoa


dịu bao nỗi khổ niềm đau cho nhân loi, giúp cuộc sống sẽ trở nên không cn khô cằn, úa ho, chiến tranh và thù hận diễn ra triền miên. Do vậy, cần phi nuôi ỡng và pht triển tâm thiện để góp phần giúp ích cho cuộc đời và nhân loi trong việc mang li sự bình yên hnh phúc thực sự cho mi người.
Người ta thường cho rằng những lời dy của bậc thnh xưa như Ðức Phật thì qu đơn gin không thể đủ hiệu qu giúp chúng ta gii quyết những vấn đề cực k rắc rối đã nh hưởng cá nhân và xã hội đương thời. Thật ra thông điệp của Ðức Phật ging về các tình huốngbn của con người và điều ny khiến cho thông điệp của Ðức Phật rất hợp thời v bất diệt. Ðây là kim ch nam cho mi hnh động của ba nghiệp thân, khẩu, ý. Mỗi thế hệ kế tiếp có thể và phi pht hiện li sự thích hợp của thông tin để gii quyết các vấn đề của chính thời đi mình.

Ti liệu tham khảo
    1. Ha thượng Thích Trí Qung, Phật gio nhập thế v pht triển, quyển II, NXB. Tôn gio, H Nội, 2008.
    2. The Dīgha Nikāya, The Long Discourses of the Buddha, Maurice Walshe, (trans), Wisdom Publications, Boston, 2012 (reprints).
    3. The Majjhima Nikāya, The Middle Length Discourses  of  the  Bud- dha, Bhikhu amoli and Bhikhu Bodhi, (trans), Wisdom Publications, Bos- ton, 2009 (reprints).
    4. The Sayutta-Nikāya, The Con nected Discourses of the Buddha, Bhik- khu Bodhi, (trans), Wisdom Publications, Boston, 2000.
    5. Aguttara-Nikāya, The NumericalDiscourses of the Buddha, Bhikkhu Bodhi, (trans), Wisdom Publications, Boston, 2012.
    6. G. P. Malalasekera, M. A. Ph. D. Founder Editor-in Chief, Encyclopaedia of Buddhism, vol. 8, Sri Lanka: Published by the Department of Buddhist Af- fairs, Ministry of Buddha sasana, 1962.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây