47 SỰ GIAO THOA GIỮA BẢN THÂN VÀ THA NHÂN

Thứ năm - 01/08/2019 00:30
SỰ GIAO THOA GIỮA BẢN THÂN VÀ THA NHÂN


ĐĐ.TS. Thích Thiền Trí *

S GIAO THOA G̃A BẢN THÂN VTHA NHÂN



ĐĐ.TS. Thích Thiền Trí *





Sự giao thoa giữa bn thân v tha nhân. nghĩa l, chúng ta từ bỏ sự yêu thương bn thân v ch yêu thương người khc. Bởi trở ngi lớn nhất để được sự nhận thức ny chính l minh, vậy chúng ta cần phi vượt qua minh v đặc biệt l sự yêu thương bn thân.
Thông thường, chúng ta phân chia thế giới bên ngoi thnh nhiều loi như tốt hay có giá trị, xấu hay không có giá trị. Hầu hết sự nhận thức ny đều không đúng, đó cng là sự trở ngi lớn nhất để pht triển lng yêu thương đối với người khác một cch công bằng. Thật sự có ích nhiều hơn nếu chúng ta học cch phân biệt giá trị hay không trong trng thi của tâm cn hơn là giữ khư khư về sự phân biệt đối với thế giới bên ngoi.
Để vượt qua minh đặc biệt ny, chúng ta cần phi nhận dng chúng thật sự chính xác và phân biệt r rng những trng thi khác nhau của tâm. Đây là mối liên hệ dễ dng để nhận biết minh như sân hận, ích k và thấy rằng chúng đang lm tổn hi bn thân mình. Tuy nhiên, những dng minh như tham i, tự ho, chấp thủ và tự i thật sự rất khó khăn để nhận dng chúng và cng dễ dng nhầm lẫn với nhiều trng thi khác của tâm. Chẳng hn như, chúng ta có nhiều ước muốn, nhưng không phi tất cả những ước muốn ny đều chịu sự tác động của tham i. Một ước muốn được cho là tham i ch khi chúng quấy nhiễu tâm ta, nhưng đôi khi chúng ch tác động rất tinh vi nên chúng ta khó nhận ra chúng một cch trực tiếp khi chúng khởi lên trong tâm.

--------------------------------------------------------
  • Ủy viên Ban Hoằng pháp TƯ, Phó Trưởng Phân ban kiêm Chánh Thư ký
Phân ban Hoằng pháp Hải ngoại, Trưởng ban Hoằng pháp GHPGVN tỉnh TT. Huế.
 
 
    1. TÂM ÍCH KỶ
Trong số khi niệm vềtưởng khởi lên từ gốc của biển tâm, sự nguy hi lớn nhất là ích k và sự lợi ích lớn nhất là tâm yêu thương người khác. Thế no là ích k - được nói một cch chính xác nhất? Ích k được định nghĩa là tâm ch chú trng đến bn thân, biến mình thnh nhân vật quan trng nhất và quý giá, đồng thời pht triển từ sự xuất hiện của một bn ngã thật sự. Sự minh của ích k sẽ ngự trị trong tâm liên tục, và chính là trung tâm của vng xoay luân hồi.
Sự vị k là nhận thức sai lầm bởi vì đối tượng của nó, l ngã hay ci Ta vốn hiện hữu, không thật sự hiện hữu. Nếu nhìn vào tâm khi vị kđang thể hiện một cch mnh mẽ như khi đang sợ hãi, bối rối hay phẫn nộ, chúng ta sẽ ghi nhậnci Ta rất mnh mẽ. Khi minh chấp thủ, ci Ta xuất hiện rất bền vững, tồn ti thực thể, hiện hữu từ chính bn chất của nó, không lệ thuộc vào thân hay tâm ta. Ci Ta độc lp này được gọi là cái Ta vn hiện hữu, và nó không tht sự hiện hữu. Ci Ta m chúng ta chấp thủ một cch rất mnh mẽ, thương yêu rất say đắm, dâng hiến trn cuộc đời để phục vụ và bảo vệ ch đơn gin là một sự giả tạo của minh. Nếu suy nghĩ sâu xa về quan điểm ny, chúng ta sẽ nhận thức được thật sự là lố bịch khi yêu thương điều gì đó m bn thân không hiện hữu. Sự gii thích về ci Ta vốn hiện hữu m không thật sự hiện hữu đã được gii thích trong phần nói về sự thật tối thượng. Do sự nh hưởng của chấp ngã đã tích ly từ thỉ nên bất cứ lúc no chúng xuất hiện trong tâm, bao gồm ci Ta, đều xuất hiện trong thể vốn hiện hữu. Chấp thủ vào ci ngã của chính ta như sự hiện hữu vốn có, chúng ta chấp thủ vào ci ngã của tha nhân như là sự hiện hữu vốn có, và rồi hình thnh sự khác biệt cố hữu đối với bn ngã và tha nhân. Kế đến chúng ta li pht sinh ra tự i, chính là cảm giác tḥc bản năng Ta là nhân vt quan trọng, quý giá bậc nht.
    1. LM THẾ NO ĐỂ CHUYỂN HA TÂM ÍCH KỶ
Suy ngẫm về sai lầm của sự ích k và lợi ích của lng yêu thương người khác, chúng ta sẽ pht khởi sự xác định mnh mẽ để từ bỏ tính ích k và ch yêu thương người khác. Nhưng không thể dừng tính ích k ngay lập tức, bởi vì đã ăn sâu và lan tỏa khắp trong hầu hết những thói quen hằng ngy và đã theo ta từ thỉ kiếp. Tuy nhiên, với sự hiểu biết về sự bất lợi của nó, đồng thời với nỗ lực mnh mẽ, chúng ta có thể từ từ gim dần thói quen ny. Chúng ta có thể ngăn chặn
 

những điều tệ hi của sự ích k ngay bây giờ và có thể loi trừ dần dần những dng vi tế của nó.
Sau khi đã pht triển sự chú tâm để vượt qua tính ích k, bước kế tiếp là nhận biết ngay khoảnh khắc khởi lên trong tâm. Để lm được điều ny, chúng ta cần thực hiện tâm và hnh hợp nhất. Thông thường, chúng ta luôn nhìn vào nhữngngười khác đang lm, nhưng sẽ tốt hơn nhiều nếu chúng ta dn mắt theo nhữngđang diễn biến trong tâm mình. Bất cứ hnh động no chúng ta đang lm, như đang lm việc, đang nói, đang thư giãn hay đang học Phật php, một phần tâm của ta nên luôn nhìn theo và kiểm tra xem nhữngtưởng no đang pht khởi. Ngay khi một ý niệm minh khởi lên, chúng ta nên cố gắng dập tắt nó. Nếu bắt gặp một ý niệm minh trong trng thi mới khởi lên thì rất dễ dng dập tắt, nhưng nếu chúng ta để pht triển hon ton thì trở nên rất khó lm chủ.
Một trong những ý niệm minh tiêu cực nhất là giận dữ. Bn thân rấthi trong đời sống thường nhật của chúng ta. Chúng ta nổi giận vì để tâm mình duyên theo đối tượng, điều ny dường như để khơi dậy sự giận dữ. Nếu nắm giữ được tâm ngay khi khởi lên để tập trung vào một đối tượng, chúng ta rất dễ dng ngăn ngừa được giận dữ ngay từ lúc khởi lên đồng thời chuyển hóa nhữngtưởng của mình trong sự điều khiển mch lạc hơn. Tuy nhiên, nếu chúng ta không thể chế ngự giận dữ khi sơ khởi, và cho php tiếp tục pht triển thì sẽ giống như ngn lửa dữ dội, rất khó dập tắt. Những minh khác cng có tính chất tương tự, bao gồm cả tính ích k. Nếu tỉnh giác vớitưởng ích k ngay lúc ban sơ, chúng ta ngăn chặn rất dễ dng, nhưng nếu chúng ta để tiếp tục dần dần có đà thì đến lúc chúng trở nên hầu như không thể no ngăn chặn được. Gii thot khỏi phiền não có ba bậc. Thứ nhất, nhận thức từng phần minh riêng biệt, như sự khởi lên và ghi nhớ về tác hi của nó, ngăn ngừa chúng từ khi mới biểu hiện. Chỉ cần duy trì sự quan st tâm thì điều ny trở nên rất dễ dng, và đây chính là điều m chúng ta cần phi cố gắng thực hnh liên tục, bất cứ khi đang lm gì. Đặc biệt, ngay khi ghi nhận tâm ta đang trở nên căng thẳng hay đau khổ, hãy nên cnh giác cao độ, chính là mnh đất hon ho cho phiền não ny sinh. Do vậy, ‘Ch luôn nương tựa vào tâm hạnh phúc.’ Ở cp độ thứ hai của sự giải thoát khi phiền não là, khuất phục chúng bằng cchp dụng những phương php đối
 

lập riêng biệt. Thiền qun đều đặn và hệ thống trên con đường đưa đến giác ngộ, chúng ta không những ngăn ngừa được những kiểu lừa dối cả trong suy nghĩ và cm nhận ngay từ lúc vừa sinh khởi m cn thay thế chúng bằng những phương thức đạo đức bền vững và mnh mẽ, đặt trên nền tng của trí tuệ chứ không phi là minh. Bằng cch ny, chúng ta có thể ngăn chặn hầu hết phiền não từ khi mới khởi lên ở vị trí đầu tiên.
Cấp độ thứ ba để gii thot khỏi phiền não là hon ton triệt tiêu chúng, ngay cả mầm mống bằng cch nhận chân trực tiếp về tnh không. Bằng cch ny, chúng ta triệt tiêu chấp thủ, là gốc rễ của tất cả phiền não. Thực hnh hnh bình đẳng giữa ta và người, chúng ta nên nghĩ ‘Hnh phúc của mình quan trng nên hnh phúc của người khc cng quan trng không km’; v nhờ đó chúng ta thể san sẻ cm gic yêu thương. Chính sự thích thú với cm gic tốt đp ny v cng không trực tiếp chống li tâm ích k nên chúng được chấp nhận v thực hnh dễ dng hơn. thể ta phn biện rằng, ti sao chúng ta phi bận tâm trong khi chúng ta ch l những c thể tri li chúng sanh thì số, nên sự tri nghiệm của h tối thiểu về an bình v hnh phúc l thật sự cần thiết. Mặc ngón tay ci được coi trng nhất trong cc ngón tay, nhưng chúng ta sẽ sẵn sng hy sinh một ngón để cứu chín ngón tay cn li, nếu hy sinh chín ngón tay để cứu lấy một ngón thì thật l ngu xuẩn. Cng vậy, chín người quan trng hơn một người, và dĩ nhiên là số chúng sanh thì quan trng hơn một cá thể gấp nhiều lần. Yêu thương người khác ít ra cng bằng với yêu thương bn thân là điều cùng hợp lý.
Sau khi hiểu biết r rng về sự thực hnh hnh bình đẳng giữa ta và người, chúng ta sẵn sng đương đầu trực tiếp với tâm ích k hơn nữa. Bởi tâm ích krất nhiều sai lầm, chúng ta nên tự mình cố gắng để đương đầu và vượt qua ngay khonh khắc chúng mới vừa khởi lên trong tâm. Với sự quan st nguồn tâm miên mật và chặt chẽ, chúng ta có thể rèn luyện bn thân mình để nhận diện tính ích k ngay khoảnh khắc chúng vừa mới khởi lên và ngay lập tức nhớ li những bất lợi của nó. Thông thường, khi có điều gì sai lầm, chúng ta li khiển trch người khác, nhưng nguyên nhân chính đối với sai lầm của chúng ta là do tâm ích k. Một khi nhận chân đúng đắn về tính ích k, chúng ta nên xem như là kẻ thù tồi tệ nhất, và tất cả khổ đau cng đều do gây nên. Mặc lng khoan dung đối với người khác đồng thời bỏ
 

qua những khiếm khuyết của h là điều tốt, song chúng ta đừng bao giờ khoan dung với tính ích k của mình, bởi vì cng có nhiều lng nhân hậu với thì ngược li chúng ta sẽ bị lm hi. Thế nên, cng mnh bạo và đổ lỗi cho những sai tri do tính ích k cng nhiều cng tốt. Nếu nổi giận vì điều gì, chúng ta nên nổi giận bởi ‘con qu của tính ích k. Thực ra, cch giận dữ chống li tính ích k không hẳn là sự giận dữ, vì được xây dựng trên cơ sở của trí tuệ chứ không phi minh, và chức năng khiến tâm chúng ta trở nên thanh tịnh và an lạc. Để thực hnh được phương php ny, chúng ta rất cần đến sự khéo lo. Nếu kết qu của sự đổ lỗi cho tính ích k về tất cả những lỗi lầm là cm giác tội lỗi và thấy rằng không thỏa đng, điều nynghĩa là, chúng ta đã không thể phân định rch ri giữa sự đổ lỗi cho tính ích k và sự đổ lỗi cho chính bn thân mình. Mặc dù, r rng tính ích k là nguyên nhân của tất cả lỗi lầm, điều ny khôngnghĩa chúng ta tự đổ lỗi cho mình. Lại nữa, chúng ta phi học cch phân biệt giữa bn thân và phiền não của mình. Nếu chúng ta bị tấn công, đây chẳng phi là lỗi của mình, m chính là lỗi của tính ích k. Ti sao? Bởi vì, chính là hệ qu của nghiệp, tạo thnh bởi một hnh vi sai tri m chúng ta đã tạo trong kiếp trước do sự nh hưởng của tính ích k. Nếu thực tập với niềm hoan h và tính kiên định, thì cùng lúc sẽ thanh lọc được những bất thiện, tích ly công đức và được ban phước lnh, chúng ta sẽ chắc chắn được thnh công trên lộ trình gim thiểu và cuối cùng từ bỏ được tính ích k.
Để diệt trừ hon ton tính ích k, chúng ta cần dựa trên sự thực hnh về sự trao đổi giữa ta và người khác, mđó, chúng ta không chấp thủ hnh phúc của riêng mình nữa m nên nghĩ đến những người khác, về những nhu cầu và ước nguyện của h, đây chính là điều quan trng nhất. Điều duy nhất m chúng ta quan tâm chính là lợi ích của người khác. Bởi vì, nếu chúng ta cng giúp đỡ mi người thì công đức, trí tuệ và khả năng lm lợi ích cho chúng sanh cng tăng trưởng thêm, và nhữnghội để giúp đỡ trong phương php thực hnh sẽ tự nhiên hiện hữu.
    1. SỰ GIAO THOA GIỮA BẢN THÂN VÀ THA NHÂN
Sự giao thoa giữa bn thân và tha nhân khôngnghĩa là chúng ta sẽ trở thnh một người khác - điều nynghĩa là chúng ta trao đổi đối tượng m ta yêu thương từ chính bn thân mình sang người khác.
 

Để hiểu r lm thế no thực hiện được, chúng ta nên biết rằng, đối tượng m tâm chúng ta yêu thương luôn luôn thay đổi. Khi cn trẻ, đối tượng yêu thương của mình chính là những bé trai, bé gi; nhưng về sau li chuyển sang lứa tuổi thanh thiếu niên, sau nữa là tuổi trung niên, tiếp đến là tuổi gi. Hiện ti, thể chúng ta yêu thương bn thân mình như yêu thương một c thể riêng biệt no đó, nhưng sau khi ta chết thì đối tượng yêu thương của chúng ta thay đổi hon ton. Do đó, đối tượng yêu thương của chúng ta liên tục thay đổi trong suốt đời v từ đời ny sang đời khc. Khi lng yêu thương của chúng ta thay đổi một cch tự nhiên từ đối tượng ny sang đối tượng khác, thì chắc chắn rằng qua sự thực tập thiền định, chúng ta có thể thay đổi đối tượng yêu thương chính bn thân mình sang yêu thương người khác.
Do minh nên chúng ta chấp thủ bn thân mình rất nặng nề, nghĩ rằng đây là thân tôi.’ Nhn thức thân này là cái của mình, chúng ta yêu thương hết mực, cm thấy chính là thứ sở hữu quý giá nhất. Trên thực tế, thân ta phụ thuộc vào người khác; chúng ta không thể đem chúng đi cùng ta từ đời trước m ch nhận được từ cha m trong đời ny. Ngay khi tâm thức ta đi vào trong sự kết hợp từ tinh dịch của cha với trứng của m m thân thể ta pht triển dần dần thnh thân xác hiện ti. Tâm ta sau đó nhận biết thân ny và chúng ta bắt đầu yêu thương nó. ‘Mình’ và ‘người khc’ là những thuật ngữ tương đối, cng như ‘ngn núi ny’ và ‘ngn núi kia’ nhưng không giống như ‘lừa’ hay ngựa.Khi nhìn con ngựa chúng ta không thnói đây là con lừa và tương tự chúng ta không thể nói con lừa là con ngựa. Tuy nhiên, nếu khi leo núiphía Đông, chúng ta gi là ‘ngn núi ny’; nhưng khi leo núiphía Tây, chúng ta gi là ‘ngn núi kia’ nhưng nếu chúng ta leo xuống ngn núi phía Đông và leo lên ngn núi phía Tây, chúng ta sẽ cho ngn núi phía Tây là ‘ngn núi ny’ và ngn núi phía Đông là ngọn núi kia.Này’ và ‘kia’ vì vy phụ tḥc vào quan điểm của chính mình. Điều ny cng đúng trong trường hợp của bn thân và người khác. đang leo xuống ngn núi của mình cũng có thể là đang leo ngn núi của người khác, và do đó yêu thương người khác thì cng như yêu thương bn thân mình. Chúng ta có thể lm được điều nynhận thức rằng từ quan điểm của người khác m trở thnh của anh ta (hay cô ta), trong khi quan điểm của ta li trở thnh của người khác. Từ đây, chúng ta nhận thấy rằng, có thể thay đổi nhận thức cơ bn – vì
 

ch phụ thuộc vào sự chuyển hóa và nhận thức của chúng ta. Chúng ta cố gắng giữ cm nhận ny với mình, bất cứ khi gặp ai, chúng ta đều nghĩ: ‘Vị ny thật quan trng. Hnh phúc và gii thot của h cng tht quan trọng.Khi nào tư tưởng ích kkhởi lên trong tâm, chúng ta nghĩ: ‘Tính ích k là chất độc, ta không cho php tồn ti trong tâmnh.Nhờ đây, chúng ta có ththay đi đi tượng yêu thương từ ích k sang yêu thương tất cả chúng sanh. Khi chúng ta đã pht triển lng yêu thương đối với tất cả chúng sanh, nghĩa là không những ta đã loi bỏ hết dấu vết mờ nht nhất của tính tự lợi m chúng ta cn có được nhận thức về sự giao thoa giữa bn thân với người khác.
Nếu không thỏa mãn được mong cầu, chúng ta trở nên bất mãn. Chúng ta nên lập tức nhớ rằng lỗi lầm không phi do người khác hay hon cnh m chính là do tâm tnh ích k của mình, cm nhận theo bản năng, rằng: Những mong mun của mình hết sức quan trọng.Duy trì sự quan tâm đến tính ích k nguy hiểm ny một cch liên tục, chúng ta sẽ tăng cường quyết tâm để từ bỏ nó, đồng thời, thaycm thấylỗi với chính mình mỗi khi vấp phi sai lầm, chúng ta có thể sử dụng nỗi đau khổ riêng mình để tự nhắc nhở bn thân về sự đau khổ của số chúng sanh yêu quý để pht triển lng thương và từ bi đối với h. Thông thường, chúng ta pht triển tư duy về ‘ci Ta’ trênsở thân và tâm của mình, nhưng nay, chúng ta cố gắngduy về ‘ci Ta’ nhưng quan st trên thân và tâm của người khác. Cách thực hnh ny giúp chúng ta pht triển tình thương sâu sắc đối với người khác, đồng thời ch cho chúng ta thấy rằng hmột ci ngã cng được gi là Ta, và ci ngã ny cng quan trng giống như ci ngã hay ci Ta của mình vậy. Bởi vì khả năng của người m là đọc được những cm giác của đứa con, nên người m có thể hiểu được đứa trẻ cần và muốn điều gì hơn người khác. Tương tự như thế, nếu như chúng ta trở nên quen thuộc với phương php thiền qun ny thì sự thấu hiểu và lng từ bi của mình đối với tất cả chúng sanh sẽ được tăng trưởng thêm. Phương php ny đặc biệt hiệu lực hơn khi chúng ta thực hnh đối với những ai khó cm tình, như những người chúng ta không thích hoặc đối thủ của mình. Với sự ghi nhận chính mình là những người đó và thấy được hon cnh từ quan điểm của riêng h, chúng ta sẽ thấy được sự khó khăn khi chấp chặt vào thi độ sai tri của mình. Hiểu được tính tương đối của bn thân và tha nhân từ chính kinh nghiệm của mình


đồng thời học hỏi và biết được ci ‘ngã’ của mình cng như ‘người khc, chúng ta strnên khch quan và công bằng hơn đi với cnh mình, quan điểm cho rằng chúng ta chính là trung tâm của vũ trụ cng sẽ bị lay chuyển. Chúng ta sẽ trở nên thong hơn với quan điểm của người khác, khoan dung hơn, hiểu biết hơn; đồng thời chúng ta sẽ đối xử với người khác thật kính trng và lưu tâm một cch tự nhiên.
Tóm li, qua sự thực hnh về tâm, những hnh giả trong qu khứ đã đt được sự giác ngộ về tinh thần sâu sắc, bao gồm nhận thức hon ho về sự giao thoa giữa bn thân và tha nhân. Lúc sơ cơ, những hnh giả ny cng đã cho mình là nhân vật trung tâm giống như chúng ta vậy, nhưng tri qua sự kiên trì liên tục, h đã kiềm chế và loi trừ hon ton tính ích k. Nếu chúng ta ton tâm ton ý và kiên nhẫn tu tập thì không do gì m chúng ta không thể đt được thnh qu tương tự. Chúng ta không nên nghĩ là phi từ bỏ tính ích k ngay lập tức, nhưng tri qua sự kiên nhẫn thực hnh, chúng sẽ dần dần trở nên yếu đi cho đến khi biến mất hon ton./.

--------------------------------------------------------------------------------
Tham khảo
      1. In the Buddha’s Words, An Anthology of Discourses from the Pāli Canon: Edited by Bhikkhu Bodhi, Boston: Wisdom Publications, 2005.
      2. The Udāna & The Itivuttaka, translated by John D Ireland, Buddhist Publication Society, Kandy, Sri Lanka, 1997.
3.(1992), The Discourse on the Root of Existence: Bhikkhu Bodhi, The Mu- lapariyāya Sutta and its Commentaries, Kandy: Buddhist Publication Society. First published in 1992.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây